Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong văn học Hàn Quốc - Việt Nam đầu thế kỉ XX - Trường hợp Shin Chae-ho và Phan Bội Châu

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
69  
TƯ TƯỞNG DÂN TỘC CHỦ NGHĨA  
TRONG VĂN HỌC HÀN QUỐC – VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX  
- TRƯỜNG HỢPSHIN CHAE-HO VÀ PHAN BỘI CHÂU -1  
Trần Tùng Ngọc, Nguyễn Lệ Thu*  
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 05 tháng 01 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 25 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Văn đàn Đông Á giai đoạn đầu thế kỉ XX chứng kiến sự hiện diện của nhiều tác giả  
lớn mà ở trong con người họ hội tụ đủ nhân cách của một nhà yêu nước – nhà văn – sử gia – nhà hoạt  
động cách mạng. Họ nhấn mạnh đến văn chương, không phải vì mục đích nghệ thuật, mà vì mục đích  
xã hội, lay động nhân tâm. Văn học lúc này để chuyên chở dòng ý thức về dân tộc, chủ nghĩa quốc gia,  
độc lập và tự do đến với mọi tầng lớp quốc dân đồng bào, cổ vũ tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh  
vì quốc gia, dân tộc. Bài nghiên cứu tập trung phân tích tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong sáng tác văn  
học của Phan Bội Châu và Shin Chae-ho đầu thế kỉ XX, qua đó, đánh giá tổng quan về những đặc điểm  
chung của dòng văn học dân tộc chủ nghĩa trong bối cảnh khu vực. Về đặc trưng tư tưởng chủ nghĩa dân  
tộc trong văn học của Shin Chae-ho và Phan Bội Châu, nghiên cứu tập trung phân tích các góc độ chính  
như sau: 1) vị trí của Shin Chae-ho và Phan Bội Châu trong lịch sử văn học đầu thế kỉ XX, 2) tinh thần  
“văn dĩ tải đạo” cùng quan điểm về sáng tác văn học trong mối tương quan với nhiệm vụ đấu tranh giải  
phóng dân tộc, 3) chủ nghĩa anh hùng yêu nước trong sáng tác của Shin Chae-ho và Phan Bội Châu qua  
khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu, 4) tình yêu và lòng thành kính đối với quốc gia dân tộc.  
Từ khóa: chủ nghĩa dân tộc, văn học cận đại, Phan Bội Châu, Shin Chae-ho, chủ nghĩa anh hùng  
1. Đặt vấn đề*  
Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) du  
nhà hoạt động cách mạng bắt đầu dùng ngòi  
bút của mình, tích cực tham gia vào báo chí  
ngôn luận, sáng tác văn học, thông qua văn  
học để khơi lại tinh thần yêu nước, lòng tự  
hào dân tộc và cổ vũ phong trào đấu tranh  
chống thực dân. Trên văn đàn Việt Nam và  
Hàn Quốc đầu thế kỉ XX, tiêu biểu cho thế  
hệ tác giả này không thể không kể đến hai  
nhân vật tiêu biểu là Phan Bội Châu và Shin  
Chae-ho. Điểm chung giữa họ là sự sinh  
trưởng trong truyền thống giáo dục Nho học,  
sự hợp nhất giữa hình mẫu nhà văn – sử gia  
nhập vào khu vực Đông Á trong những năm  
cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã thổi một  
làn gió mới vào trong tư tưởng và sáng tác  
của các văn nhân, sĩ phu Đông Á trong đó có  
Việt Nam và Hàn Quốc. Văn học đại chúng  
lúc này không chỉ phục vụ nhu cầu giải trí,  
nhu cầu nghệ thuật như phần nhiều sáng tác  
văn học bình dân trước đó mà bắt đầu hướng  
đến mục tiêu cao cả hơn: Dân tộc – Tổ quốc,  
Độc lập – Tự do. Thế hệ các nhà yêu nước,  
1 Nghiên cứu này được hoàn thành với sự hỗ trợ của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong đề  
tài mã số: N.19.03.  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
70  
– nhà yêu nước – nhà hoạt động cách mạng.  
