Nhận diện chủ thể thẩm mĩ Tản Đà trong vị thế của một văn sĩ chuyên nghiệp

Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
109  
4(47) (2021) 109-116  
Nhận diện chủ thể thẩm mĩ Tản Đà trong vị thế của một văn sĩ  
chuyên nghiệp  
Identification of aesthetic subject - Tan Da as a professional writer  
Lê Thanh Sơn*  
Le Thanh Son*  
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam  
The University of Danang - University of Science and Education, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 14/4/2021, ngày phản biện xong: 19/4/2021, ngày chấp nhận đăng: 9/8/2021)  
Tóm tắt  
Có thể nói, trong khoảng hai mươi năm đầu của thế kỉ XX, sinh quyển văn hóa An Nam chứng kiến những bước ngoặt  
mang tính lịch sử. Giữa buổi giao thời văn hóa Á - Âu, tầng lớp nhà Nho mất dần vị thế xã hội và kéo theo những  
chuyển biến quan trọng trong xu hướng tiếp nhận văn chương của độc giả. Thích nghi nhanh chóng cùng những đổi  
thay đó, Tản Đà, từ một nhà Nho tài tử đã chuyển sang nghiệp sáng tác văn chương như một kĩ nghệ. Với những thành  
công vượt bậc trong văn nghiệp của mình, Tản Đà đã từng bước xác lập vị thế xã hội cho tầng lớp văn sĩ chuyên nghiệp  
và có nhiều đóng góp quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học.  
Từ khóa: Tản Đà; văn sĩ chuyên nghiệp; văn học cận đại; văn hóa giao thời.  
Abstract  
It can be said that An Nam culture biosphere witnessed historic landmarks in the first twenty years of the twentieth  
century. In the midst of the Asian-European cultural transition, the Confucian class gradually lost the social position and  
brought about important changes in the readers’ tendency to receive literature. To adapt quickly to those changes, Tan  
Da, an amateur Confucian, turned to literary writing as an industry. With the great success in his career, Tan Da steadily  
established a social position for the class of professional writers and made many important contributions to the  
modernization of literature.  
Keywords: Tan Da; professional writer; early modern literature; transitional culture.  
1. Đặt vấn đề  
đề cũ - mới, truyền thống - hiện đại, bản địa -  
ngoại lai, Tản Đà đã mạnh dạn dấn thân vào  
lĩnh vực mà trước đây các nhà Nho trung đại  
hoàn toàn xa lạ: Mưu sinh bằng chữ nghĩa và  
biến những tác phẩm văn chương thành thương  
phẩm để bán buôn trên các phố phường, hàng  
quán. Đây là điều chưa từng xuất hiện trong ý  
thức hệ phong kiến, nhưng nó lại mở ra một  
Nhìn lại toàn bộ văn nghiệp của Tản Đà,  
trong tương quan với thời thế, chúng ta thấy  
được năng lực thính nhạy và sự chuyên nghiệp  
đáng nể của kẻ tài tử “chân tâm với Nho học”  
nhưng lại theo đuổi nghiệp văn chương như  
một kĩ nghệ. Trong sinh quyển văn hóa phức  
tạp, với sự tranh chấp, biến động giữa các vấn  
*Corresponding Author: Le Thanh Son, The University of Danang - University of Science and Education, Vietnam  
110  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
đường hướng vô cùng tiềm năng cho thế hệ văn  
sĩ mới, ở thời điểm mà văn học Việt Nam bắt  
đầu vượt qua chặng sơ khởi của quá trình tái  
cấu trúc. Tuy xuất phát từ một nhà Nho được  
đào tạo bài bản trong nền giáo dục truyền  
thống, nhưng sau khi nếm trải những thất bại  
trong khoa cử, Tản Đà đã có những thay đổi  
bước ngoặt trong tư duy nghệ thuật và bắt đầu  
định hình con đường sáng tác văn chương một  
cách chuyên nghiệp. Đặc biệt, trong vai trò nhà  
báo/ chủ bút, Tản Đà đã có thêm cơ hội tiếp thu  
những màu sắc hiện đại từ văn hóa phương Tây  
và mang đến cho văn đàn nước nhà những  
luồng sinh khí tươi mới, thanh thoát. Với những  
thành công vượt bậc trong văn nghiệp của  
mình, Tản Đà đã từng bước xác lập vị thế xã  
hội cho tầng lớp văn sĩ chuyên nghiệp và có  
nhiều đóng góp quan trọng trong tiến trình hiện  
đại hóa văn học.  
