Tái dựng lịch sử ngôi chùa Xiển Pháp qua văn bia và tài liệu Hán Nôm liên quan

Tái dựng lịch sử ngôi chùa Xiển Pháp  
qua văn bia và tài liệu Hán Nôm liên quan1  
Nguyễn Đình Hưng(*)  
Tóm tắt: Xiển Pháp là ngôi chùa được nhắc tới trong các nghiên cứu lịch sử Phật giáo  
và văn hóa in ấn truyền thống sử dụng mộc bản tại Việt Nam. Tuy nhiên, tư liệu trực tiếp  
đề cập tới lịch sử của ngôi chùa này là hai tấm bia đá hiện đang nằm tại nền chùa cũ lại  
chưa từng được tìm hiểu một cách đầy đủ. Nghiên cứu này, thông qua việc tìm hiểu kỹ  
lưỡng hai tấm bia này kết hợp với một số tư liệu Hán Nôm hữu quan, tái dựng lịch sử hình  
thành của ngôi chùa Xiển Pháp vào cuối thế kỷ XIX, đồng thời đặt ra nghi vấn về cuộc  
đời tu hành của Hàn Thái Ninh - vị trụ trì chùa Xiển Pháp.  
Từ khóa: Chùa Xiển Pháp, Tính Định, Hàn Thái Ninh, Văn bia, Tịnh Độ tông  
Abstract: Xien Phap monastery is mentioned in the studies of Buddhist history and its  
woodblocks printing culture in Vietnam. However, the two steles, which are the direct  
reference to the history of this monastery, located at the foundation of the old temple have  
never been fully studied. This article by studying thoroughly these two steles together with  
related Sino-Nom sources, has reconstructed the history of the formation of Xien Phap  
monastery in the late nineteenth century, and questions the life of Han Thai Ninh - the  
abbot of this monastery.  
Keywords: Xien Phap Monastery, Tinh Dinh, Han Thai Ninh, Stele, Pure Land School  
1. Chùa Xiển Pháp qua những nghiên cứu nói riêng2 trong phạm vi chủ đề nghiên cứu  
đã công bố 1  
lịch sử Phật giáo và văn hóa in ấn truyền  
2(*)  
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, đã thống sử dụng mộc bản tại Việt Nam. Tại  
xuất hiện một số nghiên cứu về các cơ sở in bài viết đầu tiên của mạch nghiên cứu đó,  
ấn nói chung và cơ sở in ấn của Phật giáo Mai Hồng và Nguyễn Hữu Mùi (1989)  
2 Xem thêm: Mai Hồng, Nguyễn Hữu Mùi (1989),  
“Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách Hán Nôm”,  
1
Bài viết nằm trong khuôn khổ Đề tài khoa học  
cấp cơ sở năm 2020 “Nghiên cứu di văn chùa Xiển  
Pháp” do TS. Nguyễn Tô Lan làm chủ nhiệm, Viện  
Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì.  
Tạp chí Hán Nôm, số 1, tr. 43-55, công bố một danh  
sách gồm 318 nhà in ở Việt Nam trong quá khứ, kèm  
thông tin về khoảng thời gian hoạt động, số lượng  
sách in, chủ đề in; Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc  
(*) ThS., Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Việt, Cung Khắc Lược (2000), Đồ họa cổ Việt Nam,  
Khoa học xã hội Việt Nam;  
Nxb. Mỹ thuật, bổ sung thêm 18 cơ sở in sách so với  
nghiên cứu của Mai Hồng và Nguyễn Hữu Mùi.  
Tái dựng lịch sử…  
21  
Đối với tấm bia vô danh, Nguyễn Thị  
Thuận mô tả nội dung “phần trước nói về  
nhân duyên Ngài ngộ đạo, phần sau miêu  
tả hệ thống kiến trúc chùa Xiển Pháp, và  
có tên một số người phát tâm cúng tiền xây  
chùa” (Nguyễn Thị Thuận, 2014: 16), kèm  
theo đó là phiên âm và bản dịch của một  
đoạn trong văn bia (Nguyễn Thị Thuận,  
2014: 16-17)2.  
đã nhắc tới tên chùa Xiển Pháp 闡法 với  
như là một cơ sở in ấn Phật giáo lớn ở Hà  
Nội “giữ vai trò quan trọng trong lịch sử  
in ấn của nước ta” thời cận đại, hoạt động  
trong khoảng thời gian từ năm 1882-1898,  
in được 15 tác phẩm kinh Phật. Vương Thị  
Hường (2013: 62-67) cũng đã công bố một  
danh mục sách in ấn tại chùa Xiển Pháp  
gồm 20 tác phẩm.  
2. Điền dã thu thập tư liệu văn bia chùa  
Xiển Pháp  
Trong những nghiên cứu nêu trên, các  
tác giả mới chỉ đề cập tới lượng sách được  
khắc in ở chùa Xiển Pháp, lịch sử của ngôi  
chùa này tới năm 2014 mới hé lộ được  
một phần qua nghiên cứu của Nguyễn Thị  
Thuận Ở chương 1 của nghiên cứu, tác  
giả đã cung cấp đôi nét thông tin về vị trụ  
trì “Bồ Tát giới pháp danh Tính Định” và  
thông tin về chùa qua hai tấm bia đá còn  
lưu lại. Tính Định được giới thiệu là người  
làng Đồng Dương 桐楊(Hà Đông), tên thật  
là Hàn Thái Ninh 韓泰寧 (1842-1901),  
xuất gia với sư tổ Thích Chính Bỉnh 釋正  
秉 tông Tào Động ở chùa Hòe Nhai 槐  
街, tự là Tâm Châu 心珠1, pháp danh Tính  
Định 性定 (Nguyễn Thị Thuận, 2014: 12).  
