Thích ứng với biến đổi khí hậu trong một số hoạt động sinh kế phi nông nghiệp của người Thái và người Hmông ở tỉnh Sơn La
Thích ứng với biến đổi khí hậu trong
một số hoạt động sinh kế phi nông nghiệp
của người Thái và người Hmông ở tỉnh Sơn La1
Phạm Thị Cẩm Vân(*)
Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu cách thức mà người Thái và người Hmông ở xã Quang Huy,
huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La thích ứng với sự thay đổi bất thường của thời tiết trong một
số hoạt động sinh kế phi nông nghiệp; chỉ ra những thuận lợi, rào cản đối với họ trong
quá trình thích ứng đó.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, Dân tộc Thái, Dân tộc Hmông, Sinh kế, Tỉnh Sơn La
Abstract: The paper explores how Thai and Hmong ethnic groups in Quang Huy commune,
Phu Yen district, Son La province adapt to unusual weather changes in several off-farm
activities. Against this background, it indicates relevant advantages and disadvantage
related to adaptation process to local residents.
Keywords: Climate Change, Thai People, Hmong People, Livelihood, Son La Province
Mở đầu 12
nhìn dưới góc độ kỹ thuật (Viện Khí
Việt Nam được đánh giá là một trong tượng thủy văn và Môi trường, 2010; Mai
15 quốc gia đã và đang chịu tác động Trọng Nhuận, 2004...); ii) nghiên cứu
lớn nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) đánh giá tác động của BĐKH đến một số
(UNFCCC, 2007). BĐKH khiến lũ quét lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp năng
và sạt lở đất, hạn hán có xu thế tăng lên ở lượng sức khoẻ... (Viện Môi trường nông
các vùng núi. Các nghiên cứu về BĐKH nghiệp, 2012; FAO, 2012...); iii) nghiên
ở Việt Nam nói chung và khu vực miền cứu BĐKH trong mối quan hệ với cộng
núi nói riêng đã thực hiện ở nhiều chiều đồng (CECI, 2005; CERED, 2008, Trần
cạnh: i) nghiên cứu những kịch bản về Hồng Hạnh, 2017; Phạm Thị Cẩm Vân,
BĐKH và ứng phó với BĐKH chủ yếu 2018...). Hướng nghiên cứu tìm hiểu
những ứng phó với BĐKH dưới góc nhìn
1 Bài viết là một phần kết quả của Đề tài cấp Bộ
“Ứng phó với biến đổi khí hậu của người Hmông
và người Thái ở tỉnh Sơn La” do TS. Nguyễn Thẩm
Thu Hà và TS. Phạm Thị Cẩm Vân đồng chủ nhiệm,
Viện Dân tộc học chủ trì, thực hiện năm 2019-2020.
(*) TS. Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã
từ cộng đồng nhằm tìm ra biện pháp thích
ứng ngắn hạn của người dân đang được
chú ý.
Quang Huy là xã nằm ở phía Tây Bắc
của huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khu vực
này mang những nét đặc trưng của tỉnh Sơn
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
36
La: vừa có núi cao, vừa có lòng chảo, thung người Hmông và người Thái trong ứng
lũng giữa núi. Địa hình núi cao 1.000 m - phó với BĐKH.
Phương pháp nghiên cứu chính được sử
dụng là điền dã dân tộc học, tháng 10/2019
và tháng 6/2020; tổ chức phỏng vấn sâu
(PVS), thảo luận nhóm 20 cuộc với đại diện
là các nhóm có tham gia hoạt động sinh kế
phi nông nghiệp, các nhà quản lý tại địa
phương. Phân tích, so sánh cách thức ứng
phó của hai cộng đồng người Thái và người
Hmông cũng được thực hiện trong cả quá
trình nghiên cứu.
3.000 m so với mực nước biển, là nơi sinh
sống của cộng đồng người Hmông; địa hình
lòng chảo, thung lũng giữa núi nằm ở độ
cao 169 m so với mực nước biển, là nơi tập
trung người Thái, người Mường sinh sống1
(UBND tỉnh Sơn La, 2019). Trong khoảng
10 năm trở lại đây, thời tiết mưa nắng, băng
tuyết bất thường, nhiệt độ tăng cao, đã tác
động đến đời sống của cộng đồng cư dân
địa phương nơi đây.
2. Biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu
Xã Quang Huy nói riêng và huyện Phù
Yên nói chung nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa với 2 mùa trong năm:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa
khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Mùa
khô thường xuất hiện gió tây khô nóng.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm
là 20,9oC, nhiệt độ tối cao trung bình là
27,5oC, tối thấp trung bình 16,9oC, nhiệt
độ tối cao tuyệt đối 39,8oC, nhiệt độ tối
thấp tuyệt đối -0,5oC. Độ ẩm không khí
trung bình năm 80%, lượng mưa trung bình
1.500 mm - 1.600 mm/năm (UBND tỉnh
Sơn La, 2018). Trong những năm qua, xuất
hiện những biểu hiện bất thường của thời
tiết ở nơi đây như:
Về nhiệt độ: Từ năm 2007-2017, theo
số liệu của trạm đo ở huyện Phù Yên, nhiệt
độ trung bình trong mùa đông ở đây tăng
0,7-1,10C, mùa hè tăng khoảng 0,50C. Tần
suất xuất hiện nhiệt độ cao từ 390C đến
trên 400C là 14 lần/10 năm, có lúc nhiệt độ
lên tới 40,30C (Trạm khí tượng thủy văn
huyện Phù Yên, 2007-2017). Tuy nhiên,
có những năm mùa đông lại xuất hiện
băng tuyết.
Nhằm cung cấp thêm tư liệu về tác
động của BĐKH tới một số hoạt động sinh
kế phi nông nghiệp của cộng đồng người
Hmông và người Thái ở xã Quang Huy,
bài viết tập trung nghiên cứu tại bản Mo
Nghè 2 và bản Suối Ó2 với các nội dung
sau: (i) Xác định xu thế thay đổi của thời
tiết; (ii) Cách thức ứng phó của người dân
trước sự thay đổi của thời tiết trong một
số hoạt động sinh kế phi nông nghiệp; (iii)
Phân tích những yếu tố khách quan, chủ
quan tạo nên thuận lợi và rào cản đối với
1 Xã Quang Huy có tổng diện tích tự nhiên là 4.578
ha, với 22 bản. Về cơ cấu dân cư, toàn xã có 1.877
hộ với 8.230 nhân khẩu, trong đó người Thái chiếm
79,12%, người Hmông chiếm 11,88%, người Mường
chiếm 7,62%, người Kinh chiếm 1,38%. Về cơ cấu
kinh tế của xã, nông nghiệp chiếm 60%, xây dựng
20%, thương mại dịch vụ 20%. Thu nhập bình quân
đầu người đạt 33,85 triệu đồng/người/năm. Toàn xã
có 204 hộ nghèo, chiếm 11,02% tổng số hộ (UBND
xã Quang Huy, 2019a).
2 Bản Mo Nghè 2 cách trung tâm xã Quang Huy 3
km, có 209 hộ người Thái với 860 khẩu. Tại đây,
người dân phát triển trồng lúa, cây ăn quả có múi
và kinh doanh buôn bán nhỏ dọc tỉnh lộ. Bản Suối
Ó cách trung tâm xã Quang Huy 7 km với 100 hộ,
632 khẩu đều là người Hmông (UBND xã Quang
Huy, 2019a). Sinh kế chính của người dân Suối Ó là
nông nghiệp và lâm nghiệp, làm thuê mới xuất hiện
5 năm gần đây.
Người dân tại địa bàn nghiên cứu cũng
cảm nhận được nhiệt độ ở huyện Phù Yên
Thích ứng với…
37
3. Tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu
trong một số hoạt động sinh kế phi nông
nghiệp của người Thái và người Hmông
Hoạt động sinh kế phi nông nghiệp của
người Thái tại bản Mo Nghè 2 khá đa dạng,
bao gồm: viên chức nhà nước (29 hộ); kinh
doanh buôn bán nhỏ lẻ dọc tỉnh lộ (25 hộ);
nghề thủ công truyền thống (13 hộ), làm
thuê/công nhân trong và ngoài tỉnh (trên
100 hộ) (UBND xã Quang Huy, 2019a).
Trong khi đó, hoạt động này ở người
Hmông chủ yếu là đi làm thuê. Vậy, những
hoạt động nào sẽ chịu tác động từ sự thay
đổi bất thường của thời tiết nơi đây? Theo
kết quả khảo sát thực địa của Đề tài, hai
ngành nghề chịu tác động nhiều hơn cả tại
địa bàn nghiên cứu là nghề thủ công truyền
thống và hoạt động đi làm thuê.
những năm gần đây có xu hướng tăng lên.