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp  
thuần túy sang công nghiệp kĩ nghệ, mặt khác  
dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc  
chủ thể văn hóa. Bên cạnh mô hình “tứ dân”  
truyền thống gồm sĩ, nông, công, thương, xã  
hội bắt đầu xuất hiện những giai tầng mới như  
tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, công nhân… Điều  
đáng nói là, cùng với sự chuyển đổi của nền  
kinh tế thị thường, chính những con người này,  
từ vị trí “thiểu số”, “ngoại vi” trong cơ tầng văn  
hóa, đã dần dà trở thành “trung tâm”, định  
hướng những thay đổi trong dòng chảy ý thức  
hệ xã hội, làm lung lay niềm tin cố kết của cộng  
đồng với tầng lớp Nho học. Sự chuyển đổi  
mạnh mẽ của chủ thể văn hóa tất yếu dẫn đến  
những đổi thay về lối sống, quan niệm sống  
làm thay đổi hẳn bộ mặt đô thị Việt Nam. Cái  
tân kì, tiện lợi của văn minh vật chất, của văn  
hóa phương Tây có sức mạnh lôi kéo dần cư  
dân thành thị vào một lối sống mới, với rất  
nhiều những đổi thay trong cảm xúc, tâm lí, thị  
hiếu thẩm mĩ. Các nam nhân nhanh chóng thay  
những bộ khăn đóng, áo xếp bằng những bộ âu  
phục thời thượng, nữ nhi cũng để răng trắng và  
diện những bộ đồ “ngây thơ” cho hợp mốt thay  
vì giữ “nét cười đen nhánh sau tay áo” (Lưu  
Trọng Lư) với “khăn nhung quần lĩnh rộn ràng”  
(Nguyễn Bính). Trong bối cảnh văn hóa đó, các  
nhà Nho đã dần mất đi vị thế trong xã hội, dẫu  
họ vẫn cố níu giữ những nét đẹp mẫu mực một  
thời. Ảo tưởng về vị thế của mình, các nhà Nho  
loay hoay giữa việc gìn giữ cái cũ như một  
trách nhiệm và bài trừ cái mới một cách cố  
chấp. Chính điều này đã tạo ra khoảng cách rất  
lớn giữa tầng lớp cựu học và tân học, trong khi  
quá trình canh tân đất nước vẫn đang trong  
trạng thái dở dang, và thậm chí là mất phương  
hướng. Bước sang những năm 20 của thế kỉ  
XX, sự xâm lấn ngày càng sâu rộng của nền  
văn hóa mới và sự vận hành của nền kinh tế  
hàng hóa đã tẩy xóa đi gần hết những ý niệm về  
hình mẫu nhà Nho lí tưởng trong môi trường đô  
thị. Hơn nữa, thời đại mà yêu cầu cứu quốc,  
2. Nội dung  
2.1. Những biến chuyển trong sinh quyển văn  
hóa và sự xuất hiện hệ hình thẩm mĩ mới  
Trong khoảng thời gian cuối thế kỉ XIX, đầu  
thế kỉ XX, dưới ảnh hưởng của chính sách khai  
thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt  
Nam bắt đầu chứng kiến sự biến đổi mạnh mẽ  
từ gốc rễ ở tất cả các phương diện: Chính trị,  
kinh tế, văn hóa, giáo dục… Bước vào buổi  
giao thời “gió Á, mưa Âu”, cơ tầng xã hội Việt  
Nam thay đổi chóng mặt với sự hình thành của  
các đô thị lớn, xuất hiện tầng lớp thị dân mới và  
manh nha cơ chế thị trường. Tác giả Trần Đình  
Hượu đã chỉ ra những biến chuyển của xã hội  
thời đoạn này như sau: “Thay đổi bộ mặt thành  
thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế, dần  
dần quy tụ nông thôn quanh thành thị, thay đổi  
kết cấu xã hội, làm mất thế lực nhiều lực lượng  
bảo thủ, trì trệ, tạo điều kiện cho cái mới - sau  
khi đã thay da đổi thịt, biến hóa - có điều kiện  
từ thành thị tỏa về nông thôn chi phối sự phát  
triển theo kiểu các xã hội hiện đại” [2]. Điều  
đó, một mặt phản ánh những hệ quả của quá  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
111  
canh tân được đưa lên hàng đầu, thì các nhà  
Nho say mê với đạo Khổng, quấn quýt lấy văn  
chương, bảo vệ cái luân lí, đề cao cái thiên  
lương... đã ít nhiều vênh lệch với thời đại. Cho  
nên, dẫu có thông quán “thiên kinh vạn quyển”  
thì họ cũng trở nên lạc lõng với thời thế. Giờ  
đây, trong xu thế tiếp nhận, chuyện nhà Nho  
xuất thế hay nhập thế không còn được xã hội ca  
tụng, trọng vọng, thậm chí, xã hội còn cho rằng  
“nhà Nho hủ là hình ảnh tập trung mọi cái lạc  
hậu hèn kém […] vừa tự cao tự đại, vừa nô lệ  
không biết xấu hổ, vừa lên mặt cao đạo tiêu  
biểu cho thế đạo nhân tâm” [2]. Văn chương cổ  
xúy cho lối sống hưởng lạc của những nhà Nho  
tài tử như Nguyễn Công Trứ, Dương Lâm,  
Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh... từng bị lên án  
là xa rời thực tế, có ảnh hưởng tiêu cực với tinh  
thần chiến đấu của dân tộc. Dưới áp lực của  
môi trường văn hóa mới, dòng văn học truyền  
thống, mà đại diện là tầng lớp nhà Nho sáng  
tác, dần dần mất đi vị thế vốn có và nhường chỗ  
cho sự lên ngôi của nền văn học thị trường. Bởi  
đó là thứ văn chương được “hợp thức hóa”  
trước sự kiểm duyệt của chính quyền, lại được  
công chúng đô thị đón nhận nhiệt tình như là  
một “món ăn tinh thần”, “công cụ giải trí” đúng  
nghĩa, chứ không phải là thứ văn chương làm  
nhiệm vụ “tải đạo”, “luận chí”, vốn đã trở nên  
quá cũ kĩ và sáo mòn so với tư duy tiếp nhận  
của con người thời hiện đại.  