Đặc biệt, Phan Bội Châu và Shin Chae-ho  
đều là những con người nhiệt thành theo  
đuổi chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc.  
trí của Shin Chae-ho trong văn học sử Hàn  
Quốc, khắc họa một hình tượng tác giả văn  
học Shin Chae-ho, bên cạnh hình tượng nhà  
tư tưởng Shin Chae-ho vốn có. Mặc dù,  
nghiên cứu về Shin Chae-ho gặp khó khăn  
về nguồn tư liệu do thiếu vắng những ghi  
chép trong thời gian 26 năm lưu vong của  
ông, song có thể nói, những nghiên cứu về  
Shin Chae-ho ở Hàn Quốc cũng đã khá hoàn  
chỉnh cả về chất và lượng, đặc biệt, những  
tiếp cận Shin Chae-ho từ góc độ văn học  
không những mở ra một cách nhìn toàn diện  
về nhân vật lịch sử Shin Chae-ho mà còn tạo  
nên những địa hạt mới cho nghiên cứu về  
Shin Chae-ho.  
Nghiên cứu riêng biệt về Phan Bội  
Châu tại Việt Nam và về Shin Chae-ho tại  
Hàn Quốc đã được các nhà nghiên cứu khai  
thác dưới nhiều góc độ khác nhau từ văn học,  
lịch sử, tư tưởng triết học đến văn hóa,… Tại  
Việt Nam, Chương Thâu được đánh giá là  
học giả tiên phong trong nghiên cứu Phan  
Bội Châu dưới góc độ lịch sử, ông cũng  
chính là người đã sưu tầm, nghiên cứu biên  
soạn và biên dịch nhiều trước tác của Phan  
Bội Châu như Hậu Trần dật sử (2017),  
Tráng sĩ Cao Thắng (2017), Văn thơ Đông  
Kinh nghĩa thục (2010),… Nguyễn Đổng  
Chi (1968) tập trung phân tích những biểu  
hiện của chủ nghĩa anh hùng trong sáng tác  
của Phan Bội Châu dưới góc độ văn học.  
Hay dưới góc độ tư tưởng triết lý có thể kể  
đến các bài nghiên cứu của Trần Văn Giàu  
(1993), Nguyễn Hòa (2008) phân tích tư  
tưởng dân chủ dân quyền và tư tưởng đấu  
tranh giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu.  
Có thể thấy, nghiên cứu về Phan Bội Châu  
tại Việt Nam đã có lịch sử tương đối lâu dài  
với nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực.  
Mặc dù là một nhân vật có nhiều  
thành tựu, đóng góp trong lịch sử Hàn Quốc  
nói chung, đặc biệt là lịch sử văn học cận đại  
nói riêng, song cho đến hiện nay tại Việt  
Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào  
giới thiệu về Shin Chae-ho. Do vậy, với mục  
tiêu đi tiên phong trong việc giới thiệu về  
Shin Chae-ho ở Việt Nam, nghiên cứu này  
một mặt phân tích một số đặc trưng dân tộc  
chủ nghĩa trong văn học Shin Chae-ho, mặt  
khác so sánh giữa hai tác giả Phan Bội Châu  
và Shin Chae-ho, từ đó rút ra một số đặc  
trưng trong sáng tác văn học của họ trong bối  
cảnh lịch sử - văn học Đông Á đầu thế kỉ XX.  
Về mặt tư liệu, bên cạnh việc kế thừa thành  
quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi  
trước, nghiên cứu cũng tiếp cận trực tiếp các  
trước tác của Phan Bội Châu và Shin Chae-  
ho để có thể đưa ra cách nhìn trực quan nhất  
về đối tượng.  