Hai tấm bia đá của chùa Xiển Pháp nằm  
trong ngôi nhà số 1, ngách 2, ngõ 20, phố  
Cát Linh (Hà Nội), gắn trên tường cũ của  
chùa (nơi đây người dân đã chia nhau làm  
đất ở). Một tấm bia được giới thiệu có tên là  
Xiển Pháp tự bi ký 《闡法寺碑記》, tấm  
còn lại vô danh. Phụ lục của nghiên cứu  
bao gồm ảnh màu của hai tấm bia này. Tác  
giả không dịch toàn văn bia Xiển Pháp tự bi  
ký 《闡法寺碑記》, chỉ giới thiệu sơ lược  
một số nội dung nói về “tiểu sử lập chùa”  
và hiện trạng bia “vết gạch xóa rất nhiều  
không thể đọc hết từng chữ” (Nguyễn Thị  
Thuận, 2014: 16).  
Nghiên cứu lịch sử in ấn của một ngôi  
chùa, cần phải tái hiện được diện mạo của  
ngôi chùa đó qua các thông tin về người trụ  
trì, tông chỉ tu hành, nguồn sách vở, quan  
điểm khắc in… Với trường hợp chùa Xiển  
Pháp, tư liệu trực tiếp nhất có thể gợi mở  
những thông tin đó chính là hai tấm bia còn  
lại ở nền chùa cũ. Vì hai tấm bia này chưa  
được dịch trọn vẹn nên chúng tôi thấy rằng  
cần phải sưu tầm tư liệu này, phiên dịch và  
phác họa một hình ảnh chân xác hơn về  
ngôi chùa Xiển Pháp.  
Theo chủ nhân ngôi nhà nơi có hai tấm  
bia, gia đình đã chuyển về đây sinh sống  
vào khoảng những năm 1980. Khi đó, hai  
tấm bia đá được gắn trên tường ở vị trí đó  
từ trước.  
Cả hai tấm bia cùng có tên là Xiển Pháp  
tự bi ký 《闡法寺碑記》3, đều được dựng  
vào năm 1881. Một số hàng cuối cùng của  
cả hai tấm bia hiện không thấy chữ do bị  
tường xây lên che lấp.  
Tấm bia thứ nhất có trán bia cong, kích  
thước 78x58 cm, có 18 dòng, mỗi dòng có  
khoảng 40-50 chữ. Bề mặt ở gần chân bia  
2
Bản dịch này là đoạn “Dư hạnh hữu duyên ư Phật  
giáo…” tới cuối tấm bia, không có niên đại. Nửa  
đầu bia không được dịch.  
Không có nguồn tư liệu đối chiếu nào cho biết vị 3 Khác với thông tin một tấm bia vô danh như trong  
1
này tên tự là Tâm Châu 心珠.  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận (2014).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020  
22  
có những vết vỡ khá lớn. Nội dung tấm  
bia này là khoán ước mua bán đất giữa  
các ông Hàn Thái Ninh, Quan Tâm Bình  
關心平, Lục Trung Hòa 陸中和 và bà  
Doãn Thị Xuyến 尹氏釧 để mua mảnh  
đất tại thôn An Trạch 安宅 với mục đích  
dựng chùa. Chúng tôi tạm gọi đây là bia  
khoán ước.  
Tấm bia thứ hai có hình chữ nhật, kích  
thước 80x58 cm, có 18 dòng, mỗi dòng  
khoảng 38-40 chữ, tương ứng với tấm bia  
vô danh đã được nhắc tới trong nghiên cứu  
của Nguyễn Thị Thuận (2014). Tấm bia  
này chữ khá mờ, có nhiều vết sứt do va  
đập. Nội dung bia nói về ý nghĩa pháp môn  
Tịnh Độ, nhân duyên ngộ đạo của Bồ Tát  
giới Tính Định, việc xây chùa, danh sách  
người cúng tiền. Chúng tôi tạm gọi đây là  
bia dựng chùa.  
Sáng ngày 05/12/2019, được sự đồng  
ý của chủ nhà, chúng tôi đã tới in rập hai  
tấm bia này. Việc in rập gặp khá nhiều  
khó khăn do đồ đạc trong nhà nằm sát tấm  
bia không thể dịch chuyển ra ngoài, bia  
có hiện tượng nứt vỡ bề mặt, chữ bị mờ  
nhiều. Vì những lý do đó, bản rập không  
thể hiện được toàn bộ nội dung của hai tấm  
bia, chúng tôi tạm bỏ qua hoặc phỏng đoán  
theo tự dạng còn lại kết hợp với mạch văn  
để nhận diện những trường hợp chữ quá  
mờ, hoặc đã bị sứt vỡ.  
3. Bản dịch hai tấm bia chùa Xiển Pháp1  
Trên cơ sở tư liệu thu thập được,  
chúng tôi đã dịch nghĩa, chú thích một số  
nội dung trong hai tấm bia trên với mong  
muốn cung cấp cho độc giả một bản dịch  
tương đối đầy đủ.  
