Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 và những định hướng chiến lược trong giai đoạn 2021-2025

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
NATIONAL TARGET PROGRAM ON SUSTAINABLE POVERTY  
REDUCTION FOR THE PERIOD OF 2011-2020 AND STRATEGIC  
ORIENTATIONS FOR THE PERIOD OF 2021-2025  
To Duc  
National Office for Poverty Reduction  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
07/10/2021  
27/10/2021  
03/11/2021  
25/11/2021  
30/11/2021  
DOI:  
upporting the poor and poor households beyond the minimum standard of living, accessing basic  
social services according to the national multidimensional poverty line, improving the quality  
S
of life and contributing to the implementation of economic growth is the top goal set by the National  
Target Program on Sustainable Poverty Reduction of our country. Poverty reduction targets are always  
determined in documents of the Party Congress, Resolutions and socio-economic development programs  
at all levels. In each socio-economic development of the country, our State always arranges and spends  
budget resources; mobilize domestic and foreign resources to ensure the full implementation of policies  
and programs to support the poor and poor areas, especially in the poor core areas, in which there are  
particularly difficult areas in the region as the Northern mountainous areas, the Central Highlands, the  
Central Coast and the Southwest. The article analyzes and evaluates the achievements, at the same time  
outlines some difficulties and challenges of sustainable poverty reduction in the period of 2011-2020,  
thereby studying strategic orientations for this work in the period of 2021-2025.  
Keywords: National target program; Sustainable poverty reduction; Strategic orientations; Socio-  
economic growth; The period of 2021-2025.  
1. Đặt vấn đề  
sản xuất, nước sạch và vệ sinh, thông tin, pháp lý;  
các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột  
xuất hỗ trợ tích cực cho các gia đình gặp hoàn cảnh  
rủi ro như thiên tai, lũ lụt… Quốc hội đã ban hành  
Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/6/2014 về  
đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo đến năm  
2020. Chính vì vậy, công tác giảm nghèo bền vững  
và an sinh xã hội đã thu được nhiều kết quả nổi  
bật, được người dân cả nước ghi nhận, cộng đồng  
quốc tế đánh giá cao cả về thành tựu và cách thức  
tiếp cận, giải quyết vấn đề nghèo đói. Đặc biệt là  
năm 2015, Việt Nam đã chuyển đổi phương pháp  
đo lường nghèo từ đơn chiều sang tiếp cận đa chiều,  
với mục tiêu không chỉ hỗ trợ để bảo đảm thu nhập  
tối thiểu mà còn cải thiện mức độ tiếp cận của người  
Trong thời gian qua, cùng với quá trình phát  
triển kinh tế-xã hội, công tác giảm nghèo là một  
trong những mục tiêu lớn, xuyên suốt, luôn được  
Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ đặc biệt  
quan tâm, ưu tiên. Để triển khai, thực hiện mục tiêu  
giảm nghèo bền vững và an sinh xã hội giai đoạn  
2011-2020, Chính phủ đã ban hành và tổ chức thực  
hiện hiệu quả một loạt các chương trình, chính sách  
như: Nghị quyết về định hướng giảm nghèo bền  
vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Chương  
trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai  
đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020; các chính  
sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo về vay vốn tín  
dụng ưu đãi, hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, đất ở, đất  
Volume 10, Issue 4  
1
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
nghèo đối với các dịch vụ xã hội cơ bản về tiếp cận điện tử, ngày 17/9/2020; Chí Kiên, “Các xã, thôn  
thông tin, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh vùng DTTS tiếp tục hưởng chính sách an sinh xã  
môi trường.  
hội”, Báo Điện tử Chính phủ, ra ngày 18/01/2021;  
Bùi Sỹ Lợi, “Chính sách an sinh xã hội đối vùng  
đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2011-2021,  
giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2021-2030”,  
Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc, Volume 10, Issue  
1… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ  
dừng lại ở việc nêu thực trạng giảm nghèo ở các  
địa phương; chưa nghiên cứu ở tầm quốc gia và  
phân tích, đánh giá sâu những thành tựu, khó khăn,  
hạn chế, nguyên nhân của hạn chế ở các chương  
trình, chính sách giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã  
hội, đưa ra những giải pháp cơ bản mang tính định  
hướng, đột phá, chiến lược đối với vùng đồng bào  
DTTS và miền núi trong giai đoạn tới.  
Qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất  
nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn  
về kinh tế, xã hội, trong đó đặc biệt là công tác xóa  
đói giảm nghèo và an sinh xã hội. Tuy nhiên, thực  
tiễn tình trạng đói nghèo và an sinh xã hội chưa bền  
vững, vẫn còn ở một số vùng, địa phương, đặc biệt  
là ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Duyên hải miền  
Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Vậy làm thế nào  
để xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội  
trong cả nước, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc  
thiểu số (DTTS) là vấn đề đang đặt ra. Bài viết tập  
trung phân tích, đánh giá một số thành tựu đạt được  
của công tác giảm nghèo, an sinh xã hội trong thời  
gian qua, đồng thời nêu ra những nhiệm vụ trọng  
Từ khoảng trống của các công trình nghiên cứu  
tâm và một số định hướng trong công tác giảm trên, tác giả tập trung phân tích, đánh giá sâu, làm rõ  
nghèo bền vững đối với các khu vực trong cả nước thực trạng, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế ở các  
trong giai đoạn tới.  
chương trình, chính sách giảm nghèo và bảo đảm an  
sinh xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai  
đoạn 2011-2020. Từ đó, bài viết đưa ra những nội  
dung mang tính định hướng, chiến lược nhằm thực  
hiện hiệu quả công tác giảm nghèo và an sinh xã hội  
bền vững trong giai đoạn 2021-2025.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Vấn đề giảm nghèo, an sinh xã hội nói chung  
và công tác giảm nghèo, an sinh xã hội đối với  
vùng đồng bào DTTS nói riêng đã được nhiều tác  
giả quan tâm, nghiên cứu trong suốt thời gian qua,  
trong đó tiêu biểu là một số công trình như: Phương  
Nam, “Việt Nam trở thành hình mẫu về xóa đói,  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng một số phương pháp cơ bản  
giảm nghèo”, Trang tin điện tử Mặt trận Tổ quốc như: Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu sơ  
Việt Nam tỉnh Quảng Trị, ra ngày 28/01/2021; cấp, thứ cấp; đồng thời còn sử dụng phương pháp  
Nguyễn Xuân Lộc, “Hiệu quả triển khai Chương tổng hợp, phân tích, đánh giá tài liệu sẵn có.  
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững”,  
Trang Thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Kon  
Tum, ra ngày 31/05/2021; Bích Nguyên, “Giảm  
nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS ở Lào Cai:  
Đột phá vào 10 xã nghèo nhất”, Báo điện tử Biên  
phòng, ra ngày 06/06/2021; Tuệ Văn, “Đẩy mạnh  
thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm,  
bền vững đến 2030”, Báo điện tử Chính phủ, ra  
ngày 06/05/2021; Nguyễn Thị Bích Ngọc, Đặng  
Đỗ Quyên, “Đánh giá thực trạng chính sách an  
sinh xã hội đối với DTTS ở Việt Nam”, Trang tin  
điện tử Viện Khoa học Lao động và Xã hội, ngày  
16/7/2015; Bùi Sỹ Tuấn (Viện Khoa học Lao động  
và Xã hội), Đẩy mạnh chính sách an sinh xã hội  
vùng đồng bào DTTS, Báo Nhân dân điện tử, ra  
ngày 19/04/2018; Minh Phương, “Các chính sách  
an sinh xã hội đã tạo động lực giảm nghèo cho vùng  
đồng bào DTTS và miền núi, Trang Thông tin điện  
tử Ban Dân tộc tỉnh Quảng Bình, ngày 18/10/2019;  
Nguyễn Duy Thụy (Sách chuyên khảo, 2019), Viện  
Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, “An sinh xã hội  
đối với đồng bào DTTS tỉnh Đắk Lắk, Nxb.Khoa  
học xã hội, 2019; Nguyễn Thị Kim Oanh, “Một số  
giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách an sinh xã  
hội đối với vùng DTTS, Tạp chí Quản lý nhà nước  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thành tựu giảm nghèo bền vững giai đoạn  
2011-2020  
Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ  
về xóa đói giảm nghèo trước 10 năm và được người  
dân cả nước ghi nhận, cộng đồng quốc tế đánh giá  
là hình mẫu giảm nghèo hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo  
của Việt Nam đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống  
còn 2,75% cuối năm 2020, bình quân giảm 1,43%/  
năm, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao giảm tỷ lệ hộ nghèo  
bình quân của cả nước từ 1-1,5%/năm. Trong 5 năm  
(2016-2020) đã có 1.631.754 hộ/tổng số 2.338.569  
hộ nghèo (số liệu cuối năm 2015) đã thoát nghèo  
(chiếm 69,77%). Tỷ lệ giảm nghèo ở các khu vực  
trung du và miền núi Bắc Bộ, duyên hải miền  
Trung, Tây Nguyên cao hơn mức bình quân chung  
của các nước là từ 1-1,5%/năm (tỷ lệ hộ nghèo khu  
vực trung du và miền núi Bắc Bộ giảm từ 28,48%  
năm 2015 xuống còn 11,92% cuối năm 2020, bình  
quân giảm 3,31%/năm; khu vực Tây Nguyên giảm  
từ 17,4% năm 2015 xuống dưới 7% cuối năm 2020,  
bình quân giảm 2,16%/năm; khu vực duyên hải  
miền Trung giảm từ 11,93% năm 2015 xuống dưới  
4% cuối năm 2020, bình quân giảm 1,59%/năm).  