Tương tự như trường hợp của Phan  
Bội Châu, nghiên cứu về Shin Chae-ho tại  
Hàn Quốc cũng tập trung phần lớn vào lĩnh  
vực lịch sử, bởi lẽ ông còn được biết đến là  
cha đẻ của nền sử học hiện đại Hàn Quốc,  
người đã khai mở khuynh hướng sử học dân  
tộc chủ nghĩa. Bên cạnh đó, các nghiên cứu  
về văn học Shin Chae-ho cũng thu hút sự  
quan tâm của nhiều học giả ngữ văn Hàn  
Quốc. Đơn cử, Lee Sang-won, Lee Dong-  
sun (1978) đã bắt đầu tìm hiểu tư tưởng của  
Shin Chae-ho thể hiện trong các tác phẩm  
văn học của ông, mở ra một hướng mới trong  
nghiên cứu Shin Chae-ho từ góc độ văn học  
hay Kim Byung-min (1995) tiếp cận Shin  
Chae-ho từ nhãn quan văn học so sánh với  
Lương Khải Siêu, để làm nổi bật quan điểm  
sáng tác của Shin Chae-ho. Gần đây, Choi  
Won-shik (2001, 2002) đã khẳng định lại vị  
Do một số hạn chế về mặt thời đại,  
chủ nghĩa dân tộc vừa mới được du nhập một  
thời gian ngắn vào Việt Nam và Hàn Quốc  
nên quan điểm về dân tộc và chủ nghĩa dân  
tộc của Phan Bội Châu và Shin Chae-ho có  
thể có nhiều khác biệt so với cách nhìn nhận  
về cùng đối tượng trong giai đoạn sau này.  
Do vậy, trước khi đi vào phân tích các trước  
tác của họ, nghiên cứu sẽ chỉ ra một số điểm  
quan trọng trong bối cảnh lịch sử - tư tưởng  
cùng nhận thức về chủ nghĩa dân tộc của các  
trí thức Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỉ XX.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
71  
2. Nhận thức về chủ nghĩa dân tộc của các  
trí thức Việt - Hàn đầu thế kỉ XX  
nhận làn gió mới này. Tuy nhiên, số phận của  
mỗi nước Đông Á lại hoàn toàn khác nhau.  
Cuộc Duy tân biến pháp (1898) thất  
bại tại Trung Quốc đã buộc một số yếu nhân  
của phong trào như Khang Hữu Vi, Lương  
Khải Siêu phải lưu vong sang Nhật Bản. Tại  
đây, Lương Khải Siêu đã có sự gặp gỡ, tiếp  
xúc với nhiều trí thức yêu nước người Việt  
Nam và Triều Tiên. Lương Khải Siêu đã tiếp  
xúc với Phan Bội Châu và viết lời tựa cho tác  
phẩm Việt Nam vong quốc sử (Phan, 1982).  
Thông qua nhiều tập khảo luận giá trị như  
Ẩm băng thất văn tập, Ẩm băng thất tùng trứ,  
Trung Quốc học thuật tư tưởng biến thiên  
sử,… tư tưởng của Lương Khải Siêu đã tạo  
được sức ảnh hưởng sâu rộng đến giới trí  
thức Triều Tiên và Việt Nam. Đặc biệt tư  
tưởng Đại dân tộc chủ nghĩa (大民族主義) của  
ông đã đặt nền tảng cho cách nhìn nhận về  
chủ nghĩa dân tộc tại hai quốc gia này.  