3.1. Xiển Pháp tự bi ký 闡法寺碑記  
(bia khoán ước):  
“Bia ký chùa Xiển Pháp  
Vườn và đất của chùa này là nhà cũ của  
Tổng đốc Ninh Thái. Mùa Xuân năm Nhâm  
Thân niên hiệu Tự Đức (1872), ta cùng đạo  
hữu là Quan Tâm Bình, Lục Trung Hòa  
tham thiền lễ Phật […] chủ họ Doãn nói  
rằng: “Mảnh đất này có thể xây chùa được.  
Các ông đã là Phật tử, tôi [] mảnh đất này  
nhượng cho […] giá tiền vốn do tiền tăng  
là Quang Lư2 cùng với tại gia Bồ Tát là  
Hoàng thị [][] thiện nữ […], nay lấy […]  
ắt nhiều. Lúc đó, đạo hữu Quan Tâm Bình  
cúng tiền 443 quan tiền. Tôi tự khuyến hóa  
được 1.600 quan tiền. Văn khế giao […]  
đại nhân là quan huyện ở huyện này đã  
đóng triện, kỳ mục trong thôn đã ký tên.  
Văn khế ấy cùng các thửa ruộng liệt kê []:  
Việc bà Doãn Thị Xuyến ở thôn Hạ  
Đình, xã Nhân Mục Cựu, tổng Khương  
Đình […] phủ Thường Tín, Hà Nội lập [văn  
khế] bán đứt nhà ở, đất, ao, ruộng, vườn để  
lập chùa Phật như sau:  
Năm Tự Đức thứ 14 (1861) mua được  
từ bà Lê Thị Đoàn là vợ của cố Tổng đốc  
Ninh Thái họ Nguyễn và con trai là Nguyễn  
Đình Trụ (nguyên quán ở Thanh Hóa [][],  
nay ngụ ở thôn An Trạch, tổng An Thành,  
huyện Vĩnh Thuận bản tỉnh) một mảnh đất  
ở gồm một tòa nhà, hai nhà lá, cùng một  
khu đất, ao, ruộng, vườn tổng cộng 21 mẫu  
8 sào 4 thước 6 tấc 7 ly, tọa lạc phía bắc []  
An Trạch, theo giá tiền là 4.200 quan, có  
đầy đủ triện và chữ ký của lý trưởng cùng  
2
Quang Lư 光盧: Thích Đường Đường 釋堂堂,  
hiệu Như Như 如如, hay còn được gọi là Tổ Quạ.  
Thiền sư là đệ tử đời thứ 9 tông Tào Động ở miền  
1
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng một số ký Bắc Việt Nam, thuộc pháp phái Hồng Phúc Hòe  
hiệu biểu thị những chữ bị mất hoặc mờ: ký hiệu Nhai 洪福槐街, sống vào khoảng thế kỷ XIX. Thiền  
[] để chỉ một chữ mất, ký hiệu [….] chỉ nhiều chữ sư Quang Lư khai sơn chùa Thiên Trúc (Mễ Trì,  
bị mất.  
Hà Nội).  
Tái dựng lịch sử…  
23  
thôn ấy. Mảnh đất này được mua là để xây  
3.2. Xiển Pháp tự bi ký 闡法寺碑記  
dựng chùa Phật […] có thể xây dựng. Nay (bia dựng chùa):  
thấy các ông Quan Tâm Bình, Lục Trung  
Hòa, Hàn Thái Ninh ở phường Hà Khẩu,  
“Bia ký chùa Xiển Pháp  
[…] nước Thiên Trúc […] luân hồi ở  
tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương là người thế gian [] cõi […] xuất hiện [] ở trên hoa  
có hằng tâm, muốn xây dựng chùa. [Doãn] sen trong ao bảy báu1, đưa tay phải lên, cất  
thị lại đem đất ấy […] ruộng vườn bán đứt tiếng hống sư tử rằng: “Ta là bậc cao quý  
cho Quan Tâm Bình, Lục Trung Hòa, Hàn nhất ở trong hết thảy trời người, sinh tử vô  
Thái Ninh, theo giá 2.000 quan tiền, lập văn lượng kiếp tới nay đã hết, kiếp sống này  
khế giao nhận đã đủ. Đất, vườn, ao, ruộng lợi ích hết thảy trời người”. Lúc ấy bốn vị  
của nhà ấy [] chủ mua trông nom, xây dựng Thiên vương lấy lụa trời […] phun hương  
chùa Phật để thành quả phúc, vĩnh viễn vạn thơm kỳ diệu. Vua trời nâng chậu vàng tắm  
năm về sau. Nếu có ám muội làm sai tự rửa thân (Thái tử). Phạm vương cầm phất  
dụng thì sẽ có phép [] nước […].  
Ngày mồng 2 tháng 5 năm Tự Đức thứ động, phóng ra ánh sáng lớn. Lúc [] ra đời  
25 (1872) lập văn khế. có ánh sáng vàng rất kỳ lạ quý báu […] rất  
Các thửa ruộng đất gồm 6 mẫu 4 sào 7 trang nghiêm. Người con trai đó tới năm 19  
thước 1 thốn 5 phân:  
tuổi xuất gia tu hành2, 6 năm thành Phật,  
Một thửa 9 sào 4 thước 9 thốn 4 phân 6 ở đời thuyết pháp 49 năm, cứu thoát được  
ly (Đông, Tây, Bắc giáp […]). ức triệu chúng sinh ở cõi trời và cõi người.  