2
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện vùng nghèo được ưu tiên từng bước đầu tư, đã cải  
nghèo giảm còn 23,42%, bình quân trong 5 năm thiện đáng kể, góp phần nâng cao đời sống nhân dân  
giảm 5,4%/năm, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao giảm và làm thay đổi bộ mặt địa bàn nghèo, ĐBKK. Đến  
bình quân 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm cuối năm 2020, đã có 8/64 huyện nghèo thoát khỏi  
bình quân 4%/năm (kế hoạch giảm từ 3-4%/năm). tình trạng ĐBKK, đạt 12,5% và 14/30 huyện nghèo  
Tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) (theo Quyết định số 615/QĐ-TTg và Quyết định  
vùng bãi ngang ven biển và hải đảo đã giảm bình số 293/QĐ-TTg) hưởng cơ chế theo Nghị quyết  
quân khoảng 3%/năm, đạt mục tiêu đề ra. Một số 30a thoát khỏi tình trạng khó khăn. Có 125/292  
tỉnh như Quảng Ngãi, Bình Định có tỷ lệ giảm xã ĐBKK vùng bãi ngang ven biển và hải đảo  
nghèo bình quân cao hơn, khoảng 4%/năm ở các thoát khỏi tình trạng ĐBKK, đạt tỷ lệ 42,8% (vượt  
xã ĐBKK.  
12,8%, chỉ tiêu đề ra đến cuối năm 2020 có 30%  
số xã ĐBKK vùng bãi ngang ven biển và hải đảo  
thoát khỏi tình trạng ĐBKK). Khu vực Trung du  
và miền núi phía Bắc giai đoạn 2016 – 2020 có 07  
huyện thoát nghèo và được Thủ tướng Chính phủ  
tặng bằng khen, 72 xã ĐBKK vùng DTTS và miền  
núi trong khu vực đạt chuẩn nông thôn mới; khu  
vực Duyên hải miền Trung có 28/64 xã thoát khỏi  
tình trạng ĐBKK (chiếm 22,6%); huyện Sơn Hà,  
tỉnh Quảng Ngãi thoát khỏi tình trạng ĐBKK.  
Công tác giảm nghèo đã phát huy sức mạnh  
tổng hợp của cả hệ thống chính trị, huy động sự  
hưởng ứng tích cực của cả xã hội. Nhận thức của  
người nghèo dần thay đổi, cơ bản không còn ỷ lại,  
có nhiều tấm gương, điển hình thoát nghèo, tình  
nguyện xin ra khỏi danh sách hộ nghèo.  
Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về giảm  
nghèo được Chính phủ ban hành khá đồng bộ, toàn  
diện để hỗ trợ người nghèo: đã ban hành các chính  
sách giảm nghèo đặc thù, ưu tiên đối với các đối  
tượng yếu thế, vùng đồng bào dân tộc, vùng ĐBKK;  
từng bước giảm dần và bãi bỏ những chính sách hỗ  
trợ cho không, tăng chính sách hỗ trợ có điều kiện.  
Các bộ, ngành đã tham mưu, trình Quốc hội, Chính  
phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành mới 24 văn  
bản, sửa đổi 02 văn bản và bãi bỏ 01 văn bản không  
còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn.  
Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả  
nước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối  
năm 2015 (riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã  
nghèo, thôn, bản ĐBKK, hộ nghèo DTTS tăng gấp  
2 lần); người nghèo, người dân sinh sống trên địa  
bàn nghèo, khó khăn có khả năng lao động được  
chú trọng hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề, có việc làm,  
hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất, chăn nuôi, trồng  
trọt phù hợp với nhu cầu, nâng cao thu nhập, tiếp  
cận các dịch vụ xã hội cơ bản.  
Tổng nguồn lực đã được bố trí từ ngân sách Nhà  
nước, huy động toàn xã hội thực hiện Chương trình  
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn  
2016-2020 là gần 120.000.000 tỷ đồng. Ngân sách  
Trung ương là: 42.334,618 tỷ đồng/kế hoạch 41.449  
tỷ đồng, vượt 2,14% so với chỉ tiêu Quốc hội giao  
và được phê duyệt trong Chương trình. Ngân sách  
Trung ương đầu tư khoảng 35% và đã thu hút được  
41% vốn từ ngân sách địa phương và vốn huy động  
xã hội hóa, 24% vốn từ Quỹ “Vì người nghèo” và  
các hoạt động an sinh xã hội của Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam các cấp. Chính phủ đã dành 96,24% tổng  
nguồn lực bố trí cho các địa bàn huyện nghèo, xã  
Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào  
thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không  
ai bị bỏ lại phía sau”. Các cấp, các ngành, người dân  
và đặc biệt là người nghèo đã nỗ lực, thi đua; phong  
trào thoát nghèo đã được nhiều người nghèo thực  
hiện trên phạm vi cả nước, nhiều tấm gương, điển  
hình lan tỏa tích cực trong cộng đồng như: 468 hộ  
đăng ký thoát nghèo tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm  
Đồng; 49 hộ dân ở huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum; có  
2.490 hộ đăng ký thoát nghèo ở tỉnh Quảng Nam.  
Tuy đạt được những kết quả khả quan, nhưng  
ĐBKK vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái  
thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn nghèo và phát sinh nghèo còn cao (bình quân trên  
khu vùng đồng bào DTTS và miền núi.  
4%/năm), nhất là khu vực miền núi, vùng đồng bào  
DTTS, vùng thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt; có nơi  
tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn trên 50%, tỷ trọng hộ nghèo  
DTTS chiếm trên 61,28% tổng số hộ nghèo trong  
cả nước; một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với  
địa bàn nghèo, vùng đồng bào DTTS và miền núi  
chưa hiệu quả; nguồn lực đầu tư cho công tác giảm  
nghèo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; tình  
trạng một bộ phận người dân có tâm lý trông chờ, ỷ  
lại vào hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng.  
Đối với khu vực trung du và miền núi phía Bắc,  
giai đoạn 2016 – 2020, ngân sách Trung ương bố trí  
khoảng 11.430 tỷ đồng, chiếm gần 30% tổng vốn  
bố trí thực hiện các hoạt động thuộc Chương trình  
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn  
2016-2020; khu vực Tây Nguyên, ngân sách Trung  
ương bố trí 4.179,719 tỷ đồng chiếm 9,92% tổng  
nguồn vốn Chương trình; khu vực duyên hải miền  
Trung, ngân sách Trung ương bố trí 5.537,090 tỷ  
đồng, chiếm 13,15% tổng nguồn vốn Chương trình.  
Tỷ trọng hộ nghèo DTTS chiếm tới 61,28% tổng  
số hộ nghèo cuối năm 2020, đặt ra những thách thức  
Cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu, liên kết  
Volume 10, Issue 4  
3
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
giảm nghèo đối với hộ DTTS. Đối với vùng duyên hội của đất nước nên chuẩn nghèo thay đổi, làm  
hải miền Trung: Khu vực vùng bãi ngang ven biển tăng tỷ lệ hộ nghèo đầu kỳ.  
là khu vực thường xuyên bị thiên tai, bão lũ, biên  
đổi khí hậu, xâm nhập mặn, đặt ra những thách thức  
giảm nghèo đối với hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi  
thiên tai.  
