Nguồn gốc chế độ ruộng công của người Thái ở Sơn La (trước năm 1887)

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
Khoa học Xã hội  
Trần Thị Phượng (2021)  
(23): 94 - 99  
NGUỒN GỐC CHẾ ĐỘ RUỘNG CÔNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA  
(TRƯỚC NĂM 1887)  
Trần Thị Phượng  
Trường Đại học Tây Bắc  
Tóm tắt: Về cơ bản đặc trưng chung của các nước phương Đông là sự tồn tại phổ biến của chế độ sở hữu ruộng  
công. Cho đến nay, các quan điểm khá thống nhất với nhau khi cho rằng ruộng đất ở Tây Bắc nói chung, Sơn La  
nói riêng trước đây hầu hết là sở hữu công. Người Thái hay các tộc người khác trong khu vực này chấp nhận sự  
tồn tại của chế độ ruộng công do một bộ phận quý tộc thống trị phân chia cho nhân dân trở thành luật lệ, được ghi  
chép trong các bản luật tục của người Thái ở Mai Sơn, Thuận Châu (Sơn La). Để lý giải được những vấn đề cốt  
yếu, bài báo tập trung làm rõ nguồn gốc, sự xuất hiện, phát triển của chế độ ruộng công trong xã hội người Thái  
ở Sơn La trước khi thực dân Pháp xâm chiếm năm 1887.  
Từ khóa: nguồn gốc, ruộng công, người Thái, Sơn La.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tây Bắc nói chung, ở tỉnh Sơn La nói riêng thì  
vấn đề ruộng đất công luôn được chú trọng.  
Nguồn tài liệu ghi chép về ruộng công của  
người Thái ở Sơn La trước khi thực dân Pháp  
Liên quan trực tiếp đến vấn đề ruộng đất của  
xâm lược chủ yếu dựa trên các nguồn tài liệu người Thái phải kể đến một số công trình tiêu  
tiếng Thái cổ và tư liệu điền dã của các nhà dân biểu: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm  
tộc học. Những cuốn sử thi của người Thái như Trọng [10], Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc  
Quam tô mương (Chuyện kể bản mường) của các Thái của Đặng Nghiêm Vạn [12]… Bên cạnh  
châu: Mường Muổi (Thuận Châu), Mường La; đó, đã có một số bài viết liên quan đến vấn đề  
Piết mương hay Pét mương (sự tích bản mường) ruộng đất của người Thái ở Sơn La như Cầm  
của châu Mộc, tập hợp những chuyện nhỏ, chuyện Trọng, Hữu Ưng, Góp phần tìm hiểu chế độ  
vừa của bản mường… Các sách ghi chép lai lịch ruộng công và hình thái xã hội của người Thái  
các dòng họ chúa đất ở từng địa phương như Lai Tây Bắc trước đây [9]; Đặng Nghiêm Vạn, Về  
lịch dòng họ Bạc Cầm ở Mường Muổi (Thuận vai trò của chúa đất trong xã hội tồn tại chế độ  
Châu), Danh sách tổ tiên họ Lò Cầm ở Mai Sơn… thổ ty, lang đạo, phìa tạo, chúa đất (cuối thế  
Đặc biệt, một nguồn tài liệu quan trọng là luật tục kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) [13]… Tất cả các tác  
của người Thái ở các địa phương như Tục lệ người giả đều đồng nhất cho rằng ruộng đất của người  
Thái Đen ở Thuận Châu, Mai Sơn… Bên cạnh đó Thái ở Tây Bắc trước đây đều là chế độ ruộng  
là kho tàng ca dao tục ngữ Thái được chép lại. Hầu đất công và phân tích, làm rõ cách thức phân  
hết những tư liệu thành văn đó đã được dịch ra chia, phân loại của loại ruộng đất công này.  
tiếng Việt. Ngoài ra, còn có các tư liệu vật chất  
Gần đây nhất, một số tác giả tiếp tục các  
cũng phản ánh phần nào hoạt động kinh tế nông  
công trình nghiên cứu về ruộng đất của người  
nghiệp và đời sống kinh tế, chính trị của người  
Thái trong đó tác giả Hà Văn Thu với bài viết  
Thái ở Sơn La như bia đá, đồ gốm sứ, các vật dụng  
“Vài nét về ruộng đất dân tộc Thái ở Sơn La,  
của các gia đình quý tộc Thái... Trong các nguồn  
Tây Bắc” [8] đã nhắc tới loại ruộng toàn mường  
tư liệu này đều đồng nhất quan điểm ghi chép về  
cũng như các loại hình canh tác chủ yếu của đồng  
một loại hình ruộng đất chung của người Thái với  
bào Thái nơi đây. Tác giả Trần Thị Phượng với  
tên gọi ruộng đẳm, ruộng toàn mường.  