Các cây trồng ưa thời tiết mát (cây táo)
đã không còn đậu quả tại vùng đất này.
Ngược lại, những loại hoa quả nhiệt đới
như mít thái, cam vinh, bơ, quýt đường lại
cho sai quả sau 2-3 năm ươm trồng. Thời
tiết năm 2020 diễn biến hết sức thất thường
và khó dự đoán. Mọi năm tầm tháng 4 có
gió Lào, tháng 3 có 3 ngày gió Lào, tháng
4 có 4 ngày, năm nay cuối tháng 5 chưa
thấy gió Lào, chỉ thấy nắng gắt. Năm nay
mưa quá nhiều, đầu năm mưa nhiều hơn
so với mọi năm, tháng 2, 3 đã có những
trận mưa lớn kéo dài cả ngày (PVS, nữ,
48 tuổi, bán thuốc thú y, bản Mo Nghè 2).
Kết quả khảo sát tại bản Mo Nghè 2 vào
tháng 10/2019 cho thấy, 15% số hộ ở bản
này sử dụng điều hòa nhiệt độ do thời tiết
nóng hơn.
Về lượng mưa: Lượng mưa ở địa bàn
nghiên cứu có xu thế giảm trong cả mùa
mưa và mùa khô. Từ năm 2007-2010, số
ngày có lượng mưa lớn hơn 50 mm trong
mùa khô là 11 ngày, trong mùa mưa là 20
ngày. Từ năm 2011-2017, con số tương ứng
là 10 ngày và 17 ngày (Trạm khí tượng thủy
văn huyện Phù Yên, 2007-2017).
Một số hiện tượng khí hậu cực đoan:
Theo thống kê từ năm 2015-2018 của
UBND xã Quang Huy, hầu như năm nào gió
lốc và mưa lũ cũng gây thiệt hại nhiều cơ
sở hạ tầng, hoa màu và vật nuôi của người
dân. Riêng năm 2018, vào các tháng 3, 5, 6
liên tục có gió lốc, mưa lớn gây ra lũ quét và
sạt lở đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống của tất cả các bản trên địa bàn xã. Bên
cạnh đó, ngay từ tháng 01/2020, tại địa bàn
nghiên cứu đã ghi nhận trận mưa đá kéo dài
hàng giờ, kích thước viên đá khoảng 3 - 5
cm, một hiện tượng chưa từng xảy ra ở đây
(UBND xã Quang Huy, 2019b).
a) Nghề thủ công truyền thống của
người Thái ở Mo Nghè 2
Hiện nay, phụ nữ Thái ở Mo Nghè 2 vẫn
duy trì được nghề dệt. Tuy nhiên, những
người biết dệt cũng đã ở độ tuổi ngoài 50,
đa số thanh niên dưới 30 tuổi không còn
thông thạo việc này. Hiện nay, Mo Nghè 2
có 5 tổ dệt, mỗi tổ có 6 người, tổng cộng
có khoảng 30 người1. Theo những nhóm
dệt này, sự thay đổi của thời tiết, đặc biệt
là nhiệt độ có xu hướng nóng lên đã tác
động đến quá trình làm sợi dệt, thời gian
ngồi dệt và sản phẩm dệt (Điều tra thực
địa, tháng 6/2020).
Về nguyên liệu dệt: để có sợi dệt, đặc
biệt là dệt mặt chăn, các nghệ nhân nơi đây
phải thực hiện công đoạn nhuộm sợi. Đầu
1
Trước năm 1990, ở Mo Nghè 2 hầu như hộ gia
đình nào cũng có khung dệt vải. Tuy nhiên, do nhu
cầu của thị trường mà nghề dệt ở Mo Nghè 2 dần bị
mai một. Từ năm 2013, Hội Phụ nữ xã Quang Huy
đã thành lập các tổ dệt nhằm duy trì nghề truyền
thống của người Thái, đến nay vẫn còn duy trì.