văn phẩm, bây giờ tác phẩm phải chạy theo  
người tiêu thụ” [2]. Vũ Ngọc Phan thì khẳng  
định sự hiện diện của một lớp nhà văn mới:  
“Nhà văn (theo nghĩa tôi dùng) là những người  
viết văn xuôi hay văn vần, có tính cách vĩnh viễn,  
đăng trong các báo chí hay trong những sách đã  
xuất bản, mà điều cốt yếu là những văn phẩm của  
họ đã được người đồng thời chú ý” [3]. Những  
thay đổi nhanh chóng này đã khiến thế hệ nhà  
Nho - với tư cách là những người sáng tác chủ  
đạo trong văn học cũ - trở nên bỡ ngỡ, choáng  
ngợp và cả những xung đột, bất mãn. Họ không  
quen với hình ảnh của một người cầm bút  
chuyên tâm vì “đồng tiền bát gạo”, cũng không  
dễ dàng chấp nhận một thứ văn chương với  
thuộc tính “hàng hóa”, chạy theo “nhu cầu” của  
xã hội mà quên đi việc “luận chí, tải đạo”. Vì lẽ  
đó, có một thời, những nhà Nho đổi “bút lông”  
qua “bút sắt” đã trở thành đối tượng công kích  
mạnh mẽ:  
Thơm thối lẫn nhau mùi tắc họng  
Ngọt ngào đầu miệng lưỡi không xương  
(Phan Điện)  
Thám hoa gì nó, thám hoa… xòe  
Mỗi quyển tam nguyên ních chẻ hoe  
(Nguyễn Thiện Kế)  
Nào có nghĩa gì cái chữ nho  
Ông nghè ông cống cũng nằm co  
(Tú Xương)  
Với những thay đổi bước ngoặt trong sinh  
quyển văn hóa, văn chương của thời đại mới  
không phải để “tải đạo” hay thi cử chốn quan  
trường, nó trở thành “món hàng” để bán buôn  
giữa phố phường, thông qua sự hỗ trợ của kĩ  
thuật ấn loát và kênh trung chuyển báo chí. Khi  
nghiên cứu về văn học Việt Nam trong khoảng  
30 năm đầu thế kỉ XX, Trần Đình Hượu đã chỉ  
ra sự thay đổi trong mục đích sáng tác văn học:  
“Thay vì việc trước thư lập ngôn là để di dưỡng  
tính tình và giáo dục con cháu, để thể hiện tâm,  
chí, đạo, nhà văn sáng tạo tác phẩm như một kế  
sinh nhai, thay vì việc độc giả trước đây đi tìm  
Trước đó, văn chương trung đại gắn chặt với  
tính chất giáo huấn và công thức mẫu mực, cho  
nên, từ bản chất đến mục đích, thứ văn chương  
này không đề cao tính sáng tạo ở người nghệ sĩ  
và hoàn toàn mang tính chất nghiệp dư. Hơn  
nữa, với văn hóa phong kiến, sáng tác văn  
chương không phải là nghề, và người viết - dù  
có là hiển nho hay hàn sĩ, hành đạo hay ẩn dật,  
quan lại hay văn nhân - thì cũng chưa bao giờ  
lấy nghiên bút, chữ nghĩa làm phương tiện  
“kiếm cơm”. Bởi vậy, về cơ bản, họ nhận được  
sự sủng hạnh từ xã hội, có vị thế như những  
112  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
Tản Đà đã trầy trật trong chốn khoa trường  
nên không thể dùng tài để “trí quân trạch dân”,  
lại gặp phen “gió Á mưa Âu” lẫn lộn, ông  
“ném” tất cả cái tài của mình vào chốn văn  
chương, chữ nghĩa, rồi “quang gánh” bán buôn  
từ phố phường trần gian, đến chợ búa trên  
“thiên giới”:  
“tao nhân mặc khách”, thuần khiết trước cái  
Đẹp. Giờ đây, văn chương hiện đại hướng đến  
nhu cầu thưởng thức thẩm mĩ của quần chúng,  
mà trước hết là tầng lớp thị dân. Họ sẵn sàng  
trả tiền cho những tác phẩm văn học mà họ cảm  
thấy muốn đọc, cần đọc, phải đọc. Từ thực tế  
đó, người viết nhận ra có thể kiếm tiền từ độc  
giả thông qua việc bán các tác phẩm của mình,  
cho nên, họ ý thức được việc sáng tác văn  
chương phải trở nên chuyên nghiệp và bắt kịp  
nhu cầu của độc giả. Viết văn là kĩ nghệ và  
người sáng tác phải vật lộn với “cơm áo gạo  
tiền” như bao nghề mưu sinh khác, đó là một  
thực tế, cho nên không phải khi nào kẻ cầm bút  
cũng được tôn trọng như vị thế đã từng có trong  
quá khứ. “Xã hội tư sản là xã hội cạnh tranh để  
kiếm lời. Nó cũng cần thứ tài để giữ trật tự, để  
đi xâm lược…, nhưng trước hết nó cần thứ tài  
giúp nó kinh doanh kiếm được nhiều tiền” [2],  
vì vậy, đối với người sáng tác, sự thay đổi  
mang tính bước ngoặt này được xem như một  
thách thức, hơn là một cơ hội.  