bài “Các hình thức sở hữu ruộng đất của người  
Bên cạnh đó, từ trước đến nay khi nhắc tới Thái ở Sơn La trước năm 1930 (qua nghiên cứu  
vấn đề ruộng đất cổ truyền của người Thái ở luật lệ của người Thái Đen ở Thuận Châu”) [3],  
94  
khẳng định người Thái chỉ nhắc tới cách phân  
chia một loại hình ruộng đất duy nhất là ruộng  
toàn mường. Đặc biệt, luận án của tác giả Tống  
Thanh Bình (2017), Kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La  
từ năm 1895 đến năm 1945 [1] đã đề cập tới loại  
ruộng toàn mường khi nghiên cứu về tổ chức xã  
hội người Thái, về các loại ruộng người Thái,  
luật tục của người Thái…  
nộp thuế cho Chúa. Sau đó Chúa tiếp tục tiến  
đến Mường Quài, Mường Ẳng, Mường Thanh  
(Điện Biên), cho quân lính phá rừng làm ruộng  
định cư ở đây. Đến giữa thế kỉ XI, tạo Lò Lẹt  
hiệu là Ngu Hấu bắt đầu xây dựng bản mường  
ở Mường Muổi (Thuận Châu). Mường Muổi  
(Thuận Châu) trở thành trung tâm của người  
Thái tại Sơn La. Con của Ngu Hấu là Nho Cằm  
lên làm chúa Mường Sang (Mộc Châu). Còn Ta  
Cằm, con trưởng của Ngu Hấu tiếp tục xây dựng  
trung tâm Mường Muổi, tiến hành phân chia  
bản mường cho các con trai và họ hàng mình đi  
chiếm đóng, cai quản các mường: Mường Lằm,  
Mường La, Mường Mụa... Về sau dưới thời  
chúa Ta Ngần, Mường Muổi trở thành trung tâm  
hùng mạnh (dưới thời vua Lê Thái Tông) bắt  
đầu mở rộng đất đai. Do sự tin cẩn của vua Lào  
(Phạ Chẩu) được vua Lê tín nhiệm, vua Lê Thái  
Tông đã ban sắc phong cho Ta Ngần làm chúa  
cả một vùng rộng lớn, các chúa đất các mường  
phải xin làm đất chư hầu của Mường Muổi [5,  
tr.25]. Sau thời Ta Ngần, trên vùng đất cư trú  
của người Thái đã dần dần phân chia thành 16  
đơn vị châu mường [10, tr.313-337]. Đây là sự  
phân chia lãnh địa của các dòng quý tộc Thái,  
hoàn toàn không có ý nghĩa phân chia thành  
các tộc người riêng biệt. Sau đó, các chúa tiếp  
theo thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, khiến cho  
trung tâm Mường Muổi có nhiều biến động đặc  
biệt về phạm vi cai quản của mường. Cuối cùng,  
các vùng người Thái ở Sơn La cũng không nằm  
ngoài xu thế tất yếu bị xâm lược.  