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
38
tiên, thợ dệt sẽ mua sợi chưa nhuộm, đem hiện nay lượng tiêu thụ mặt chăn giảm hẳn.
giặt, nhào bột gạo, pha màu, cho sợi vào, Thời tiết nóng hơn thì lượng mua mặt chăn
sau đó vắt nước rồi đem phơi. Công đoạn giảm hẳn, chỉ mua để trong nhà làm phép,
này đòi hỏi kỹ thuật cao, bởi nếu không làm thuốc thôi1. Ngày xưa, mỗi nhà phải có
sợi dễ đứt. Việc phơi sợi phải dựa vào thời hơn chục bộ chăn đệm, mỗi đứa con gái đi
tiết, trời mưa nhiều sẽ không phơi được đến nhà chồng phải mang hơn 10 bộ. Hiện
sợi, chỉ ngày nắng mới phơi. Tuy nhiên, nay, con gái đi lấy chồng chỉ cần mang 4
sợi thành phẩm cho chất lượng tốt nhất nếu bộ trở lại thôi, 2 bộ cho hai bố mẹ chồng,
được phơi ở nơi có nhiều gió, trời không 2 bộ cho hai vợ chồng (PVS, nữ, 54 tuổi,
quá nhiều nắng. Hiện nay, thời tiết nắng nông dân, bản Mo Nghè 2). Do nhu cầu về
mưa thất thường, việc phơi sợi nhuộm gặp mặt chăn không còn nhiều, người Thái nơi
nhiều khó khăn hơn, nhiều nghệ nhân ở đây đây chuyển sang dệt vải kẻ, vải trắng và dây
buộc phải lựa chọn dùng sợi nhuộm công thắt lưng. Khách hàng ưa thích nhất là vải
nghiệp. Sợi nhuộm sẵn thường đắt hơn kẻ dệt bằng len bóng. Để dệt được một tấm
30.000 đ/kg so với sợi tự nhuộm. Những vải trắng dài từ 4 - 5 m, một phụ nữ Thái tập
mặt chăn dệt bằng sợi tự nhuộm có giá trung dệt chỉ hết 2 ngày, bán ra thị trường
thành rẻ từ 100.000 - 150.000 đ/cái so với được khoảng 300.000 đ/tấm, nếu dệt thêm
mặt chăn làm từ sợi nhuộm công nghiệp sợi len màu vào vải trắng thì sẽ bán được
(PVS, nữ, 60 tuổi, nông dân, bản Mo Nghè 500.000 đ/tấm. Trừ chi phí mua nguyên liệu,
2). Trong khi đó, khách hàng cũng có người mỗi tấm vải trắng lãi 100.000 đ, vải trắng
thích mặt chăn dệt từ sợi màu công nghiệp có sợi len lãi 250.000 đ/tấm. Thắt lưng tím
nhưng cũng có nhiều khách hàng thích mặt một ngày có thể dệt được 3 chiếc, bán ra thị
chăn làm từ sợi tự nhuộm.
trường với giá 35.000 đ/chiếc (Điều tra thực
Về thời gian dệt vải: Nếu như trước địa, tháng 6/2020). So sánh với thu nhập từ
làm ruộng, nghề dệt cũng đem lại thu nhập
ngang bằng cho người Thái, thậm chí có lúc
cao hơn so với làm lúa2. Các sản phẩm dệt
đây, phụ nữ Thái thường dệt vải vào bất kỳ
thời gian nhàn rỗi nào trong năm thì hiện
nay do thời tiết quá nắng nóng không dệt
được vải, người dân phải tranh thủ dệt vào
lúc trời còn mát như buổi sáng (7h-10h)
và chiều tối muộn (19h-23h). Với những
người nhiều tuổi, việc phải thức khuya để
dệt vải cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sức
khỏe của họ.
Người Thái nơi đây nổi tiếng với các
sản phẩm dệt như chăn, vải may áo cóm,
vải kẻ, vải trắng... Trong đó, chăn là sản
phẩm đem lại thu nhập cao nhất cho họ.
Trung bình một phụ nữ Thái dệt khoảng 4
ngày được một mặt chăn, trừ các chi phí
mua sợi, mỗi mặt chăn lãi 300.000 đ. Trước
đây, mặt chăn được đặt làm nhiều, nhưng
1 Trong quan niệm của người Thái, gia đình nào
cũng phải có vài bộ chăn đệm giống như “bùa hộ
mệnh” để trong nhà làm phép.