Chữ nghĩa Tây, Tàu trót dở dang  
Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng.  
[8]  
Ngay từ khi bước chân vào chốn văn  
chương, Tản Đà đã tự đặt mình vào vai vế của  
một người phụng sự nghề văn: “Cái nghề văn  
tự này tuy nó là một nghề bạc bẽo nhưng cũng  
phải thành tâm với nó thì mới được […]. Nếu  
bây giờ có đi buôn gỗ lãi ngay tiền vạn, Hiếu  
đây cũng không buôn, bổ đi làm tổng đốc lương  
tháng bốn trăm, Hiếu đây cũng không làm.  
Hiếu chỉ phụng sự nghề văn thơ mà thôi” [10].  
Không chỉ tròn vai trong vị thế của một người  
sáng tác, Tản Đà còn đem cái mộng văn  
chương của mình vào nghiệp báo chí. Lập ra tờ  
An Nam tạp chí (1926), trước hết, Tản Đà  
muốn khẳng định tên tuổi của mình trong vị thế  
của một ông chủ báo để phần nào quên đi cái  
mặc cảm đổ vỡ trong đường công danh, sau đó,  
ông cũng muốn dùng cái sự làm báo của mình  
để vị đời một cách triệt để, góp phần hiện thực  
hóa hoài bão hành đạo và gìn giữ thiên lương  
trong nhân quần. Xác định việc theo đuổi  
nghiệp văn một cách chuyên nghiệp và thành  
tâm đến vậy, cho nên, dẫu có mang tiếng là  
“phá nghiệp”, “kiếm ăn xoàng” - như cách ông  
đã nói - thì đó vẫn là cái nghề “trong sạch” cho  
một kẻ tài tử giữa thời cuộc nhiễu nhương.  
Không cố chấp theo đuổi đường khoa cử, cũng  
không “bẻ bút” theo chính quyền bảo hộ, Tản  
Đà chọn cho mình một con đường làm văn  
chương độc lập, tự chủ. Sự thành công của Tản  
Đà ngay trong những năm đầu bước vào làng  
văn là minh chứng xác quyết cho sự thích ứng  
nhạy bén của một nhà Nho chuyển sang làm  
văn sĩ chuyên nghiệp: “Tản Đà là người đầu tiên  
2.2. Tản Đà - người xác lập vị thế xã hội cho  
tầng lớp văn sĩ chuyên nghiệp  
Giữa cái thời “gió Á, mưa Âu”, với những  
nhá nhem, đảo điên ấy, Tản Đà xuất hiện với tư  
cách là kẻ “đem văn chương đi bán phố  
phường”, nhưng lại nhanh chóng chiếm được  
sự cổ vũ nhiệt tình từ phía độc giả và mang đến  
những luồng sinh khí mới mẻ, tươi mát cho văn  
đàn. Tản Đà là ánh hồi quang cuối cùng của  
tầng lớp Nho học, và cũng là người đầu tiên đặt  
nền móng cho việc định hình phẩm chất và xác  
lập vị thế xã hội của nhà văn chuyên nghiệp  
trong thời đại mới. Chính cái “dấu nối” trong  
cấu trúc chủ thể này, đã đưa Tản Đà vào vị thế  
của một “người mở đường” táo bạo và tinh anh.  