Sự tồn tại phổ biến của một loại ruộng công  
trong xã hội người Thái ở Tây Bắc đã được  
khẳng định trong các công trình nêu trên. Đây là  
cơ sở gợi mở cho tác giả những hướng nghiên  
cứu mới, đặc biệt là làm sáng tỏ vấn đề nguồn  
gốc chế độ ruộng công của người Thái ở Sơn La  
trước khi thực dân Pháp xâm chiếm năm 1887.  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương  
pháp nghiên cứu đặc trưng của chuyên ngành  
lịch sử như: phương pháp lịch sử, phương pháp  
logic, phương pháp thống kê, phân tích, tổng  
hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu. Đặc  
biệt, tác giả đã điền dã, thu thập tư liệu tại nhiều  
địa phương trong tỉnh, cũng như các nguồn lưu  
trữ ở thư viện tỉnh Sơn La, thư viện Quốc gia…  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Quá trình thiên di của người Thái vào Tây  
Bắc, Sơn La  
Trong thời gian từ thế kỷ IX đến XIII, người  
Thái ở cao nguyên Thanh Tạng (Tây Tạng -  
Trung Quốc) vì nhiều lý do khác nhau đã tìm  
đường thiên di xuống phía Nam vào vùng Tây  
Bắc. Theo Quam tô mương Mường La kể về quá  
trình Lạng Chượng và một bộ phận người Thái  
lên miền Sơn La, Lai Châu, địa điểm đầu tiên  
Lạng Chượng đến chiếm cứ là Mường La (Sơn  
La). Khi đến đây đã xảy ra mâu thuẫn với người  
Xá ở Mường La: “Ở đây Chúa đã phải đánh  
nhau với người Xá do tướng Khun Quàng cầm  
đầu. Cuối cùng Chúa đã thắng, nhưng đất đai  
Mường La quá hẹp, bản mường lại nhỏ bé nên  
không thể chiếm được” [5, tr.10]. Vì thế, Lạng  
Chượng kéo quân về Mường Muổi (Thuận  
Ở Sơn La, dân tộc Thái về cơ bản có hai  
ngành: Thái Trắng và Thái Đen. Ngành Thái  
Trắng có thể chia làm hai nhóm: Nhóm thứ nhất  
cư trú ở phía bắc thuộc Ngọc Chiến (Mường  
La). Nhóm thứ hai phân bố ở phía nam thuộc  
các huyện Mộc Châu, Phù Yên.  
Ngành Thái Đen có những đặc trưng của  
một nhóm địa phương tương đối thuần nhất. Cư  
dân Thái Đen phân bố ở các huyện Mường La,  
Thuận Châu, Mai Sơn. Một nhóm Thái Đen có  
hơi khác về tập quán và thổ ngữ cư trú ở huyện  
Châu), bắt thủ lĩnh người Xá là Ăm poi phải Yên Châu nên thường gọi là Thái Yên Châu.  
95  
Khái quát về ruộng đất của người Thái ở  
Sơn La trước năm 1887  
Ruộng toàn mường được tạo, phìa, chẩu  
mường (là người đứng đầu cai quản toàn bộ  
một mường) thông qua tổ chức bô lão quản lý  
rất chặt. Từ sự quản lý đó mà xã hội mới nảy  
sinh chế độ phân bổ ruộng gọi là “tánh ná”  
(sắp đặt ruộng) ở trong các châu mường [10,  
tr.184]. Ruộng toàn mường được phân chia cho  
hai bộ phận: thứ nhất: ruộng của quý tộc và  
chức dịch bao gồm người đứng đầu mường,  
các chức dịch trong bản mường; thứ hai: ruộng  
của nông dân bao gồm nông dân gánh vác và  
nông dân cuông, nhốc, pụa pái [3, tr.45]. Từ sự  
phân chia ruộng đất cho các bộ phận khác nhau  
trong xã hội dẫn tới sự phân hóa xã hội ngày  
càng sâu sắc trong cơ cấu xã hội của người  
Thái ở Sơn La cho đến trước khi thực dân Pháp  
xâm lược.  
Trong hầu khắp các châu mường ở miền Tây  
Bắc trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, toàn  
bộ ruộng có thể chia làm hai loại: Ruộng loại một  
là ruộng vỡ hoang (“na tí”). Đây là loại ruộng  
của những người mới vỡ hoang, chủ nhân của nó  
còn đương chiếm hữu chưa đến hạn theo lệ sáp  
nhập vào ruộng loại hai (ruộng toàn mường). Loại  
ruộng này nói chung nhỏ hẹp, nằm rải rác ở vùng  
hẻo lánh, trước sau rồi cũng thành ruộng toàn  
mường. Loại ruộng hai là, ruộng toàn mường (“ná  
háng mướng”). Đây là loại ruộng công chiếm toàn  
bộ ruộng ở trong các châu mường [10, tr.172].  
Sự tồn tại của chế độ ruộng công được luật  
tục của người Thái công nhận. Trong toàn bộ  
nội dung hai bản luật tục “Luật lệ người Thái  
Đen ở Thuận Châu” và “Luật lệ bản mường ở  
Mai Sơn” không đề cập tới loại ruộng tư nhân  
nào mà chỉ đề cập tới việc phân chia ruộng đất  
công hay người Thái gọi là ruộng toàn mường.  