2
Nếu tính giá thóc năm 2019, một hộ có 1.200 m2
ruộng, mỗi vụ (vụ chiêm từ tháng 2-6, vụ mùa từ
tháng 7-11) thu hoạch được từ 25-26 bao thóc sạch,
mỗi yến bán được trung bình 80.000 đ, một bao
trung bình 40 kg, tổng thu nhập từ làm ruộng mỗi vụ
là 8.320.000 đ, cả năm là khoảng 17 triệu đồng chưa
tính tiền phân bón. Từ đầu năm 2020, mỗi tuần một
hộ dệt hết 5kg sợi để làm dây thắt lưng, vải trắng,
giá sợi là 150.000 đ/kg; trừ chi phí, thu nhập từ sản
phẩm này 1.100.000 đ, như vậy họ có lãi 350.000 đ/
tuần, mỗi năm là hơn 18 triệu đồng. Nếu công việc
đều, thu nhập từ dệt sẽ cao hơn thu nhập từ trồng lúa
(Điều tra thực địa, tháng 6/2020).
Thích ứng với…
39
của người Thái được chủ cửa hàng ở chợ thị
So sánh với sản xuất nông nghiệp,
trấn thu mua và mang đi tiêu thụ ở nhiều nơi người Hmông cho rằng, thu nhập từ việc đi
khác. Theo các thợ dệt ở đây, trong khoảng làm thuê không cao hơn so với bán măng
từ năm 2018 trở lại đây, sản phẩm dệt làm ra sặt: Nếu so sánh với trồng măng sặt, nhà
đều được tiêu thụ.
mình cũng trồng măng, trồng 5.000 m2, ở
đây đa số cả bản đều trồng măng, vụ măng
b) Đi làm thuê/công nhân
Bắt đầu từ năm 2017, xu hướng đi làm năm 2020 cũng được giá, đầu mùa 30k/kg,
thuê của cả người Thái ở Mo Nghè 2 và cuối mùa 25k/kg, đầu mùa là tháng 3, cuối
người Hmông ở Suối Ó tăng lên là do: i) mùa là tháng 5; mưa đá không ảnh hưởng
thời gian này bắt đầu có nhiều công ty hoạt đến măng, trời mưa măng mọc nhanh hơn
động tại địa phương đã thu hút lượng công (PVS, nam, 38 tuổi, nông dân, bản Suối
nhân lớn; ii) sau năm 2017 - năm đánh dấu Ó). Tuy nhiên điểm khác ở chỗ, đi làm
trận mưa lũ lịch sử ở huyện Phù Yên khiến thuê thì có lương hằng tháng và có một
sau đó nhiều thanh niên tại địa bàn khảo khoản tiền để đầu tư cho trồng trọt. Đa số
sát rủ nhau đi làm thuê ở các tỉnh ngoài. những người đã đi làm thuê khi về thăm
Như vậy, sự thay đổi của thời tiết ở nơi đây nhà đều không quay trở lại chỗ làm vì với
làm cho canh tác nông nghiệp trở nên khó bản tính của người Hmông, họ chưa thích
khăn hơn cũng là một trong những nguyên nghi được với cách làm việc công nghiệp,
nhân chủ yếu khiến các nam thanh niên ở cũng như họ không thể kiên nhẫn làm một
địa bàn khảo sát đi làm thuê ở các tỉnh xa chỗ trong một thời gian dài. Công việc
nhiều hơn.
họ làm được lâu nhất chỉ từ 1-2 năm, sau
Nam giới người Thái và người Hmông đó họ vẫn quay trở về làm ruộng nương.
độ tuổi từ 18-40 thường đi làm thuê ở các Tôi chưa từng ra khỏi bản, chưa quen với
tỉnh xa. Tuy nhiên, số lượng thanh niên làm việc công nghiệp. Nếu ở nhà, thích
người Hmông đi làm thuê ở các tỉnh xa làm nương thì đi làm nương, thích nghỉ đi
ít hơn nhiều so với người Thái (28 người uống rượu thì nghỉ, nên chưa thể quen với
so với 40 người). Họ làm thuê chủ yếu ở tác phong làm việc công nghiệp theo giờ
Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, cố định (PVS, nam, 28 tuổi, nông dân, bản
cũng có khi ở Lâm Đồng, Bình Dương. Suối Ó). Sự chuyển đổi công việc thường
Công việc thường là làm bóng điện, làm xuyên sẽ trở nên khó khăn nếu họ muốn
đồ nhựa, tạo hạt nhựa,... Những việc này nâng cao tay nghề và có thu nhập tốt hơn.