Nó quan trọng đến nổi, mọi sự nhận diện và  
miêu tả về quá trình hiện đại hóa văn học dân  
tộc, đều không thể bỏ qua những ảnh hưởng  
của Tản Đà trong buổi giao thời này.  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
113  
trong lịch sử văn học tìm được một lượng độc  
giả khổng lồ trong một thời gian kỉ lục” [5]. Kết  
quả là, khi mới trình làng Khối tình con I (1916),  
cái tên Tản Đà đã thực trở thành một hiện  
tượng hiếm hoi trên văn đàn gây ra những “đợt  
sóng” liên hồi trong tiếp nhận, chiếm được sự  
quan tâm của cả học giả lẫn độc giả. Thật khó  
có thể mường tượng ra rằng, một tay cự phách  
trong làng văn “bác cổ”, một kẻ thư sinh từng  
hai lần thi rớt lại có thể thích nghi và chiếm  
lĩnh văn đàn nhanh chóng bằng một cuốn “văn  
chơi” như Khối tình con. Với một văn sĩ  
chuyên nghiệp, không gì hạnh phúc hơn việc có  
được sự đón nhận nhiệt thành của công chúng  
độc giả. Từ những thành công ban đầu đó, Tản  
Đà nghiêng hẳn sang con đường sáng tác  
chuyên nghiệp, với hàng loạt các tác phẩm liên  
tiếp ra đời: Khối tình con II, Giấc mộng con,  
Thần tiền, Còn chơi… Trước đó, những giềng  
mối cố kết với Nho học, với nền văn chương  
khoa cử, đã phần nào trói cột trí tưởng tượng và  
khả năng sáng tạo thiên phú của Tản Đà trong  
những khuôn thước chật chội. Vì thế, thi rớt  
không có nghĩa là Tản Đà bất tài, mà rằng, nền  
văn chương khoa cử ấy không dung chứa nổi sự  
phóng túng trong cá tính của thi nhân, và đương  
nhiên, nó cũng không chấp nhận những phá  
cách đi trước thời đại của con người tài hoa  
này. Chính điều ấy đã tạo nên những xung đột  
trong quan niệm sáng tác của Tản Đà, mà “độ  
lệch” giữa trách nhiệm của một nhà Nho tài tử  
với khát vọng sáng tạo của một kẻ cầm bút  
chuyên nghiệp đã được nhen nhóm ngay từ  
những năm ông thi rớt:  
thức, não trạng của Tản Đà đã ngấm ngầm nuôi  
dưỡng cái khao khát “tếch mái rừng Nhan,  
Khổng”, “toan vượt bể Trình, Chu” (Cao Bá  
Quát) như những nhà Nho tài tử trước đó, và  
hướng đến thang giá trị cá nhân như một nhu  
cầu thẩm mĩ tất yếu của con người thời đại mới.  
Vả lại, va chạm trong một xã hội đô thị với  
những thay đổi bước ngoặt về tư tưởng nhân  
sinh, cùng với việc niềm tin của một nền cổ học  
đã bị xói mòn nghiêm trọng dưới hấp lực của ý  
thức hệ hiện đại, Tản Đà được đẩy đưa gần hơn  
tới khát vọng vượt thoát và vươn tới sự tự do  
sáng tạo. Khi nghiên cứu những chuyển biến  
trong tư duy sáng tác của Tản Đà, tác giả Trần  
Ngọc Vương đã nhận định rằng: “Chính sự  
khác biệt đến mức xung đột giữa các chuẩn  
mực của thơ được tạo tác trong niềm hân hoan  
của cảm hứng sáng tạo đích thực với thơ trong  
văn chương khoa cử đã khiến cho Tản Đà gặp  
lại cái bi kịch của rất nhiều danh sĩ thi nhân  
trong quá khứ” [6]. Chỉ có điều, lần này, “bi  
kịch” ấy lại định hình một Tản Đà - trong dáng  
dấp của một văn sĩ chuyên nghiệp. Đó cách  
phản ứng rất nhạy bén, tinh tế, vừa hợp tình,  
hợp lí, vừa hợp thời, hợp vận của Tản Đà. Từ  
một nhà Nho với quan niệm sáng tác văn  
chương là phương tiện để “tải đạo”, giờ đây  
Tản Đà xem viết văn như là một kĩ nghệ, vừa  
“lập ngôn”, “lập chí”, vừa là một nghề “bán văn  
buôn chữ kiếm tiền tiêu”:  
Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo,  
Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu.  
[8]  
Văn chương trở thành hàng hóa, sáng tác trở  
thành một kĩ nghệ, người viết văn trở thành kẻ  
buôn chữ, đó đều là những cú sốc với văn hóa  
phong kiến, cũng như hoàn toàn lạ lẫm trong  
thế giới quan của nhà Nho trước đây. Nhìn  
nhận lại quá trình hình thành của tầng lớp văn  
sĩ chuyên nghiệp đầu tiên, tác giả Trần Đình  
Hượu đã chỉ ra: “... đem văn chương bán phố  
phường là đi vào cuộc đời một nhà văn. Cuộc đời  
đó đòi hỏi Tản Đà trước hết phải thành thị hóa,  
Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh  
Khuyên khuyên điểm điểm có hay không.  