Một thửa 1 mẫu 3 sào 12 thước 33 ly Kinh chú có 3.000 bộ (đại sư Huyền Trang  
đứng ở bên. Thế giới [] các phương chấn  
([…]).  
đời Đường […] 57 bộ […] 170 bộ […]  
biết rằng số kinh tới nước Nam rất ít)3, số  
Một thửa 2 mẫu 2 sào 1 thước ([…]).  
Một thửa 4 sào 2 thước 5 thốn (Đông  
Tây Nam Bắc đều giáp Cổ [] []).  
Một thửa 1 mẫu 3 sào 1 thước 6 tấc.  
Một thửa 2 mẫu 2 sào 1 thước (Đông,  
Bắc đều giáp […]).  
Một thửa 4 sào 2 thước 5 tấc (Đông,  
Tây, Nam, Bắc đều giáp Cổ [][]).  
Một thửa 1 mẫu 3 sào 1 thước 6 tấc  
(Đông, Bắc […] Tây, Nam […] Cát Linh  
[…]).  
1
Ao bảy báu (七寶池): theo kinh A Di Đà 《阿彌  
陀經》thì ao làm bằng bảy thứ đồ quý là vàng, bạc,  
lưu ly, san hô, hổ phách, xà cừ, mã não; nước trong  
ao cũng do bảy thứ báu hóa thành.  
2 Trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả kinh 《過去  
現在因果經》và một số kinh khác thì Phật xuất gia  
năm 19 tuổi. Nhiều bản kinh khác lại chép Phật xuất  
gia năm 29 tuổi. Hiện nay, thuyết thứ hai phổ biến hơn.  
3
Đoạn này ghi chú bằng chữ nhỏ, đại ý thống kê  
Đại tạng kinh 《大藏經》 chia thành các mục  
cùng số quyển tương ứng, hiện chữ trên bia bị mờ  
không thể đọc được. Trong số sách in ở chùa Xiển  
Pháp có một bản Đại tạng kinh mục lục 《大藏經  
目錄》 (AC.516, VNCHN) chép: “西國大藏一部  
總計八萬四千四百卷,內有三千八百三十二卷  
譯在唐土” (Đại tạng kinh ở Tây Trúc có một bộ  
gồm 84.400 quyển, trong đó có 3.832 quyển dịch  
ở Đường). Trong cuốn Đại tạng kinh mục lục cũng  
thống kê các loại kinh, số bản có ở Tây Trúc, số bản  
mang về Trung Quốc thời Đường. Có thể căn cứ  
vào thông tin cuốn sách trên để hình dung về con số  
3.000 bộ kinh và phần chữ bị mất ở trong bia.  
Một thửa rộng 5 mẫu 3 sào 12 thước  
([…]).  
[…] 2 mẫu 1 thước 7 tấc (Đông, Bắc  
đều giáp […]).  
[…]  
Doãn Thị Xuyến điểm chỉ.  
Viết văn khế […]  
Ngày mồng 2 tháng 11 năm Tự Đức  
thứ 34 (1881)”.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020  
24  
mục chia làm tam thừa, trí lượng rộng lớn nhập vào [...] [niệm] Phật cứu sinh cõi Tây  
bao gồm hết thảy, người thường không thể phương, ta cũng như vậy. Vì sao vậy? Vì  
tính lường được. [] bốn biển […] hết sức đức Phật A Di Đà nguyện lực rộng lớn, nên  
khen ngợi, làm cho tứ sinh lục đạo cùng chúng sinh được nhập vào trong thệ hải  
giác ngộ, cùng được thấm nhuần sóng ân. của Như Lai5. Nếu Phật chẳng có tâm đại  
Vậy nên xứng đáng là cha lành của tứ sinh, từ đại bi thì sao có thể thành Phật. Niệm  
Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.  
Phật vãng sinh […].  
Lúc đó, Phật lại thuyết kinh A Di Đà  
Ta may có duyên với Phật giáo, gặp  
Phật rằng: phương Tây có Phật hiệu là A đạo hữu là Quan Tâm Bình bảo ta tụng  
Di Đà, tên nước của Ngài ấy là Cực Lạc, kinh Lăng Nghiêm sẽ có thể liễu ngộ.  