không đòi hỏi người lao động phải có Trong khi đó, người Thái chỉ có diện tích
chuyên môn kỹ thuật cao, những người có eo hẹp là đất trồng lúa, canh tác 2 vụ/năm,
sức khỏe tốt đều có thể làm được. Một số chưa tính mất mát do thời tiết và các rủi
thanh niên người Thái và người Hmông đi do khác nên họ cho rằng thu nhập từ làm
làm ở tỉnh Bình Dương cho biết, trung bình thêm cao hơn làm ruộng: Tôi đi làm nhận
họ được trả 8 triệu đồng/tháng khi làm ca lương theo tháng, làm ruộng 1 vụ được
ngày (7h30-21h), nếu làm ca đêm (từ 20h 3-4 tạ thóc, đi làm hai vợ chồng ít nhất
ngày hôm trước đến 7h30 ngày hôm sau) sẽ cũng được 10 triệu/tháng, bằng cả năm
được trả 9 triệu đồng/tháng (Điều tra thực làm ruộng (PVS, nữ, 26 tuổi, công nhân,
địa, tháng 10/2019).
bản Mo Nghè 2).
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
40
Đối với nữ giới người Thái ở bản Mo Hmông đi làm ăn xa có xu hướng tăng
Nghè 2 và người Hmông ở Suối Ó lại có nhưng tăng chậm. Việc làm thêm đã phần
những công việc khác nhau. Với người nào giải quyết được sự thiếu hụt thu nhập
Thái, họ tham gia làm công nhân may da để trang trải cuộc sống hằng ngày cũng
giày tại các công ty ở địa phương. Thống như vốn đầu tư cho sản xuất khi mà nông
kê đến tháng 12/2019 của UBND xã Quang nghiệp chưa đến vụ thu hoạch.
Huy (2019a), bản Mo nghè 2 có 135 người
Nơi cư trú của người Thái ở bản Mo
tham gia công việc này với thu nhập trung Nghè 2 có sự thuận lợi về đường giao thông,
bình sau khi trừ các khoản tiền ăn là 4 triệu/ nên người Thái có điều kiện giao lưu, tiếp
tháng, ai làm tăng ca sẽ được khoảng 5-6 xúc tìm hiểu và chia sẻ kinh nghiệm làm
triệu/tháng. Ở bản Suối Ó, nữ giới chỉ ở ăn. Người dân nơi đây đã có nhu cầu mua
lại bản để làm nông nghiệp và chăm sóc bán và làm quen với kinh tế thị trường. Dọc
gia đình. Lý giải cho điều này là do phụ nữ tỉnh lộ có nhiều cửa hàng kinh doanh được
người Hmông ở đây đa số không biết chữ, mở ra: bán hàng tạp hóa, bán hàng ăn uống,
điều đó khiến họ mặc cảm khi đi làm công bán thực phẩm, cửa hàng may đo,... Các
nhân nên họ không tìm kiếm được công sản phẩm nông nghiệp của địa phương hay
việc khác và nguồn thu hỗ trợ gia đình.
sản phẩm dệt truyền thống được tiêu thụ dễ
4. Thuận lợi và rào cản thích ứng với biến dàng hơn.
đổi khí hậu trong sinh kế phi nông nghiệp
của người Hmông và người Thái
a) Về thuận lợi
Một điểm nữa là người Thái chiếm tỷ
lệ lớn (79,12%) trong cơ cấu dân số toàn
xã Quang Huy. Điều này khiến mạng lưới
Trong thời qua, người Hmông ở bản người thân, bạn bè ở người Thái khá phát
Suối Ó, người Thái ở bản Mo Nghè 2 và triển. Cụ thể là ở cộng đồng người Thái vẫn
cộng đồng dân tộc trên địa bàn xã Quang còn duy trì các tổ dệt, điều này vừa có tác
Huy nói chung đều nhận được sự quan tâm dụng duy trì nghề dệt truyền thống, vừa làm
hỗ trợ của chính quyền các cấp, trong đó có tăng thêm thu nhập cho người dân khiến họ
chính sách chuyển đổi cơ cấu lao động tại không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất
địa phương. Theo thống kê năm 2018 của nông nghiệp. Ngoài ra, 100% người Thái ở
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương có thể sử dụng thành thạo tiếng
huyện Phù Yên, trên địa bàn huyện có 48 phổ thông, khả năng giao tiếp ngôn ngữ
công ty hoạt động, trong đó có 2 nhà máy phổ thông tốt khiến người Thái có nhiều cơ
(Nhà máy giày da Ngọc Hà, Công ty cổ hội tìm kiếm công việc hơn. Minh chứng
phần gạch Tuy nen Anh Sơn) tại xã Quang cho điều này là sự đa dạng trong cơ cấu
Huy. Điều này đã tạo việc làm ổn định cho việc làm của người Thái, như: làm công
nhiều công nhân lao động tại địa phương. chức, kinh doanh dịch vụ, làm công nhân,
Và đây được coi là một hướng sinh kế mới làm thuê, làm nông nghiệp.