Bởi ông hay quá ông không đỗ  
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.  
[8]  
Không thể phủ nhận, mối quan hệ cố kết với  
Nho học thời thơ ấu đã hun đúc nên một hồn  
thơ mang phong cốt truyền thống ở Nguyễn  
Khắc Hiếu. Nhưng phải chăng, từ trong vô  
114  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
phải viết văn là một nghề nghiệp, điều mà nhà  
Nho trước đây chưa biết đến” [2]. Nhưng thời  
thế đã thay đổi, một xã hội được vận hành trên  
quy luật của đồng tiền và ý thức hệ tư bản, thì  
tất cả sản phẩm của con người đều có thể trở  
thành hàng hóa. Chính những đổi thay mau lẹ  
đó, đã khiến những nhà Nho đổi “bút lông sang  
bút sắt” như Tản Đà bước vào vòng xoáy của  
kim tiền nhưng cũng đồng thời mang theo sự  
dùng dằng với “cửa Khổng, sân Trình”:  
thư cao”, trở thành một món hàng, còn người  
sáng tác từ vị trí “tao nhân mặc khách”, trở  
thành một văn sĩ lăn lộn giữa cuộc đời:  
Khi làm chủ báo, lúc viết mướn  
Hai chục năm dư cảnh khốn cùng.  
Trần gian thước đất vẫn không có  
Bút sắt chẳng hơn gì bút lông.  
[8]  
Chính Tản Đà đã từng tâm sự: “Tôi muốn  
thơ văn của tôi được phổ thông trong đám bình  
dân. Sách của tôi sẽ bán rất rẻ cho những ông  
hàng xén để các ông này đem bán rong phố hay  
ở các chợ quê” [8]. Vậy là, mang văn chương  
“quang gánh” từ ngõ ngách phố phường đến  
tiên giới xa xôi, Tản Đà vướng vào cái nỗi lo  
mà trước đây chưa từng xuất hiện trong tâm trí  
của người sáng tác, đó là lo văn ế:  
Bây giờ anh đổi lông ra sắt  
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?  
[8]  
Văn chương từ chỗ “tâm, chí, đạo” chuyển  
sang “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, nhà  
Nho tài tử tạm gác lại cái thú rong chơi, hưởng  
lạc để đối diện với cuộc sống chìm nổi, tục lụy:  
Cuộc trần thế kiếm ăn chẳng dễ  
Rẻ rúng thay là nghệ làm văn!  
Thâu đêm hao tổn tinh thần  
Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo,  
Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu.  
Quanh năm luống những lo vì ế,  
Đèn xanh chiếc bóng xoay vần từng câu.  
Thân thế xem thua chú hát chèo.  
[8]  
[8]  
Đó là sự thật trần trụi trong môi trường đô  
thị nước ta những năm đầu thế kỉ XX, nơi mà  
bất kì thứ gì cũng có thể quy đổi ra hàng hóa và  
văn chương cũng vì thế mà bị ảnh hưởng ít  
nhiều bởi thời cuộc. Hầu như, thi nhân không  
còn thanh nhàn để sáng tác và thưởng thức văn  
chương như trước đây, thay vào đó là cái lo  
lắng tầm thường của một kẻ tiểu thương. Lúc  
thơ văn ế ẩm, tạp chí đình bản, kẻ văn sĩ cũng  
lâm vào cảnh túng quẫn, bi đát:  
Xưa, đem bút mực để tỏ lòng, luận chí nên  
thi nhân là “tao nhân mặc khách”; nay, đem  
chữ nghĩa đi “lôi thôi” với đời, chưa biết là  
được mất hay hơn thua, nhưng vì áp lực đồng  
tiền, vì cái nghèo đeo đẳng, kẻ cầm bút dẫu biết  
là cái nghề “rẻ rúng” mà không dễ gì thoát ra:  
Một mối tơ tình buộc chết ai  
Bán văn buôn chữ kiếp nào thôi.  
Ruột tầm rút mãi chưa thành kén  
Văn chương hạ giới rẻ như bèo  
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.  
Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều  
Có nhẽ lôi thôi suốt cả đời!  
[8]  
Nổi trôi với xã hội kim tiền, trong sự vận  
hành của cơ chế văn hóa mới, người cầm bút bỡ  
ngỡ trước những đổi thay chóng mặt từ nội  
dung phản ánh đến hình thức nghệ thuật, đặc  
biệt là sự chuyển đổi trong xu hướng tiếp nhận.  
Nếu văn hóa phong kiến dành cho họ sự sủng  
hạnh tuyệt đối, thì văn hóa tư sản trao cho họ  
những thử thách cực hạn. Văn chương từ chỗ  
cao quý “Vạn ban giai hạ phẩm/ Duy hữu độc  
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.  