Giống như nhận định của Cầm Trọng trong  
Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam “Cho đến trước  
năm 1935 người Thái chưa có khái niệm tư hữu  
ruộng đất” [10, tr.182-183].  
Ruộng toàn mường không theo công thức  
chia lẻ cho các gia đình nông dân mà theo công  
lao động đóng góp vào việc chung của mỗi gia  
đình. Việc chung ấy cũng được biểu thị bằng  
thuật ngữ việc mường (vịa háng mướng). Các  
tạo sẽ căn cứ vào số công lao động cần thiết đề  
ra cho các bản. Các bản sẽ phân bổ theo khả  
năng lao động của từng đơn vị thành viên của  
mình mà phân suất ruộng cần thiết cho họ.  
Trên những thửa ruộng toàn mường, “chủ”  
của nó chỉ có quyền sử dụng chứ không có  
quyền sở hữu. “Ruộng đất của bản dùng để  
phân cho từng hộ gia đình trong bản, người  
nhận ruộng được sử dụng từ đời này qua đời  
khác những vẫn là ruộng đất công, người dân  
cho đến người đứng đầu bản mường chỉ được  
quyền chiếm hữu chứ không có quyền sở hữu,  
không được phép mua bán” [1, tr.29]. Tập quán  
pháp cho phép chủ ruộng kéo dài thời gian sử  
dụng ruộng đồng thời thừa nhận quyền chủ  
ruộng sử dụng sản phẩm (ngoài nghĩa vụ đóng  
góp cho mường) lấy từ ruộng mình cày cấy. Như  
vậy, chủ ruộng gần như hoàn toàn tư hữu về sản  
phẩm làm ra và những tư liệu để sản xuất ra sản  
phẩm, chứ không được quyền tư hữu ruộng đất.  
Từ thực tế đó đã Cầm Trọng đã rút ra một công  
thức về ruộng của người Thái là: công hóa tư,  
và tư nằm trong giới hạn của công [10, tr.173].  
Nguồn gốc chế độ ruộng công của người Thái  
Chế độ ruộng công là hình thái cơ bản trong  
chế độ ruộng đất của người Thái ở Sơn La trước  
khi thực dân Pháp xâm lược thậm chí kéo dài  
đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Một  
trong những nguyên nhân của sự tồn tại lâu dài,  
dai dẳng đó bắt nguồn từ quá trình hoàn thiện  
cơ sở xã hội của người Thái hay cụ thể hơn là  
sự thay thế, phát triển của các tổ chức xã hội từ  
đẳm, sang bản, mường gắn liền với nó là quá  
trình thay thế từ hình thức ruộng huyết tộc sang  
hình thức ruộng toàn mường.  
Giai đoạn 1: Ruộng huyết tộc  
Ở người Thái hình thức sở hữu cổ xưa nhất  
mà hiện nay trong các thư tịch cổ chữ Thái hoặc  
ở dân gian truyền miệng, khiến chúng ta có thể  
nhận thức được hình thức sở hữu ruộng chung  
96  
đầu tiên là ná đẳm (ruộng của đẳm hay ruộng  
huyết tộc) [11, tr.267].  
Người Thái thường cư trú ở chân núi, ven  
sông, ven suối bởi họ dựa vào tự nhiên và làm  
ruộng nước để sinh sống, nên ở các vùng thung  
lũng, lòng chảo trù phú, kinh tế nông nghiệp  
dần dần được hình thành. Đến lúc này, do dân  
số tăng lên, diện tích canh tác ngày càng bị thu  
hẹp, dẫn tới yêu cầu phải mở rộng diện tích canh  
tác làm xuất hiện những cánh đồng. Về sau, do  
yêu cầu phải tổ chức và quản lý sản xuất trên  
một quy mô tương đối lớn như khai phá ruộng,  
xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi…,  
một hình thái xã hội và một quan hệ ruộng đất  
mới đã ra đời trong xã hội người Thái đó là sự  
xuất hiện của bản. Từ đó bản gắn chặt với ruộng  
và được mang tên bản ná. Ở người Thái, bước  
ngoặt chuyển từ hình thái quan hệ huyết thống  
đẳm sang quan hệ lãnh thổ, trong đó cơ cấu cư  
dân thành khối cộng đồng bản được xem như  
dấu mốc quan trọng.  