4.2.2. Định hướng chiến lược giảm nghèo bền  
vững, giai đoạn 2021-2025  
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo trong bối cảnh  
mới, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/  
TW ngày 23/6/20021, về tăng cường sự lãnh đạo  
của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững  
4.2. Định hướng chiến lược giảm nghèo bền  
vững, giai đoạn 2021-2025  
4.2.1. Dự báo tình hình công tác giảm nghèo đến năm 2030; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết  
bền vững trong thời gian tới  
số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020, phê duyệt  
chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc  
gia phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền  
núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 24/2021/  
QH15 ngày 29/7/2021, phê duyệt chủ trương đầu  
tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền  
vững giai đoạn 2021-2025. Trong năm 2021, Thủ  
tướng Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu  
quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình  
mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng  
DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 nhằm hỗ  
trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối  
thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn  
nghèo đa chiều quốc gia, tập trung thực hiện mục  
tiêu giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng và  
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực; tạo việc làm  
đầy đủ, việc làm tốt; phát triển hệ thống trợ giúp  
xã hội toàn diện, đa tầng; Bộ Lao động Thương  
binh và xã hội đã trình Ban Bí thư nội dung về tăng  
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm  
nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững đến năm 2030,  
trong đó xác định những nội dung định hướng về  
giảm nghèo bền vững như sau:  
Trong 10 năm (2021 - 2030), dự báo tình hình  
giảm nghèo gặp nhiều khó khăn, thách thức, cụ thể:  
- Tốc độ công nghiệp hoá, xu thế đô thị hoá, hội  
nhập quốc tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường, xu  
hướng già hóa dân số làm gia tăng các vấn đề về di  
cư tự do, chênh lệch giàu - nghèo, bất bình đẳng xã  
hội về thu nhập và mức sống.  
- Đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp,  
khó lường, làm ảnh hưởng nặng nề đến đời sống  
nhân dân, đặc biệt là người nghèo. Biến đổi khí hậu,  
thiên tai, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, sử  
dụng nguồn nước xuyên biên giới, nhất là nguồn  
nước sông Mê Kông, đặt ra những thách thức lớn  
chưa từng có.  
- Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất  
là công nghệ số, chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ,  
tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra nhiều cơ hội  
nâng cao năng suất, tiêu thụ sản phẩm, tạo ra thu  
nhập cao hơn để thoát nghèo nhưng cũng có nhiều  
thách thức đối với người nghèo trong tiếp cận các  
cơ hội học tập, đào tạo kỹ năng nghề, tìm kiếm việc  
làm, cạnh tranh trên thị trường lao động.  
Phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đề ra tại  
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Chiến  
lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030.  
- Việc giảm nghèo tại vùng “lõi nghèo” có điều  
kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, địa lý hiểm  
trở, chia cắt, vùng đồng bào dân tộc ít người còn  
nhiều cam go. Tình trạng nghèo từ “tư tưởng” còn  
là hiện tượng phổ biến do phong tục, tập quán, mặt  
bằng dân trí, trình độ sản xuất hạn chế1; điều kiện  
cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông miền  
núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo còn rất khó  
khăn, đòi hỏi phải có nguồn lực lớn để đầu tư trong  
khi khả năng ngân sách hạn chế.  
Xác định đầu tư cho công tác giảm nghèo là đầu  
tư cho phát triển nhằm hỗ trợ người nghèo thoát  
nghèo, xây dựng cuộc sống khá giả; địa bàn nghèo  
thoát khỏi tình trạng khó khăn, xây dựng tiêu chí  
nông thôn mới; thực hiện mục tiêu phát triển bền  
vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đẩy  
mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bao trùm, nhất  
là nâng cao thu nhập và bảo đảm các chiều dịch vụ  
xã hội cơ bản (về việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở,  
nước sạch sinh hoạt và vệ sinh, thông tin) để tiến  
tới xoá bỏ nghèo đói cho mọi người, ở mọi nơi, mọi  
thời điểm và mọi chiều.  
- Dự báo tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong  
nước (GDP) tiếp tục duy trì ở mức cao, bình quân  
khoảng 7%/năm; đến năm 2030, GDP bình quân  
đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500  
USD, Việt Nam là nước có thu nhập trung bình  
cao. Điều này dẫn đến xu hướng thay đổi nhu cầu  
của người nghèo, chuyển từ đáp ứng các nhu cầu  
tối thiểu bảo đảm tồn tại sang đáp ứng các nhu cầu  
nâng cao chất lượng cuộc sống. Mức sống tối thiểu  
của người dân tăng lên theo sự phát triển kinh tế-xã  
Sớm hoàn thành cam kết của Việt Nam với cộng  
đồng quốc tế về phát triển bền vững và xóa đói giảm  
nghèo đến năm 2030.  