Để rồi:  
Bị gậy lang thang người thủy hạn  
[8]  
Thơ văn lận đận, khách phong trần. [8]  
Có thể nói, ở văn chương Tản Đà, người ta  
tìm thấy đủ cả những vinh quang và tủi nhục  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
115  
của người cầm bút trong thời đại mới. Cái thời  
mà “cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân  
Diệu), cho nên, thi nhân cũng từ đó mà ít nhiều  
bị tác động bởi thời cuộc. Những phản hồi từ  
phía độc giả là rất quan trọng, bởi chính họ mới  
là người “tiêu thụ” sản phẩm mà văn sĩ tạo ra.  
Văn chương không còn là quà tặng để thù tạc,  
độc giả phải bỏ tiền ra mua về thưởng thức, vì  
thế, văn sĩ cũng không thể khoanh tay bằng  
lòng với những gì mình viết ra, nếu như nó  
không phù hợp với thị hiếu của độc giả. Bản  
chất của xã hội kim tiền quan tâm nhiều đến  
những giá trị thực dụng và “vòng xoáy tư bản”  
không ưu tiên hay đảm bảo cho bất kì ai, bất kì  
tác giả nào. Thực tế, nhu cầu độc giả đưa ra  
một thách thức cực hạn cho người sáng tác,  
không phải cứ tác giả nổi tiếng là tác phẩm của  
họ sẽ có được thành công, điều này Tản Đà là  
người hiểu hơn ai hết, bởi chính ông đã từng  
trải nghiệm những thử thách khắc nghiệt trong  
vị thế chủ bút của tờ An Nam tạp chí. Vì vậy,  
Tản Đà ý thức rất rõ, bên cạnh nỗ lực sáng tạo,  
người sáng tác còn phải biết lắng nghe những  
phản hồi từ phía độc giả, mà việc đầu tiên, là  
anh ta phải đọc và thẩm định chính những “đứa  
con tinh thần” của mình. Điều này, trước đây  
không có trong suy nghĩ của các nhà Nho, bởi  
họ cho rằng, thứ họ viết ra là “khuôn vàng,  
thước ngọc”, được vận dụng từ những mô thức  
thẩm mĩ đã được kiểm định và tồn tại qua hàng  
ngàn năm. Với quan niệm thẩm định tác phẩm  
[của chính mình] trở thành một phẩm chất của  
người sáng tác chuyên nghiệp, Tản Đà đã biến  
mình thành một độc giả, là “một nhà phê bình  
đầu tiên có thẩm quyền nhất để nói về chính  
mình” [1]. Có thể nói, không ai trong thời đại  
đó làm nhiều thơ tự thuật, tự trào và tự vịnh  
như Tản Đà, và cũng không khó để người ta tìm  
thấy một tác giả trong vai vế của một độc giả  
như Tản Đà. Thậm chí, trong Giấc mộng con,  
tác giả mượn thư giả lời cố nhân là cô Chu  
Kiều Oanh mà bình rằng: “Cố nhân xem tập  
vận văn của tôi mà bảo rằng: đầu đề bài Muốn  
làm thằng Cuội, là vì nhân tư tưởng chán đời  
mà sinh ra làm văn, nhưng lại có một câu “dặm  
đò” đúng kết sau, thời cõi đời rút lại không  
chán được, cố nhân cũng đã biết”, thời có người  
xem văn chương của tôi ở trong đời chăng chưa  
ai được như cố nhân” [9]. Điều này, một mặt, là  
thuộc tính cố hữu của một kẻ tài tử, ngạo nghễ  
vốn tự phụ và cậy tài, nhưng mặt khác cho thấy  
Tản Đà là một người sáng tác chuyên nghiệp và  
ý thức được sự đón nhận của độc giả đối với  
văn chương của mình là quan trọng như thế  
nào. Vì vậy, việc tự phê bình chính tác phẩm  
của mình cũng là một cách để Tản Đà nhìn  
nhận, lắng nghe bản thân, đồng thời quán xuyến  
được phần nào sự tiếp nhận của độc giả. Tác  
giả Huỳnh Phan Anh, khi phác thảo những  
khuôn diện độc đáo trong chủ thể Tản Đà, đã  
chỉ ra rằng: “Tản Đà nói về ông? Không. Ông  
dọn đường chỉ lối cho kẻ khác nói về ông, đến  
với ông. Lời nói (của Tản Đà) chắc hẳn sẽ làm  
thất vọng nhiều người […]. Người ta sẽ nghi  
ngờ. Người ta sẽ nêu những câu hỏi thắc mắc.  
Những nghi ngờ và thắc mắc do chính lời nói  
của Tản Đà khơi lên Tản Đà” [1]. Đó chính là  
dáng dấp của một văn sĩ chuyên nghiệp, với sự  
tự phụ cao ngất và lòng tự trọng đáng kính nể.  