Ruộng huyết tộc là tài sản chung của một tổ  
chức xã hội mà người Thái gọi là “đẳm”. “Đẳm”  
là một cộng đồng người cùng huyết thống tính  
theo cha. Cộng đồng người đó cư trú trong một  
ngôi nhà lớn từ 15 – 20 gian gọi là nhà “đẳm”  
(hướn đẳm). Ngôi nhà đó, tập trung đến bốn,  
năm thế hệ với hàng chục cặp vợ chồng của các  
thế hệ gồm hàng trăm nhân khẩu. Đứng đầu  
“đẳm” là một người đàn ông được gọi là “phủ  
cốc đẳm” (người đứng đầu đẳm) hoặc “trưởng  
cốc” - người có toàn quyền chi phối toàn bộ  
công việc của “đẳm”. Trên cơ sở quyền sở hữu  
chung về ruộng đất và những công cụ sản xuất  
chủ yếu (trâu bò, cày…) toàn “đẳm” cùng sản  
xuất, sở hữu chung sản phẩm để tạo ra kho thóc  
chung gọi là “día khẩu đẳm”. Rõ ràng đây là  
một hình thức của một đại gia đình phụ hệ, tồn  
tại trên cơ sở của tổ chức xã hội người Thái.  
Ngày nay trong nhiều vùng người Thái Tây  
Bắc, đẳm đã trở thành khái niệm để chỉ tổ tiên  
xa xưa tính theo cha và ruộng của những người  
chủ xa xưa đó.  
Ở đâu có hoạt động sản xuất nông nghiệp thì  
thủy lợi luôn là yếu tố quan trọng. Hay nói cách  
khác thủy lợi là yếu tố cơ bản để hình thành đơn  
vị cư trú là bản. Giờ đây, các bản lại nằm trong  
một mạng lưới sông suối, trên đó có các công  
trình tưới nước, có cánh đồng được coi là của  
chung. Các công trình thủy lợi của người Thái  
được cô lại trong bốn thuật ngữ: mương, phai,  
lái, lín. Người ta thực hiện hoàn chỉnh hệ thống  
tưới tiêu này bằng lao động hiệp lực của tất cả  
các bản trong toàn bộ lòng chảo. Và chính sự  
liên hiệp bản như thế đã xuất hiện một đơn vị  
mới là mường. Mường cổ Thái gắn một cách  
hữu cơ với lưu vực sông suối. Bởi thế, ở buổi  
đầu tiên, tên của mường bao giờ cũng đi với  
từ nặm luông (suối, sông lớn). Điều đặc biệt  
quan trọng, đến lúc này quyền sở hữu ruộng  
đất của các đẳm đã được hòa tan vào quyền sở  
hữu chung vùng đất bản, vùng đất mường. Hình  
thức ruộng toàn mường xuất hiện. Như vậy, nếu  
như công xã huyết thống là nội dung của cơ cấu  
đẳm thì công xã ruộng đất là nội dung cơ bản  
nhất của cơ cấu bản mường [11, tr.291].  
Như vậy, ngay từ thời công xã thị tộc,  
khi con người còn sống ràng buộc nhau trong  
quan hệ huyết thống, người Thái đã lấy ruộng  
làm gốc. Và dĩ nhiên ruộng đẳm là ruộng chung  
vì lúc đó chưa thể có được phương thức sản xuất  
theo gia đình riêng biệt. Quyền sở hữu công  
cộng về ruộng đất dựa trên quan hệ huyết thống  
(ná đẳm và đẳm) là một trong những cơ sở xã  
hội của quyền sở hữu công cộng về ruộng đất  
sau này của người Thái ở Tây Bắc nói chung,  
Sơn La nói riêng.  
Giai đoạn 2: Ruộng toàn mường  
Trong những thế kỷ XI – XV, do yêu cầu của  
lực lượng sản xuất, nhiều ngành người Thái đã  
từ miền Bắc thiên di vào Tây Bắc để khai phá  
ruộng đất. Có thể đến lúc này, những đại gia  
đình phụ hệ và ruộng huyết tộc mới bị phá vỡ  
nhượng chỗ cho một hình thái xã hội cũng như  
quan hệ ruộng đất mới cao hơn ra đời.  