Ngoài ra, cần xác định công tác giảm nghèo là  
nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên, lâu  
dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; tuyên  
truyền, tạo sự thống nhất trong các cấp ủy, tổ chức  
đảng, chính quyền và toàn xã hội về nhận thức và  
1. Phương thức canh tác giản đơn, chủ yếu là dựa vào thiên  
nhiên.  
4
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
hành động, nhất là cấp cơ sở. Tập trung lãnh đạo, vững, trong đó đặc biệt tập trung, nỗ lực, quyết tâm  
chỉ đạo, phân công, phân cấp, xác định rõ trách thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm trong giai  
nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân, đoạn tới như:  
nhất là trách nhiệm người đứng đầu trong công tác  
giảm nghèo. Chú trọng xây dựng và tổ chức thực  
hiện hiệu quả nghị quyết của cấp ủy về giảm nghèo;  
phân công cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và  
đảng viên giúp đỡ hộ nghèo, địa bàn khó khăn.  
Thứ nhất, cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh  
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên  
cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế của cơ sở về điều  
kiện tự nhiên và lao động, tăng dần tỷ trọng của  
công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Điều kiện tiên  
Đặt yêu cầu thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa quyết để thực hiện nhiệm vụ là phải thu hút được  
chiều, bao trùm, bền vững là trọng tâm trong kế đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp, các nhà máy  
hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Chú trọng thực hiện chế biến nông sản, dược liệu, chế biến lâm sản…  
chính sách phát triển kinh tế-xã hội kết nối vùng xây dựng phát triển các trung tâm du lịch biển để  
khó khăn với vùng phát triển, cơ chế hỗ trợ doanh tận dụng lợi thế tự nhiên và xã hội của từng vùng  
nghiệp đầu tư ở địa bàn khó khăn, phát triển các miền, từng khu vực.  
mô hình sản xuất phù hợp với người nghèo, giảm  
nghèo gắn với quốc phòng - an ninh; Đổi mới thực  
chất cách tiếp cận trong giảm nghèo bằng các chính  
sách hỗ trợ có điều kiện, phát triển tín dụng chính  
sách xã hội, giảm hỗ trợ cho không, có chính sách  
đặc thù hỗ trợ hộ nghèo không có khả năng lao  
động bảo đảm mức sống tối thiểu sau khi tách ra  
khỏi diện hộ nghèo để hưởng chính sách bảo trợ  
xã hội. Tập trung hỗ trợ người nghèo trong đào tạo  
nghề nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất, có việc  
làm, sinh kế, đất sản xuất, nhà ở, nâng cao thu nhập  
và giải quyết các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ  
bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt  
và vệ sinh, thông tin và dịch vụ xã hội khác), hoàn  
thành cơ bản việc xóa nhà tạm, nhà đơn sơ, thiếu  
kiên cố trên phạm vi cả nước. Bố trí hợp lý khu  
dân cư tại các vùng thường xuyên chịu tác động  
của thiên tai, biến đổi khí hậu, khu rừng đặc dụng.  
Hoàn thiện phương pháp đo lường nghèo đa chiều  
gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm mức  
sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản  
của người dân.  
Thứ hai, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các  
chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã  
hội bao trùm, bền vững theo hướng kiên quyết loại  
bỏ các chính sách chồng chéo, không hiệu quả, tích  
hợp chính sách, hỗ trợ có điều kiện; nâng cao chất  
lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tạo  
việc làm đầy đủ, việc làm tốt cho tất cả mọi người…  
góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân,  
giảm bất bình đẳng trong xã hội; xây dựng chuẩn  
nghèo mới có tiêu chí thu nhập bằng chuẩn mức  
sống tối thiểu vì Việt Nam đã trở thành một quốc  
gia có thu nhập trung bình.  
Thứ ba, quan tâm bố trí đủ ngân sách Nhà nước,  
lồng ghép các chương trình, huy động nguồn lực  
toàn xã hội để thực hiện các chính sách, chương  
trình giảm nghèo và an sinh xã hội, trong đó ưu tiên  
hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế-xã hội  
các vùng khó khăn, vùng ĐBKK; xây dựng các mô  
hình giảm nghèo và an sinh xã hội thích ứng với  
biến đổi khí hậu; nhân rộng các sáng kiến, mô hình  
hiệu quả, thành công.  