cho người Thái, đặc biệt là nữ giới.
b) Về rào cản
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu lao
Trong quá trình chuyển đổi lao động,
động, người Thái thay đổi nhanh, diễn ra ở nam giới người Hmông đi làm ăn xa, công
cả nam giới và nữ giới; người Hmông chủ việc ruộng nương và chăm sóc gia đình,
yếu ở nam giới. Số lượng nam giới người cha mẹ già… đều đặt lên vai người phụ
Thích ứng với…
41
nữ. Đây là lý do khiến đàn ông Hmông thương mại dịch vụ bị cản trở hơn so với
không yên tâm với công việc làm thêm của người Thái ở bản Mo Nghè 2. Hơn nữa,
mình. Họ chỉ đi làm thêm được khoảng giao thông khó khăn cũng làm giảm khả
2-3 tháng hoặc lâu nhất là 6 tháng là nghỉ năng liên kết với bên ngoài, khả năng tiếp
việc. Điều này khiến tay nghề của họ khó cận thông tin về BĐKH còn nhiều hạn chế.
được nâng cao, đồng nghĩa với mức lương 5. Kết luận
mà họ nhận được thấp hơn so với những
Các chỉ số và cảm nhận của người dân
người có tay nghề cao và làm việc lâu năm. về khí hậu đều cho thấy, trong khoảng 10
Một điểm đáng chú ý nữa là, mục đích đi năm trở lại đây khí hậu ở khu vực huyện
làm thuê của thanh niên người Hmông là Phù Yên đang biến đổi rõ rệt. Xem xét tác
kiếm tiền sau đó về đầu tư cho sản xuất động của BĐKH dưới khía cạnh sinh kế
nông nghiệp. Điều này cho thấy cộng đồng phi nông nghiệp cho thấy: Với người Thái:
người Hmông vẫn còn phụ thuộc nhiều vào i) Cả nam và nữ đều lựa chọn đi làm thuê.
sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, trong khi nam giới người Thái
Đối với người Thái, phần lớn thanh niên lựa chọn đi làm ăn xa ngoài tỉnh trong thời
đi làm ăn xa khiến gánh nặng công việc gian dài, thì nữ giới lại chọn làm công
chăm sóc ruộng vườn chủ yếu do những nhân tại địa phương với thu nhập ổn định;
người không còn trẻ tuổi đảm nhiệm. Điều ii) Trong nghề thủ công truyền thống,
này đặt ra một thách thức trong việc đảm bảo người Thái lựa chọn thay đổi thời gian dệt,
sức khỏe cho người lớn tuổi trong gia đình. nguyên liệu dệt và sản phẩm cung cấp ra thị
Đối với phụ nữ Hmông, họ sinh sống trường. Với người Hmông, họ chỉ có một
ở vùng có giao thông đi lại khó khăn, ít có lựa chọn đó là nam giới đi làm ăn xa, còn
cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Bên phụ nữ chăm sóc gia đình và ruộng nương.
cạnh đó, phụ nữ Hmông có trình độ học vấn So sánh những thuận lợi và rào cản ở cả
thấp, đa số trung học cơ sở, ít có khả năng hai cộng đồng người Hmông ở bản Suối Ó
sử dụng tiếng phổ thông (Điều tra thực và người Thái ở bản Mò Nghè 2 cho thấy:
địa tháng 6/2020). Đây cũng là một trong Cộng đồng người Thái nhờ có đường giao
những nguyên nhân khiến họ không tự tin, thông cũng như cơ sở hạ tầng thuận lợi, khả
ngại giao tiếp với xã hội bên ngoài, sống năng giao tiếp tốt bằng tiếng phổ thông,
khép kín và khó kiếm tìm nguồn thu nhập mạng lưới đồng tộc rộng nên họ có sinh kế
mới khi cuộc sống gặp khó khăn.