có ao bảy báu, nước tám công đức1, bảy Ta đọc [kinh Lăng Nghiêm] [] thấy được  
tầng lan can, bảy lớp cây trồng theo hàng sự đẹp đẽ kỳ diệu của kinh đó, như nhặt  
lối […]2 đều lấy số bảy mà lập thành. Trăm được minh châu, ý muốn xuất gia tu trì  
nghìn thứ âm nhạc không đánh tự vang. Phật […] rằng: ở nước Xá Vệ có một vị  
Chim Anh Vũ, chim Ca Lăng3 cùng cất trưởng giả, lấy vàng rải đất, mua được  
lên lời pháp ngữ. Đồ ăn thức uống và quần vườn Kì của thái tử, mời được Thế Tôn  
áo tùy theo ý nghĩ mà tự có. Mọi thứ rộng thuyết pháp. Ta sánh với vị trưởng giả kia  
lớn như trong kinh nói, khen ngợi không thì thấy thật xấu hổ, làm sao có thể xây  
cùng. Lại nữa, trong kinh nói rằng vị Phật chùa nghe pháp. Năm Nhâm Thân (1872)  
đó khi còn thực hành Bồ Tát đạo, có bốn […] mua mảnh đất này. Tới năm Ất Hợi  
[…] thệ nguyện4, lời nguyện nào cũng là (1875) xây một tòa nội điện ba gian, trong  
cứu vớt chúng sinh, muốn cho họ đều được thờ tượng Phật A Di Đà, hai bên là hai vị  
thành Phật. Trong đó, có một lời nguyện Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí, bên phải thờ  
rằng: nếu có chúng sinh nào muốn sinh vào Thánh tăng […], bên trái thờ tượng Thổ  
nước của ta, đến mười niệm nếu chưa được địa. Tên chùa là Xiển Pháp, nghĩa là []  
sinh, thì [ta] không lên ngôi Chính giác. xiển dương Phật Pháp không ngừng nghỉ  
Lấy nhân duyên đó khiến cho [chúng sinh] vậy. Năm Kỷ Mão (1879) lại trùng tu năm  
gian ngoại điện, cùng Tổ đường, nơi ở,  
chuông trống, cùng […] hoa quả […], nền  
móng dần hình thành, cũng có thể coi là  
một tiểu tùng lâm, nên lập bia để ghi chép  
lại vĩnh viễn.  
Tên họ của thiện tín quyên góp giúp đỡ  
khởi công liệt kê ở dưới:  
Quan Tâm Bình [] cúng tiền 400 quan.  
Hiệu Đức Hanh cúng tiền 3 lần […]  
quan.  
1
Nước tám công đức (八功德水): nước chứa đầy  
đủ tám phẩm chất tốt đẹp: trong sạch hoàn toàn; mát  
mẻ; ôn hòa, nhẹ nhàng; tươi nhuận; an hòa, uống  
vào trừ được đói khát và hết thảy bệnh tật; uống vào  
có thể nuôi dưỡng các căn tứ đại, tăng thêm chủng  
chủng thiện căn tốt lành.  
2 Trong kinh còn nhắc tới “thất trùng la võng” 七重  
羅網(bảy tầng lưới giăng).  
3
Chim Ca Lăng: Kalainka - Ca Lăng Tần Già. Tên  
một loài chim sống ở Tuyết Sơn, có giọng hót rất  
hay, có thể hót từ khi còn trong trứng. Trong kinh  
điển Phật giáo thường ví tiếng hót của loài chim này  
với diệu âm của chư Phật và Bồ Tát.  
4
Hội Công Thiện cúng tiền 70 quan.  
Trong kinh Đại thừa Vô lượng thọ 《大乘無量 5 Thệ hải của Như Lai (如來誓海): vì 48 lời nguyện  
壽》nói rằng Phật A Di Đà khi còn là tỉ khiêu Pháp của Phật A Di Đà rộng lớn như biển nên gọi là  
Tạng đã phát 48 lời nguyện.  
thệ hải.  
Tái dựng lịch sử…  
25  
常信, Hà Nội 河內)1 đã mua lại mảnh đất  
này từ vợ và con quan cố Tổng đốc Ninh  
Thái (nguyên quán Thanh Hóa 清化) với  
giá 4.200 quan tiền. Tới năm 1872, các  
ông Hàn Thái Ninh, Quan Tâm Bình, Lục  
Trung Hòa (ở phường Hà Khẩu 河口, tổng  
Đông Thọ 東壽, huyện Thọ Xương 壽昌)  
đã mua lại mảnh đất này của bà Doãn Thị  
Xuyến với giá 2.000 quan tiền. Việc bán  
đất với giá chỉ rẻ bằng một nửa giá mua  
này được giao hẹn là để xây dựng chùa  
trên mảnh đất ấy. Quá trình mua bán này  
có sự tham gia của một vị tăng tông Tào  
Động 漕洞 là hòa thượng Quang Lư 光  
盧. Theo nội dung bia khoán ước, vị Tổng  
đốc Ninh Thái này qua đời năm 1872. Kết  
hợp với thông tin nguyên quán của ông ở  
Thanh Hóa, con trai ông là Nguyễn Đình  
Trụ 阮廷柱, chúng tôi đưa ra giả thuyết vị  
quan được nhắc tới trong tấm bia này là  
Nguyễn Đình Phổ. Theo nghiên cứu của  
Nguyễn Văn Hải (2009), thời điểm năm  
1831 đã có một nhân vật là Tổng đốc Ninh  
Thái Nguyễn Đình Phổ về viếng mộ tổ  
Nguyễn Đình Hoán ở thôn Kiến Trung, xã  
Vạn Hà, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa  
(nay là Tiểu khu 9, thị trấn Vạn Hà, huyện  
Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Cũng theo  
thông tin trong bài viết, họ Nguyễn Đình  
làng Lam Vỹ, xã Thiệu Vũ, huyện Thiệu  
Hóa còn giữ một bản gia phả có thông tin  
về Nguyễn Đình Hoán.  
Trần Quảng Xương cúng tiền 200 quan.  
Hiệu […] cúng [][] sư tử.  
Còn lại do họ Hàn, họ Ngô cùng thập  
phương cúng.  
Trụ trì bản tự Bồ Tát giới Hàn Thái  
Ninh pháp danh là Tính Định ký.  