Thứ tư, tăng cường công tác quản lý nhà nước;  
cải cách thủ tục hành chính để người dân, cộng  
đồng thuận lợi hơn khi tham gia và tiếp cận chính  
sách giảm nghèo; xử lý nghiêm các hành vi trục  
lợi, sai phạm trong tổ chức thực hiện chính sách,  
chương trình.  
Đổi mới phong trào thi đua “Cả nước chung tay  
vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”  
nhằm khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, phát huy nội  
lực vươn lên “thoát nghèo, xây dựng cuộc sống ấm  
no” của người dân và cộng đồng, phấn đấu “Vì một  
Việt Nam không còn đói nghèo”. Thực hiện phân  
công một số tỉnh, thành phố và một số bộ ngành  
mỗi đơn vị giúp đỡ ít nhất một huyện nghèo, hộ khá  
giả giúp đỡ hộ nghèo; xã, phường, thị trấn xây dựng  
mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ tự quản, hộ gia  
đình thoát nghèo, sản xuất giỏi, làm kinh tế giỏi tiêu  
biểu. Xây dựng, nhân rộng các mô hình tốt, sáng  
kiến giảm nghèo.  
Thứ năm, chú trọng phát triển mạnh kinh tế  
trạng trại, hình thành các trang trại giá trị ở các xã  
miền núi chăn nuôi bán tự nhiên gia súc, gia cầm,  
trang trại trồng rừng, trồng cây ăn quả ở các xã có  
diện tích đồi núi lớn.  
Thứ sáu, cần mở rộng hợp tác quốc tế, huy động  
sự hỗ trợ kỹ thuật, nguồn lực của các tổ chức quốc  
tế, các đối tác phát triển tiếp tục đồng hành cùng  
Chính phủ Việt Nam trong công cuộc giảm nghèo  
bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.  
5. Thảo luận  
Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều,  
bền vững, hiệu quả, đồng thời khắc phục những  
khó khăn, hạn chế của công tác giảm nghèo trong  
thời gian tới, cần đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển  
kinh tế, gắn với đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo bền  
Thứ bảy, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng  
cao nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân  
nhằm tạo đồng thuận và phát huy sức mạnh tổng  
Volume 10, Issue 4  
5
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
6. Kết luận  
hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện mục tiêu  
giảm nghèo; thúc đẩy phong trào “Cả nước chung  
tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”;  
phong trào “thoát nghèo” sâu rộng trên phạm vi cả  
nước; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn  
lên của người dân, của người nghèo; phát huy sức  
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, vai trò,  
trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ  
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, sự  
chung sức đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp  
và của toàn xã hội.  
Trong thời gian qua, hệ thống chính sách giảm  
nghèo và chính sách an sinh xã hội đối với đồng  
bào DTTS đã được ban hành khá đầy đủ và toàn  
diện, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh  
thần cho đồng bào các DTTS. Tuy nhiên, bên cạnh  
những thành tựu đã đạt được, công tác giảm nghèo  
còn đối diện với nhiều khó khăn, thách thức cần  
được quan tâm, nỗ lực giải quyết hiệu quả hơn trong  
giai đoạn tới. Để thực hiện hiệu quả chính sách  
giảm nghèo và an sinh xã hội đối với cả nước, đặc  
biệt là vùng DTTS và miền núi trong thời gian tới,  
cần tập trung vào đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo  
đảm an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh và bền vững,  
thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so  
với bình quân chung của cả nước và của vùng đồng  
bào DTTS và miền núi theo tinh thần Nghị quyết  
số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội  
về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh  
tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai  
đoạn 2021-2030 và Nghị quyết số 24/2021/QH15  
ngày 28/7/2021 của Quốc hội về việc phê duyệt chủ  
trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm  
nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.  
Thứ tám, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học  
công nghệ vào sản xuất kinh doanh, đặc biệt là  
tạo giống cây, con có năng suất cao, chất lượng  
tốt, đầu tư công nghệ bảo quản, chế biến sau thu  
hoạch, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Để thực  
hiện điều này, các đơn vị chức năng của các tỉnh  
cần phải phối hợp với bộ phận khuyến nông, trung  
tâm khảo nghiệm, công ty giống cây trồng, vật  
nuôi của tỉnh, Trung ương, lựa chọn phương thức  
và cơ chế phù hợp.  
Tài liệu tham khảo  
Bo Lao dong, Thuong binh va Xa hoi. (2021).  