Những cuộc chinh chiến của người Thái với  
các tộc người khác đặc biệt là người Xá như  
97  
trong Quam tô mương thường xuyên ghi chép Thái dẫn đến sự xuất hiện bản, mường với đặc  
trưng của chế độ ruộng toàn mường. Về cơ bản,  
ruộng toàn mường gồm hai loại: một là ruộng  
của các tộc người bản địa, hai là ruộng của  
người Thái khai phá ở giai đoạn đầu và các giai  
đoạn tiếp theo.  
lại (ở phần quá trình thiên di của người Thái vào  
Tây Bắc, Sơn La) đã tạo nên những khu vực đất  
đai mới của họ hay chính là sự thiết lập những  
bản, mường. Sau khi các bản, mường Thái được  
hình thành sẽ do các Chúa (chỉ chúa đất, người  
Thái gọi là Chẩu, hay Pú Chẩu) cai quản. Chúa  
cử con cháu đi đến các vùng đất khác nhau để  
lập bản, dựng mường và tiếp quản các vùng đất  
mới. Từ đó, toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở  
hữu chung của bản mường và người đứng đầu  
là Chúa. Tất cả ruộng, dù xuất hiện từ nguồn  
nào (khai phá tập thể thời kì chinh chiến, giành  
giật được của cư dân bản địa, khai phá thêm…)  
của bất kỳ ai sau này đều là ruộng của mường  
(ruộng công).  
Thứ hai, quyền sở hữu công cộng về ruộng  
đất hay chế độ ruộng công là hình thái cơ bản  
trong chế độ ruộng đất của người Thái Tây Bắc  
nói chung, Sơn La nói riêng trước đây. Kể cả  
người nông dân hay quý tộc thống trị đều không  
được phép biến ruộng công thành ruộng tư với  
danh nghĩa ruộng toàn mường.  
Thứ ba, trên cơ sở quản lý ruộng đất công  
hay ruộng toàn mường (vùng đất cư trú, sản  
xuất chung của người Thái) đã dẫn tới sự ra đời  
của một bộ máy quản lý bản, mường. Bộ máy  
quản lý này bắt nguồn từ yêu cầu tổ chức và  
quản lý xã hội trong điều kiện lực lượng sản  
xuất đã phát triển trên một mức độ nhất định và  
sự tiến hóa của nó thành bộ máy nhà nước, công  
cụ bóc lột của tầng lớp quý tộc thống trị.  
Đại bộ phận ruộng toàn mường là những  
ruộng khai phá trong các đợt di dân và tiếp tục  
khai phá về sau. Công việc khai phá đó có thể  
diễn ra trên hai hình thức: Một là khai phá có tổ  
chức và bắt buộc của thời kì chinh chiến và di  
dân, ban đầu phải tiến hành theo thể thức tập thể  
trên một quy mô tương đối lớn ví dụ như quang  
cảnh vỡ hoang của cánh đồng Mường Thanh,  
Mường Lò. Hai là dưới quyền quản lí của “bô  
lão” đứng đầu là “tạo”, các cộng đồng người có  
quan hệ huyết thống dần dần di cư tới vùng đất  
mới để khai phá đất làm ruộng.  
Thứ tư, thông qua ruộng toàn mường, bộ  
máy quản lý bản mường bao gồm quý tộc, chức  
dịch tiến hành bóc lột toàn bộ nông dân trong xã  
hội từ nông dân tự do đến nông dân lệ thuộc dẫn  
tới sự xuất hiện của hình thức bóc lột nông dân  
phổ biến với danh nghĩa việc mường.  
Tóm lại, ruộng toàn mường của người Thái  
ở Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng là sự kết  
hợp giữa hai loại ruộng: ruộng của những nhóm  
dân tộc trong đó có cả những nhóm Thái đã khai  
phá trước các thế kỷ thiên di của các ngành Thái  
tới Tây Bắc và ruộng của người Thái và các tộc  
người khác khai phá từ ngày thiên di đến khu  
vực này và kéo dài cho tới sau này [10, tr.179].  
Sự kết hợp của hai loại ruộng này rõ ràng gắn  
liền với quá trình lập bản, dựng mường của  
người Thái.  