2.1. Bối cảnh lịch sử và những chuyển biến  
về tư tưởng  
Năm 1799, với sự kiện công ty VOC  
của Hà Lan tự giải tán đã đánh dấu sự chấm  
dứt của làn sóng thực dân thứ nhất, tức thời  
kỳ thực dân thương mại, mở đường cho chủ  
nghĩa đế quốc và tham vọng bành trướng của  
các nước thực dân phương Tây tới khu vực  
Đông Á (Vũ, 2017). Trong thời gian này,  
“thế giới Hoa hóa” với nền tảng chính trị  
Nho giáo đã hoàn thành việc xây dựng chế  
độ quân chủ chuyên chế trung ương tập  
quyền và bước vào thời kì suy yếu. Những  
tiếp xúc văn hóa Đông – Tây bằng nhiều con  
đường khác nhau du nhập vào Đông Á đặt  
những nền tảng tư tưởng đầu tiên cho cuộc  
vận động cải cách cận đại hóa tại khu vực này.  
Thất bại trong cuộc chiến tranh nha  
phiến đã giúp bộ phận trí thức cấp tiến tại  
Trung Quốc ý thức một cách rõ rệt về sức  
mạnh của phương Tây cũng như nguy cơ  
tiềm tàng nếu trì hoãn tiến trình cận đại hóa.  
Tuy nhiên, phương thức cận đại hóa tiến  
hành như thế nào vẫn còn là một điều rất khó  
khăn. Giai đoạn 1860-1895, phong trào  
Dương Vụ tại Trung Quốc với phương châm  
“Trung học vi thể, Tây học vi dụng” đã thúc  
đẩy tiến trình cận đại hóa dựa trên mô hình  
học tập từ kỹ thuật và quân sự phương Tây  
(Nguyễn, 2013). Tại Nhật Bản, cuộc Duy tân  
Minh Trị (1868) cũng đã khởi đầu cho tiến  
trình chuyển mình mạnh mẽ của quốc gia  
này từ một nước quân chủ theo hình thức  
“lưỡng đầu chế” tiến tới một nhà nước đế  
quốc quân phiệt.  
Tại Triều Tiên, do sự kiện tàu buôn  
General Sherman của Mỹ (1871) và sự kiện  
người Đức đứng đầu là Oppert E.J. định đào  
mồ Nam Diên quân là cha của Hưng Tuyên  
Đại viện quân – người đang nắm quyền lực  
cao nhất tại đây đã làm dấy lên tư tưởng thù  
ghét phương Tây trong lòng dân bản địa  
(Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học,  
2005). Triều đình Triều Tiên thi hành chính  
sách bế quan tỏa cảng, từ đó chủ trương  
chống giao lưu, thông thương với phương  
Tây, trào lưu cận đại hóa do vậy cũng bị hạn  
chế. Phải đến sau Điều ước Ganghwa (1876)  
ký với Nhật Bản, nhà nước Triều Tiên mới  
chính thức mở lại các hải cảng thông thương  
với Nhật bao gồm ba cảng Busan, Wonsan  
và Incheon. Đến năm 1894, với hy vọng cứu  
vãn tình thế, đẩy lùi sự xâm lược của Nhật  
Bản, vua Cao Tông của Triều Tiên bắt tay  
vào thực hiện cuộc Cải cách Giáp Ngọ. Đến  
năm 1897, Cao Tông tuyên bố lên ngôi  
Hoàng đế, đổi tên nước là Đại Hàn Đế Quốc,  
đặt niên hiệu là Quang Vũ, tiếp tục thực hiện  
Cải cách Quang Vũ, mở đầu cho việc xây  
dựng nền giáo dục, quân sự và khoa học kỹ  
thuật tiếp thu thành tựu của phương Tây.  