Giữa bối cảnh xã hội chạng vạng chất chứa  
nhiều rối ren, đôi lúc, Tản Đà có thể chênh  
chao trước thời cuộc, có thể “nôm na phá  
nghiệp kiếm ăn xoàng”, nhưng sau cùng, ông  
vẫn giữ lại cho mình sự khoái hoạt và một  
phong cách văn chương độc đáo: “[…] rốt cục,  
ngông thành một triết lí của kẻ chiến bại tự  
trọng. Hơn nữa, nó thành một bản ngã thứ hai  
của Nguyễn Khắc Hiếu tiên sinh. Nó là dấu  
hiệu của tài hoa” [4].  
3. Kết luận  
Sự giao thoa, xáo trộn và cả những xung đột  
gay gắt trong xã hội Việt Nam thời điểm cuối  
XIX đầu thế kỉ XX trên phương diện văn hóa cơ  
hồ đã trở thành một trục dẫn tư duy quan trọng,  
một cơ hội hiếm có để nhà Nho như Tản Đà  
116  
Lê Thanh Sơn / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 109-116  
dấn thân vào con đường hoàn toàn mới mẻ:  
sáng tác văn chương như một kĩ nghệ. Chính vì  
thế, sự phức hợp trong cấu trúc chủ thể Tản Đà  
không chỉ được nhận diện trên cương vị của  
một nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo,  
nhà dịch thuật, mà quan trọng hơn, ở Tản Đà  
còn là sự chồng lấn giữa hai hình thái chủ thể  
đặc trưng cho hai sinh quyển văn hóa: nhà Nho  
tài tử (truyền thống) và văn sĩ chuyên nghiệp  
(hiện đại). Dẫu thành công không phải lúc nào  
cũng tìm đến với ông, và cái nghèo vẫn luôn  
đeo đẳng cho đến khi ông về trời, nhưng không  
vì thế mà nhòa đi những ảnh hướng to lớn của  
Tản Đà trong tiến trình hiện đại hóa văn học.  
Chính Tản Đà, với văn nghiệp vô cùng phong  
phú, đa dạng, đã bắt đầu định hình phẩm chất/  
vị thế xã hội cho nhà văn chuyên nghiệp, hay  
nói cách khác, kể từ Tản Đà trở về sau, người  
nghệ sĩ đã tạo dựng được một hệ giá trị độc lập  
để đánh dấu sự tồn tại của mình trong cộng  
đồng: thế giới nghệ thuật gắn liền với sự sáng  
tạo của cá nhân. Trong thế giới “tự trị” ấy, văn  
chương không còn là phương tiện chuyên biệt  
để chuyển tải luân thường đạo lí, phép tắc xã  
hội, và nhà văn chuyên nghiệp cũng không phải  
là hiện thân của một “nhà triết thuyết”, cổ xúy  
cho những hệ tư tưởng, đạo đức gắn chặt trong  
mối quan hệ với nhà cầm quyền; từ đây, người  
nghệ sĩ xác lập một thế giới nghệ thuật riêng  
biệt mà ở đó cái tôi được “vẫy vùng” với những  
quan niệm thẩm mĩ độc đáo và hình thức nghệ  
thuật mới mẻ, hiện đại.  
Tài liệu tham khảo  
[1] H.P. Anh. (1972), Đi tìm tác phẩm văn chương, Nxb  
Đồng Tháp.  
[2] T.Đ. Hượu, L.C. Dũng. (1988), Văn học Việt Nam  
giai đoạn giao thời 1900 - 1930, Nxb Đại học và  
Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội.  
[3] V.N. Phan (1960). Nhà văn hiện đại (quyển nhất),  
Nxb Thăng Long, Sài Gòn.  
[4] N.H. Sơn, T.B. Đĩnh sưu tập, giới thiệu. (2007),  
Trương Tửu - Tuyển tập nghiên cứu phê bình, Nxb  
Lao động, Hà Nội.  
[5] T.N. Vương. (1998), Văn học Việt Nam dòng riêng  
giữa nguồn chung, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
[6] T.N. Vương, “Sáng tác của Tản Đà nhìn từ hệ thống  
chủ đề, đề tài và thể loại”, Tạp chí Nghiên cứu văn  
học, số 6 (568), tháng 6.2019, tr.3-tr.15.  
[7] N.K. Xương. (1997), Tản Đà trong lòng thời đại,  
Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.  
[8] N.K. Xương. (2002), Tản Đà toàn tập (tập 1), Nxb  
Văn học, Hà Nội.  
[9] N.K. Xương. (2002), Tản Đà toàn tập (tập 2), Nxb  
Văn học, Hà Nội.  
[10]N.K. Xương. (2002), Tản Đà toàn tập (tập 3), Nxb  
Văn học, Hà Nội.  
pdf 8 trang baolam 20400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận diện chủ thể thẩm mĩ Tản Đà trong vị thế của một văn sĩ chuyên nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_dien_chu_the_tham_mi_tan_da_trong_vi_the_cua_mot_van_si.pdf