Ngày lành tháng Tư năm Tân Tỵ niên  
hiệu Tự Đức (1881)”.  
4. Một số vấn đề về lịch sử chùa Xiển Pháp  
từ những mảnh ghép tư liệu  
4.1. Tái lập quá trình xây dựng chùa  
Xiển Pháp  
So với nhiều ngôi chùa khác ở miền  
Bắc, chùa Xiển Pháp có lịch sử hình thành  
khá muộn (cuối thế kỷ XIX). Tuy nhiên,  
việc tái lập lịch sử của ngôi chùa này từ  
trước tới nay gặp khá nhiều khó khăn do  
các tư liệu đã công bố không cung cấp được  
nhiều thông tin. Rất may mắn là hai tấm  
bia đá của chùa vẫn còn lưu lại, dù cho nội  
dung không còn nguyên vẹn. Từ những  
mảnh thông tin còn lại trên hai tấm bia đó,  
chúng tôi tạm thời tái lập được quá trình  
hình thành ngôi chùa Xiển Pháp. Cơ bản có  
những điểm đáng lưu ý như sau:  
Thứ nhất, chùa Xiển Pháp nằm ở thôn  
An Trạch, ở phía bên phải Văn Miếu. Đây  
không phải là một ngôi chùa làng truyền  
thống, mà được xây dựng lần đầu vào cuối  
thế kỷ XIX. Kinh phí xây dựng ngôi chùa  
này có nguồn từ một nhóm ba người “cùng  
tham thiền lễ Phật” và một số đại thí chủ,  
đoàn thể khác mà không phải do người dân  
địa phương đóng góp.  
Thứ ba, tới năm 1875, Hàn Thái Ninh  
cho xây dựng một tòa nội điện ba gian để  
thờ Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Âm, Bồ Tát  
Thế Chí, Thánh Tăng, Thổ địa; đặt tên chùa  
là Xiển Pháp. Năm 1879, ông lại cho trùng  
tu năm gian ngoại điện, xây Tổ đường,  
dựng nơi ở, đặt chuông trống… Quy mô  
của chùa Xiển Pháp cơ bản thành hình.  
Thứ hai, đất dựng chùa vốn là đất cũ  
của Tổng đốc Ninh Thái 寧太總督, gồm  
có “một tòa nhà, hai nhà lá, cùng một khu  
đất, ao, ruộng, vườn tổng cộng 21 mẫu 8  
sào 4 thước 6 tấc 7 ly”. Vào năm 1861,  
bà Doãn Thị Xuyến (ở thôn Hạ Đình 下  
亭, xã Nhân Mục Cựu 仁睦舊 , tổng  
Khương Đình 姜亭[…] phủ Thường Tín  
1 Nay là phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020  
26  
Thứ tư, năm 1881, Hàn Thái Ninh (tự tới nhân vật Hàn Thái Ninh tại chùa Đồng  
xưng là Bồ Tát giới pháp danh Tính Định) Dương (chùa tại quê của ông, được ông  
cho dựng hai tấm bia ghi lại quá trình mua đứng ra xây dựng). Trong tấm bia kỷ niệm  
đất lập chùa, trong đó đề cao pháp môn Bồ Tát giới Tính Định đặt tại chùa Đồng  
Tịnh Độ. Liên hệ với bài viết của Mai Dương 桐楊(No.25224, VNCHN), và trên  
Hồng và Nguyễn Hữu Mùi (1989) đã đề quả chuông Đồng Dương tự chung 《桐  
cập ở trên, trong giai đoạn 1882-1898, 楊寺鐘》 (No.25222, VNCHN), nhân vật  
Bồ Tát giới pháp danh Tính Định đã cho này đều được nhắc tới với tên gọi “Bồ Tát  
khắc in nhiều bộ sách tại ngôi chùa Xiển giới pháp danh Tính Định”, sinh năm Nhâm  
Pháp này1. Các tác phẩm in tại Xiển Pháp Dần và mất năm Tân Sửu (1842-1901). Ở  
đều không có thông tin phương danh pháp mặt bia No.25223 (VNCHN), những người  
cúng, tức là người đứng ra khắc in không đứng ra lập bia đã nhắc tới Hàn Thái Ninh  
cần vận động tài chính cho công việc khắc với tên gọi “cụ Hàn 具韓”. Ở đường thỉnh  
ván đó. Danh sách này một mặt thể hiện tổ đệ nhất trong khoa cúng Vĩnh Khánh  
cuộc quyên góp cho một hoạt động tiêu tốn tự cúng chư tổ sư khoa 《永慶寺供諸祖  
nhiều tiền bạc, đồng thời phản ánh quan hệ 師科》2 ghi tôn hiệu của nhân vật này là:  
theo sơn môn và theo địa vực giữa cộng “Nam mô Xiển Pháp phái đệ nhất thế tổ Bồ  
đồng tu sĩ, giữa nhà chùa, và quần chúng Tát giới tự Tính Định, hiệu Tâm Châu, húy  
bình dân. Sự thiếu vắng nội dung phương Hàn Thái Ninh đại sư Thiền tọa hạ” 南無  
danh pháp cúng ở cuối sách một mặt cho 闡法派弟一世祖菩薩戒字性定號心珠諱  
thấy tiềm lực tài chính dồi dào của cá nhân 韓泰寧大師禪座下. Như vậy, các văn bản  
Bồ Tát giới Tính Định cũng như chùa Xiển chính thức của chùa Xiển Pháp và sơn môn  
Pháp trong suốt gần 20 năm khắc ván in Xiển Pháp đều thống nhất gọi vị này là một  
kinh, nhưng mặt khác cũng cho thấy quan vị “Bồ Tát giới”, “pháp danh Tính Định”,  
hệ có phần lỏng lẻo giữa ngôi chùa này với “cụ Hàn”, và thường được nhắc tên thật là  
cộng đồng tu sĩ, tín đồ địa phương. Có lẽ vì “Hàn Thái Ninh”. Riêng trong khoa cúng  
vậy nên chùa Xiển Pháp cũng dần mai một chùa Vĩnh Khánh có đề cập tới hiệu “Tâm  
sau khi Bồ Tát giới Tính Định qua đời năm Châu” 心珠.  