Chính trong giai đoạn này, để hỗ trợ  
tiến trình cận đại hóa, các trí thức Đông Á đã  
tích cực nghiên cứu Tây học và biên dịch  
những tác phẩm kinh điển của phương Tây ra  
Hán văn. Hệ thống tân thư và tân văn hình  
thành góp phần làm thay đổi tư duy và diện  
mạo của nền học thuật cận đại. Giới sĩ phu cấp  
tiến và trí thức Tây học Đông Á đã hồ hởi đón  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
72  
Mặc dù đã có sự cố gắng thi hành  
những chính sách tiếp thu khoa học kỹ thuật  
phương Tây, song sự thiếu tập trung xây  
dựng lực lượng quân đội, tình hình kinh tế sa  
sút và sức ép từ phía Nhật Bản, cuộc cải cách  
tại Đại Hàn Đế Quốc đã không có được  
thành công như mong đợi. Năm 1904, Nhật  
Bản buộc Triều Tiên ký kết Điều ước Ất Tỵ  
cho phép mở Thông giam phủ ở Hán Thành  
(Seoul), đến năm 1910, hoàng đế Thuần  
Tông phải thoái vị, Triều Tiên chính thức trở  
thành thuộc địa của Nhật Bản. Trước tình  
hình đó, nhiều trí thức yêu nước của Triều  
Tiên hoặc ở lại trong nước, hoặc lưu vong  
sang Mãn Châu (Trung Quốc) đã tiếp tục con  
đường đấu tranh chống Nhật giành lại chủ  
quyền dưới nhiều hình thức khác nhau.  
mua, dịch và truyền bá các sách vở mới (tân  
thư) từ Trung Quốc, từ đó gián tiếp tiếp nhận  
tư tưởng cận đại phương Tây. Họ hăng hái  
tham gia vào cuộc vận động cải cách dân chủ  
tư sản đầu thế kỉ XX dưới nhiều hình thức  
như mở trường dạy học, lập công ty buôn,  
vận động chính trị, mở nhà in xuất bản sách  
báo, tạp chí mới tiến bộ. Trong số các trường  
lớp mới tiêu biểu có thể kể đến phong trào  
Đông Kinh Nghĩa thục (1907) với xuất phát  
điểm từ Hà Nội, sau đó lan rộng ra nhiều tỉnh  
thành phía Bắc. Nhiều nhà in như Cường học  
thư xã, Nam Đồng thư xã, Quan hải tùng  
thư,… ra đời. Các tờ báo như Tiếng dân,  
Nông cổ mín đàm, Phụ nữ tân văn,… cùng  
các tạp chí như Nam Phong tạp chí, Tri  
tân,… đã tiên phong trong lĩnh vực học thuật,  
truyền bá tư tưởng và tri thức mới, thúc đẩy  
quá trình cận đại hóa.  
Trong quá trình lưu vong ở Mãn  
Châu, các trí sĩ như Park Eun-shik, Shin  
Chae-ho,… đã viết nhiều tác phẩm mang  
tinh thần phản thực dân, cổ vũ ý chí đấu  
tranh của quần chúng nhân dân. Tiêu biểu có  
thể kể đến như Mộng bái Kim Thái Tổ  
(몽배금태조), Huyết sử về phong trào độc lập  
tại Hàn Quốc (한국독립운동지혈사), Hàn  
Quốc thống sử (한국통사),… của Park Eun-  
shik hay Bản thảo nghiên cứu Lịch sử Triều  
Tiên (조선역사연구초), Độc sử tân luận  
(독사신론),… của Shin Chae-ho.  
Thông qua các kênh tư tưởng như  
trên, giới trí thức yêu nước đã tìm cách lồng  
ghép, kêu gọi vực dậy tinh thần yêu nước,  
đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Các  
tác phẩm Việt Nam vong quốc sử, Đại Nam  
quốc sử diễn ca, Hậu trần dật sử, Hải ngoại  
huyết thư,… của Phan Bội Châu, Tỉnh quốc  
hồn ca của Phan Châu Trinh, Chiêu hồn  
nước của Phạm Tất Đắc,… đã được lưu  
truyền và đón nhận một cách rộng rãi trong  
thời gian này. Trào lưu xuất dương du học  
sang phương Tây, Trung Quốc, Nhật Bản  
cũng được đẩy mạnh. Chỉ trong một thời  
gian ngắn, diện mạo dân tộc từ chính trị, tư  
tưởng đến văn hóa xã hội đã có sự chuyển  
biến rõ rệt.  