đa dạng, ít phụ thuộc vào nông nghiệp và
Điều kiện cơ sở hạ tầng tại bản Suối dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thời
Ó còn nhiều khó khăn, bản chưa có điện tiết. Trong khi đó, cộng đồng người Hmông
lưới quốc gia. Đường nối bản với trung tâm với đường giao thông đi lại khó khăn, khả
xã là đường đất lẫn gạch đá, xe ô tô không năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông hạn
lên được trung tâm bản, quãng đường dài chế và trình độ học vấn ở nữ giới thấp
7 km nối bản với trung tâm xã không thể khiến các hoạt động sinh kế của họ không
di chuyển bằng các phương tiện giao thông có sự đa dạng, phụ thuộc phần lớn vào sản
vào mùa mưa. Đây chính là lý do khiến xuất nông nghiệp. Điều này khiến họ khó
các sản phẩm nông nghiệp của địa phương khăn hơn trong quá trình chuyển đổi sinh
khó có thể tiêu thụ được. Vì vậy, hoạt động kế nhằm thích ứng với BĐKH
Thông tin Khoa học xã hội, số 11.2020
42
Tài liệu tham khảo
kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
năm 2020.
1. CECI (2002-2005), Xây dựng năng lực
ứng phó với biến đổi khí hậu ở miền
Trung Việt Nam, Báo cáo Dự án.
2. CERED (2008), Người nghèo và sự
ứng phó với biến đổi khí hậu, Báo cáo
Dự án.
3. FAO và Hội đồng châu Âu (2012),
Nông nghiệp biến đổi khí hậu: kết hợp
hài hòa giữa giảm thiểu, thích nghi và
an ninh lương thực, Báo cáo Dự án.
4. Trần Hồng Hạnh (2018), Biến đổi khí
hậu và sinh kế của một số dân tộc thiểu
số ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội.
9. UBND tỉnh Sơn La (2018), Kế hoạch
hành động với biến đổi khí hậu của tỉnh
Sơn La giai đoạn 2010-2020 (thuộc
danh mục các nhiệm vụ, dự án thực hiện
chương trình Mục tiêu quốc gia với biến
đổi khí hậu giai đoạn 2009-2015 kèm
theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg).
10. UBND tỉnh Sơn La (2019), Địa chí Sơn
La, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội
11. UNFCCC (2007), Climate change:
Impacts, vulnerabilities, andadaptation
in
developing
countries, Bonn,
5. Mai Trọng Nhuận (2004), Nghiên cứu,
đánh giá mức độ bị tổn thương của
đới duyên hải Nam Trung bộ làm cơ
sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy
hoạch sử dụng đất bền vững, Báo cáo
tổng hợp đề tài cấp Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
6. UBND xã Quang Huy (2019a), Báo cáo
tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng -
an ninh năm 2019; Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
năm 2020.
7. UBND xã Quang Huy (2019b), Báo
cáo Tổng kết công tác phòng, chống
thiên tai và tìm kiếm cứu nạn giai đoạn
2015-2018.
8. UBND huyện Phù Yên (2019), Báo cáo
tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng -
an ninh năm 2019; Kế hoạch phát triển
UNFCCC, Germany.
12. Trạm khí tượng thủy văn huyện Phù
Yên (2019), Báo cáo số liệu khí hậu
huyện Phù Yên giai đoạn 2007-2017.
13. Viện Môi trường nông nghiệp (2012),
Đánh giá tác động, xác định các giải
pháp, xây dựng và triển khai các kế
hoạch hành động với biến đổi khí hậu
trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy
sản, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ.
14. Viện Khoa học khí tượng thủy văn và
môi trường (2010), Biến đổi khí hậu và
tác động ở Việt Nam, Nxb. Khoa học và
kỹ thuật, Hà Nội.
15. Phạm Thị Cẩm Vân (2018), “Kinh
nghiệm thích ứng với biến đổi khí hậu
trong sản xuất nông nghiệp của người
dân ở tỉnh Cà Mau”, Tạp chí Dân tộc
học, số 2, tr. 77-87.
Bạn đang xem tài liệu "Thích ứng với biến đổi khí hậu trong một số hoạt động sinh kế phi nông nghiệp của người Thái và người Hmông ở tỉnh Sơn La", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thich_ung_voi_bien_doi_khi_hau_trong_mot_so_hoat_dong_sinh_k.pdf