Tang cuong su lanh dao cua Dang doi voi  
cong tac giam ngheo da chieu, bao trum,  
ben vung den nam 2030. To trinh so 01-TTr/  
BCSD, ngay 19/5/2021.  
Ngoc, N. T. B., & Quyen, D. D. (2015). Danh  
gia thuc trang chinh sach an sinh xa hoi doi  
voi dan toc thieu so o Viet Nam. Trang tin  
dien tu Vien Khoa hoa Lao dong va Xa hoi,  
ngay 16/7/2015.  
Kien, C. (18/01/2021). Cac xa, thon vung dan  
toc thieu so tiep tuc huong chinh sach an sinh  
xa hoi. Bao Chinh phu dien tu.  
Loc, N. X. (2021). Hieu qua trien khai Chuong  
trinh muc tieu quoc gia giam ngheo ben  
vung. Trang Thong tin dien tu Ban Dan toc  
tinh Kon Tum, ra ngay 31/5/2021.  
Loi, B. S. (2021). Chinh sach an sinh xa hoi doi  
vung dong bao dan toc thieu so va mien nui  
giai doan 2011-2021, giai phap thuc hien  
trong giai doan 2021-2030. Tap chi Nghien  
cuu Dan toc, 10(1).  
Nam, P. (2021). Viet Nam tro thanh hinh mau ve  
xoa doi, giam ngheo. Trang tin dien tu Mat  
tran To quoc Viet Nam tinh Quang Tri, ra  
ngay 28/01/2021.  
Nguyen, B. (2021). Giam ngheo ben vung vung  
dong bao dan toc thieu so o Lao Cai: Dot  
pha vao 10 xa ngheo nhat. Bao dien tu Bien  
phong, ra ngay 06/6/2021.  
Oanh, N. T. K. (17/9/2020). Mot so giai phap  
day manh thuc hien chinh sach an sinh xa hoi  
doi voi vung dan toc thieu so. Tap chi Quan  
ly Nha nuoc dien tu.  
Phuong, M. (2019). Cac chinh sach an sinh xa  
hoi da tao dong luc giam ngheo cho vung  
dong bao dan toc thieu so và mien nui. Trang  
thong tin dien tu Ban Dan toc tinh Quang  
Binh, ngay 18/10/2019.  
Tuan, B. S. (19/4/2018). Day manh chinh sach  
an sinh xa hoi vung dong bao dan toc thieu  
so. Bao Nhan Dan dien tu.  
Van, T. (06/5/2021). Day manh thuc hien muc  
tieu giam ngheo da chieu, bao trum, ben  
vung den 2030. Bao dien tu Chinh phu.  
6
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO  
BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2011-2020 VÀ NHỮNG  
ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2025  
Tô Đức  
Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo  
Ngày nhận bài:  
07/10/2021  
Ngày phản biện: 27/10/2021  
Ngày tác giả sửa: 03/11/2021  
Ngày duyệt đăng: 25/11/2021  
Ngày phát hành: 30/11/2021  
DOI:  
ỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo  
chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần thực hiện mục tiêu  
H
tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu đặt ra của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững  
của nước ta. Các mục tiêu, chỉ tiêu về giảm nghèo luôn được xác định trong các văn kiện Đại hội Đảng,  
Nghị quyết và chương trình phát triển kinh tế-xã hội các cấp. Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội  
của đất nước, Nhà nước luôn bố trí, dành nguồn lực ngân sách; huy động nguồn lực trong nước và nước  
ngoài để bảo đảm thực hiện đầy đủ các chính sách, chương trình hỗ trợ người nghèo và địa bàn nghèo, đặc  
biệt là vùng lõi nghèo, trong đó, có các địa bàn đặc biệt khó khăn thuộc các tỉnh khu vực miền núi phía  
Bắc, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Tây Nam Bộ. Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu đạt  
được, đồng thời nêu một số khó khăn thách thức của công tác giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2011-  
2020, từ đó nghiên cứu những định hướng chiến lược đối với công tác này trong giai đoạn 2021-2025.  
Từ khóa: Chương trình mục tiêu quốc gia; Giảm nghèo bền vững; Định hướng chiến lược; Phát triển  
kinh tế-xã hội; Giai đoạn 2021-2025.  
Volume 10, Issue 4  
7
pdf 7 trang baolam 20220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 và những định hướng chiến lược trong giai đoạn 2021-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuong_trinh_muc_tieu_quoc_gia_giam_ngheo_ben_vung_giai_doan.pdf