1901, không được cộng đồng làng xã bảo  
vệ như đa phần các ngôi chùa làng truyền xưng và được gọi của Hàn Thái Ninh như  
thống khác. trên và những thông tin về hành trạng của  
4.2. Tồn nghi về cuộc đời tu hành của vị này trên hai tấm bia được giới thiệu trong  
Hàn Thái Ninh bài, chúng tôi đặt ra nghi vấn đề cuộc đời tu  
Trong bia dựng tại chùa, Hàn Thái Ninh hành của nhân vật này:  
được nhắc tới với pháp danh “Tính Định” và (1) Trong khoán ước năm 1872, ba  
Nghiên cứu đối chiếu những tên gọi tự  
danh hiệu “Bồ Tát giới”. Trên cơ ở nghiên người mua đất được xếp tên cạnh nhau là  
cứu của Nguyễn Thị Thuận (2014), chúng Hàn - Quan - Lục, không nhắc tới pháp  
tôi mở rộng tra cứu những tư liệu liên quan  
2
Khoa cúng do Thượng tọa Thích Tiến Đạt (đệ tử  
1 Thống kê này dựa trên các văn bản in tại chùa Xiển của sơn môn Xiển Pháp) sao chép. Chúng tôi xin  
Pháp có ghi niên đại. Đa phần các văn bản in tại đây chân thành cám ơn thầy Thích Đàm Vân (Nguyễn  
đều không có lời tựa bạt, và niên đại.  
Thị Thuận) đã cung cấp bản photocopy tư liệu này.  
Tái dựng lịch sử…  
27  
danh hay vai trò nào đặc biệt hơn của nhân  
Nếu Hàn Thái Ninh là đệ tử xuất gia  
vật họ Hàn so với hai người còn lại; địa của thiền sư Quang Lư thì pháp danh của  
chỉ của ba người này ở phường Hà Khẩu ông phải ở hàng chữ Chính 正, nếu xuất gia  
không liên quan tới chùa Hòe Nhai1. Có với thiền sư Chính Bỉnh thì pháp danh của  
thể đoán định vào thời điểm mua đất xây ông phải ở hàng chữ Tâm 心. Tuy nhiên,  
chùa Xiển Pháp, Hàn Thái Ninh có lẽ chưa trong các tư liệu hiện tồn đều thống nhất  
xuất gia.  
ghi pháp danh của ông là Tính Định, chỉ  
(2) Tư liệu chữ Hán liên quan đều có khoa cúng tổ chùa Vĩnh Khánh nhắc tới  
thống nhất gọi nhân vật họ Hàn là “Bồ hiệu Tâm Châu3. Việc xếp Bồ Tát giới Tính  
Tát giới”. Giới Bồ Tát có thể truyền cho Định vào dòng mạch truyền pháp của tông  
đệ tử xuất gia hoặc tại gia của Phật giáo, Tào Động có nhiều điểm không hợp lý.  
nội dung giới truyền cho hai hàng đệ tử có  
Từ những nghi vấn trên, chúng tôi đưa  
một số khác biệt. Tuy nhiên, nếu là một vị ra một giả thuyết rằng: Hàn Thái Ninh chỉ  
xuất gia thực thụ, người đó sẽ tự xưng là thụ Bồ Tát giới chứ không thụ đại giới, và  
“Tỉ khiêu 比丘” hoặc “Sa di 沙彌”. Trong là một trường hợp đặc biệt trong truyền  
giới hạn hiểu biết của mình, chúng tôi chưa thừa tông Tào Động ở Việt Nam. “Thân  
thấy có trường hợp một vị tu sĩ nào tự xưng phận” này ít nhiều có ảnh hưởng tới việc  
mình là “Bồ Tát giới 菩薩戒”. Vĩnh Khánh lựa chọn hoằng pháp, lựa chọn in ấn kinh  
tự cúng chư tổ sư khoa cũng thống nhất tên điển của Bồ Tát giới Tính Định trong thời  
gọi như vậy, và không đưa thông tin cụ thể gian ở chùa Xiển Pháp.  
về bản sư của Tính Định.  