Thứ năm, hiểu được nguồn gốc của ruộng  
công chính là góp phần hiểu thêm về bản  
mường và thiết chế xã hội của dân tộc Thái  
trước năm 1945.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Tống Thanh Bình (2017), Kinh tế, xã hội  
tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945,  
Luận án Tiến sĩ sử học, Viện Hàn lâm  
KHXH Việt Nam.  
KẾT LUẬN  
[2]. Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968),  
Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày,  
Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học  
Xã hội, Hà Nội.  
Thứ nhất, nguồn gốc chế độ ruộng công của  
người Thái ở Sơn La là chế độ ruộng huyết tộc,  
sau đó cùng với sự phát triển của xã hội người  
98  
[3]. Trần Thị Phượng (2019), Các hình thức  
sở hữu ruộng đất của người Thái ở Sơn  
La trước năm 1930 (qua nghiên cứu luật  
lệ của người Thái Đen ở Thuận Châu),  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học sư  
phạm Hà Nội, tr.43-51.  
trong Văn hóa và lịch sử người Thái ở  
Việt Nam, Chương trình Thái học Việt  
Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội  
[9]. Cầm Trọng, Hữu Ưng (1973), “Góp phần  
tìm hiểu chế độ ruộng công và hình thái  
xã hội của người Thái Tây Bắc trước  
đây”, Nghiên cứu lịch sử, (151), tr 50-57.  
[4]. Quam tô mương Mường Muổi, Mường  
La, Mường Mụa, Lò Văn Lả, Xỏn Hỗm  
dịch, Tài liệu lưu tại Bảo tàng Sơn La.  
[10]. Cầm Trọng (1978), Người Thái ở Tây  
Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà  
Nội.  
[5]. Quắm tố mướn (kể chuyện bản mường)  
(1960), Cầm Trọng và Cầm Quynh dịch,  
Nxb Sử học, Hà Nội.  
[11]. Cầm Trọng (1987), Mấy vấn đề cơ bản về  
lịch sử kinh tế xã hội cổ đại người Thái  
Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội,  
Hà Nội.  
[6]. Ngô Đức Thịnh (1999), Luật tục Thái ở  
Việt Nam (tập quán pháp), Nxb Văn hóa  
Dân tộc, Hà Nội.  
[12]. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) (1977), Tư  
liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Nxb  
Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[7]. Nguyễn Duy Thiệu (2003), Thể chế xã  
hội Mường truyền thống: nghiên cứu so  
sánh giữa Mường của người Mường và  
Mường của người Thái Việt Nam, Nghiên  
cứu Đông Nam Á, số 2 (59), tr.16 – 29.  
[13]. Đặng Nghiêm Vạn (1987), Về vai trò của  
chúa đất trong xã hội tồn tại chế độ thổ ty,  
lang đạo, phìa tạo, chúa đất (cuối thế kỷ  
XIX, đầu thế kỷ XX), Nghiên cứu lịch sử,  
số 5+6, tr.29-34.  
[8]. Hà Văn Thu (1998), Vài nét về ruộng đất  
dân tộc Thái ở Sơn La, Tây Bắc, bài viết  
THE ORIGIN OF PUBLIC FIELD OWNERSHIP REGIME OF THE  
THAI PEOPLE IN SON LA PROVINCE (BEFORE 1887)  
Tran Thi Phuong  
Tay Bac University  
Abstract: Basically, the common feature of Eastern countries is the widespread existence of  
public ownership of land. Up to now, the views are quite consistent that land in the Northwest in  
general and Son La in particular was previously mostly owned by the public. The Thai or other  
ethnic groups in this region accepted the existence of a system of public lands, divided by a ruling  
aristocracy to the people, as the law, recorded in the customary laws of the Thai people. in Mai  
Son, Thuan Chau (Son La). To explain the key issues, the article focuses on clarifying the origin,  
appearance and development of the public field regime in Thai society in Son La before the French  
colonialists invaded in 1887.  
Keywords: origin, public land, Thai ethinic, Son La.  
____________________________________________  
Ngày nhận bài: 23/7/2020. Ngày nhận đăng: 28/9/2020  
Liên hệ: [email protected]  
99  
pdf 6 trang baolam 21420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nguồn gốc chế độ ruộng công của người Thái ở Sơn La (trước năm 1887)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnguon_goc_che_do_ruong_cong_cua_nguoi_thai_o_son_la_truoc_na.pdf