Tại Việt Nam, năm 1858, thực dân  
Pháp liên minh với hải quân Tây Ban Nha nổ  
súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc  
xâm lược Việt Nam lần thức nhất. Đến năm  
1884, với thỏa thuận ký kết Hiệp ước  
Patenotre, nhà Nguyễn chính thức đầu hàng,  
Việt Nam bước vào giai đoạn lịch sử thuộc  
địa nửa phong kiến. Trước những biến đổi  
sâu sắc diễn ra tại các nước láng giềng và  
trong chính nội tại đất nước, các sĩ phu người  
Việt đã có sự thay đổi về mặt tư tưởng. Sự  
thay đổi ấy đến từ hai nguyên nhân chính:  
một là sự tiếp xúc với nền văn hóa mới của  
Trung Quốc, hai là sự mở mang nền Pháp  
học tại Việt Nam (Dương, 2019).  
2.2. Sự tiếp nhận tư tưởng dân tộc chủ  
nghĩa tại Việt Nam và Hàn Quốc  
Quan điểm về dân tộc và chủ nghĩa  
dân tộc giai đoạn đầu thế kỉ XX chịu ảnh  
hưởng nhiều từ tư tưởng của các trí sĩ Trung  
Quốc trong đó tiêu biểu là Lương Khải Siêu.  
Khái niệm dân tộc (nation) được biên dịch  
lần đầu tiên tại Đông Á nhờ công sức của các  
học giả người Nhật. Năm 1866, trong cuốn  
Tây Dương sự tình, Fukuzawa Yukichi đã  
dịch từ people thành quốc dân, khái niệm  
Một số sĩ phu mang tư tưởng cấp tiến  
hoặc du học từ Trung Quốc, Nhật Bản đã  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
73  
nation sau đó cũng được ông dịch thành  
quốc dân. Đến năm 1887, một dịch giả  
khuyết danh trong cuốn Tộc dân chủ nghĩa  
và sự kiến quốc của các tộc dân và Dân tộc  
luận đã dịch song song khái niệm nation  
thành dân tộc và quốc dân (Park, 2016).  
theo hai góc độ (1) chủ nghĩa không can  
thiệp vào dân tộc khác, (2) đất nước ta là do  
dân tộc ta làm chủ. Chủ nghĩa dân tộc lúc này  
“chỉ có một pháp môn bất nhị là bảo toàn  
dân tộc” (Shin, 2017), đó cũng là thức vũ khí  
để chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa  
đế quốc.  
Năm 1899, Lương Khải Siêu, sau  
một thời gian sinh sống tại Nhật đã viết bài  
sử dụng thuật ngữ dân tộc, từ đó, các tầng  
lớp trí thức tiến bộ, nhân sĩ cải lương Trung  
Quốc mới bắt đầu sử dụng thuật ngữ này. Từ  
năm 1903, hai chữ dân tộc mới được sử dụng  
rộng rãi tại Trung Quốc. Các trí thức sử dụng  
phổ biến thuật ngữ này bao gồm Lương Khải  
Siêu, Lương Thị, Trương Hán Viên, Tôn  
Trung Sơn (Khổng, 2019),… Lương Khải  
Siêu sau đó là người đã phát triển quan điểm  
về chủ nghĩa dân tộc hay đại dân tộc chủ  
nghĩa tại Trung Quốc. Hình thức của chủ  
nghĩa dân tộc theo Lương Khải Siêu là hình  
thành cộng đồng dân tộc trên nền tảng chống  
lại các thế lực bên ngoài và tự mình vươn lên  
(Gao & Liu, 2002). Quan điểm của ông đã  
đặt chủ nghĩa dân tộc trong sự đối trọng với  
chủ nghĩa đế quốc, biến nó thành cơ sở, nền  
tảng để phát huy nội lực dân tộc và kiềm chế  
các thế lực bên ngoài.  