5. Kết luận  
Qua bản dịch hai tấm bia cùng mang tên  
(3) Theo thông tin từ nghiên cứu của  
Nguyễn Thị Thuận (2014), Bồ Tát giới Xiển Pháp tự bi ký, bài viết đã tái lập được  
Tính Định xuất gia với thiền sư Chính Bỉnh những mốc thời gian quan trọng trong quá  
Thích Bình Bình 正秉釋平平2. Trong văn trình hình thành chùa Xiển Pháp cuối thế kỷ  
bia khoán ước có nhắc tới một vị khác thuộc XIX, từ sự kiện mua đất, tới dựng chùa, và  
đời thứ chín tông Tào Động là “tiền tăng 前 kết thúc là việc lập hai tấm bia đá vào năm  
僧” Quang Lư Thích Đường Đường 光盧 1881. Đây là một ngôi chùa không thuộc  
釋堂堂. Thứ tự truyền pháp của tông Tào phạm vi làng xã, có quan hệ với tông Tào  
Động ở Việt Nam được xếp theo bài kệ:  
“Từ Tính Hải Khoan  
Giác Đạo Sinh Quang  
Chính Tâm Mật Hạnh  
…”.  
Động ở chùa Hồng Phúc Hòe Nhai, được  
một số vị thí chủ lớn dưới sự kêu gọi của  
Hàn Thái Ninh bỏ tiền ra mua đất xây dựng.  
Tông chỉ tu hành của chùa Xiển Pháp là  
pháp môn Tịnh Độ. Ngôi chùa này, nhờ có  
một nguồn tài chính dồi dào, đã trở thành  
trung tâm khắc ván in kinh chữ Hán và chữ  
Nôm lớn ở Hà Nội trong khoảng thời gian  
những năm 1882-1898. Dựa trên tư liệu văn  
bia cùng một số tư liệu Hán Nôm hữu quan  
với nhân vật “Bồ Tát giới Hàn Thái Ninh  
1
Chùa Hòe Nhai nằm ở thôn Hòe Nhai 槐街- tổng  
Thượng 上- huyện Vĩnh Thuận 永順(nay nằm trên  
phố Hàng Than, Hà Nội). Địa chỉ của ba người Hàn  
- Quan - Lục là ở phường Hà Khẩu - tổng Đông  
Thọ - huyện Thọ Xương (nay là khu Chợ Gạo, Hàng  
Buồm), có đền Bạch Mã và hội quán Quảng Đông,  
trước đây có đông người Hoa sinh sống, buôn bán.  
2 Tổ sư đời thứ mười tông Tào Động ở Việt Nam.  
3 Khoa cúng này cũng đã nhắc tới tên tự là Tính Định.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020  
28  
pháp danh Tính Định”, bài viết cũng đưa ra 7. Sắc kiến Ninh Phúc tự tháp bi ký 《勅建  
giả thuyết Tính Định - người khai sáng ngôi 寧福寺塔碑記》(No.02894, VNCHN).  
chùa Xiển Pháp - chưa từng thụ đại giới của 8. Tào Động chính tông lịch đại tổ sư  
Tỉ khiêu mà chỉ được thụ Bồ Tát giới  
khoa《漕洞正宗歷代祖師科》(bản  
chùa Ngọc Quán sao chép lại từ bản  
chính chùa Hồng Phúc Hòe Nhai, tư  
liệu do nhà nghiên cứu Lê Quốc Việt  
cung cấp).  
Tài liệu tham khảo  
1. Đại thừa Vô lượng thọ 《大乘無量  
壽》,http://21dzk.l.u-tokyo.ac.jp/SAT/  
satdb2015.php  
2. Đại tạng kinh mục lục 《大藏經目  
錄》(AC.516, VNCHN).  
3. Nguyễn Văn Hải (2009), “Bức “minh  
tinh” ghi về một vị quận công đặt trong  
ngôi mộ cổ ở thị trấn Vạn Hà huyện  
9. Nguyễn Thị Thuận (Thích Đàm Vân)  
(2014), Nghiên cứu nhóm tác phẩm  
diễn Nôm của Bồ Tát giới pháp danh  
Tính Định, Luận văn thạc sĩ chuyên  
ngành Hán Nôm, Trường Đại học Sư  
phạm Hà Nội.  
Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa”, Tạp chí 10. Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung  
Hán Nôm, số 6 (97), tr. 72 - 76.  
Khắc Lược (2000), Đồ họa cổ Việt Nam,  
4. Mai Hồng, Nguyễn Hữu Mùi (1989),  
Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội.  
“Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách 11. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (2017),  
Hán Nôm”, Tạp chí Hán Nôm, số 1, tr.  
43-55.  
5. Vương Thị Hường (2013), “Chùa Xiển  
Pháp - Ngôi chùa và những cuốn sách  
Địa danh làng xã Việt Nam qua tài  
liệu địa bạ triều Nguyễn - Tập 1: Bắc  
Kỳ, Nxb. Thông tin và Truyền thông,  
Hà Nội.  
kinh Phật”, Tạp chí Hán Nôm, số 5 12. Viện Nghiên cứu Phật học (2011), Từ  
(120), tr. 62-67.  
điển Phật học Hán Việt, Nxb. Khoa học  
6. Quá khứ hiện tại nhân quả kinh 《過去  
xã hội, Hà Nội.  
現在因果經》,http://21dzk.l.u-tokyo. 13. Vĩnh Khánh tự cúng chư tổ sư khoa 《永  
ac.jp/SAT/satdb2015.php 慶寺供諸祖師科》.  
pdf 9 trang baolam 25420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tái dựng lịch sử ngôi chùa Xiển Pháp qua văn bia và tài liệu Hán Nôm liên quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_dung_lich_su_ngoi_chua_xien_phap_qua_van_bia_va_tai_lieu.pdf