Tại Việt Nam, theo nhận định của  
Nguyễn Ái Quốc trong Báo cáo gửi Quốc tế  
Cộng sản về phong trào cách mạng ở An  
Nam, Phan Bội Châu được mọi người mến  
phục và coi là nhà trí thức tiêu biểu cho chủ  
nghĩa quốc gia và là người đã làm bùng nổ ý  
thức về quốc gia tại đây (Hồ, 2000b). Trong  
Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ  
(1924), Nguyễn Ái Quốc cũng đã khẳng định  
về sự tồn tại của chủ nghĩa dân tộc tại Việt  
Nam. Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc  
là động lực to lớn của đất nước”. Nó thúc  
giục người dân Việt Nam đứng lên đấu tranh  
và được hình thành dựa trên lòng yêu nước,  
căm ghét quân xâm lược. Đó là “động lực vĩ  
đại và duy nhất của đời sống xã hội” người  
dân Việt Nam lúc bấy giờ (Hồ, 2000a, tr.  
468-469). Đến năm 1932, trong cuốn Hán  
Việt tự điển, học giả Đào Duy Anh đã tổng  
kết và đưa ra định nghĩa dân tộc chủ nghĩa  
là “Cái chủ trương liên hiệp của các dân tộc  
đồng chung để tự cường, không chịu ngoại  
tộc đè ép” (Đào, 2015, tr. 201).  
Quan điểm của các trí thức Trung  
Quốc mà tiêu biểu là Lương Khải Siêu đã có  
những ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức nhìn  
nhận về chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam và  
Hàn Quốc. Năm 1909, trong bài viết của  
Choi Dong-shik đăng trên Honam học hội  
nguyệt báo, chủ nghĩa dân tộc được định  
nghĩa là “việc những người có cùng tập tục,  
cùng văn tự, ngôn ngữ và chủng tộc, chiếm  
cứ lấy một vùng đất nhất định, dùng sức  
mạnh của mình để tự trị và duy trì nền độc  
lập cùng với đồng bào của mình, nhắm tới  
một lợi ích chung và đề phòng những dân tộc  
khác” (National Institute of Korean History).  
Theo đó, có thể thấy, quan điểm về  
chủ nghĩa dân tộc giai đoạn đầu thế kỉ XX  
giữa các nước Trung Quốc, Việt Nam và  
Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng rõ rệt.  
Cụ thể, các trí thức thời kì này đã nhấn mạnh  
khía cạnh cố kết dân tộc của chủ nghĩa dân  
tộc nhằm bảo vệ dân tộc mình cũng như ngăn  
chặn sự xâm lược của ngoại tộc. Theo cách  
gọi của nhà nghiên cứu Kim Young Han, vào  
thời kì này đã xuất hiện một trào lưu chủ  
nghĩa dân tộc phản thực dân hay chủ nghĩa  
dân tộc phản kháng. Trong đó, chủ nghĩa  
dân tộc phản thực dân đề cao tinh thần đấu  
tranh giải phóng, tinh thần độc lập, chủ  
quyền và phản kháng chống ngoại xâm của  
các dân tộc thuộc địa (Kim, 2000).  
Cũng trong năm 1909, trên tờ Đại  
Hàn mỗi nhật thân báo số ra ngày 28/5, Shin  
Chae-ho, học giả đi đầu trong truyền bá tư  
tưởng dân tộc chủ nghĩa tại Hàn Quốc thời  
kì cận đại đã nhận định chủ nghĩa dân tộc  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
74  
Sự truyền bá tư tưởng dân tộc chủ  
nghĩa trong giai đoạn này cũng không tách  
khỏi nhu cầu khẳng định tính tự cường, tính  
bản sắc, nhấn mạnh vào tầm quan trọng, sự  
tự hào về lịch sử văn hóa dân tộc. Những nỗ  
lực của các trí thức yêu nước đầu thế kỉ XX  
nhằm xác lập và củng cố nền tảng lịch sử -  
văn hóa dân tộc đã dẫn đến sự ra đời của chủ  
nghĩa dân tộc văn hóa (cultural nationalism)  
với những biểu hiện như: 1) xây dựng quan  
điểm về Quốc hồn quốc túy – yếu tố linh  
thiêng chi phối đời sống xã hội, 2) nhấn  
mạnh tín ngưỡng thờ cúng Quốc tổ - yếu tố  
chung nguồn cội của dân tộc, 3) đề cao vai  
trò của nghiên cứu, giáo dục và truyền bá  
Quốc sử, 4) thúc đẩy việc sử dụng và sáng  
tác bằng chữ Quốc ngữ, 5) hướng tới xây  
dựng một nền Quốc văn thông qua ngôn  
luận, báo chí và sách vở để từ đó truyền bá  
những tư tưởng mới đến quốc dân đồng bào.  
thần xả thân vì lợi ích dân tộc. Thứ tư, trong  
những tác phẩm của mình, cả Shin Chae-ho  
và Phan Bội Châu đều bày tỏ rõ lòng thành  
kính và tình yêu thương sâu sắc đối với quốc  
gia dân tộc, thể hiện qua sự tôn thờ dòng máu  
chung, tổ tiên chung, truyền thống hào hùng  
và khát vọng tiếp nối những tấm gương anh  
hùng trong lịch sử, vực lại một dân tộc đang  
bị cai trị dưới chế độ thực dân đầu thế kỉ XX.  
3.1. Vị trí của Shin Chae-ho và Phan Bội  
Châu trong lịch sử văn học đầu thế kỉ XX  
Shin Chae-ho (1880-1936) còn có  
hiệu là Danchae (丹齋, Đan Trai), Ilpyeon  
dansim (一片丹心, Nhất phiến đan tâm) sinh  
ra trong một gia đình giàu truyền thống Nho  
học vùng Chungcheong-do. Năm 19 tuổi  
(1898), ông vào học tại Thành Quân Quán,  
tham gia hoạt động của Hiệp hội Độc lập  
(독립협회) sau đó bị địch bắt và chính thức  
bắt đầu hoạt động cách mạng. Giống như  
nhiều trí thức đương thời, Shin Chae-ho tích  
cực tham gia vào hoạt động báo chí, ngôn  
luận. Từ năm 1905, ông đảm nhiệm phần  
chính luận cho tờ Hoàng thành tân văn  
(황성신문), năm 1907, ông làm chủ bút cho  
tờ Đại Hàn mỗi nhật thân báo  
(대한매일신보). Bên cạnh đó, ông còn viết bài  
cho các tạp chí của Giho hưng học hội  
(기호흥학회), Nguyệt báo Hiệp hội Đại Hàn  
(대한협회 월보),…  
3. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong văn  
học của Shin Chae-ho và Phan Bội Châu  
Để làm rõ những biểu hiện về tư  
tưởng dân tộc chủ nghĩa trong những trước  
tác của Shin Chae-ho và Phan Bội Châu trên  
văn đàn đầu thể kỉ XX, bài viết tập trung vào  
một số luận điểm như sau: thứ nhất, bài viết  
trình bày một số đánh giá về vị trí của Shin  
Chae-ho và Phan Bội Châu trong lịch sử văn  
học Hàn Quốc và Việt Nam đầu thế kỉ XX,  
từ đó thấy được tầm vóc và sức ảnh hưởng  
của từng tác giả đối với dòng chảy văn học  
cận đại. Thứ hai, về tư tưởng chủ đạo trong  
sáng tác, nghiên cứu đưa ra đặc điểm chung  
về tinh thần văn dĩ tải đạo trong sáng tác của  
hai tác giả. Tuy nhiên, khái niệm “đạo” ở đây  
không giống như “đạo” trong văn học cổ  
trung đại dưới góc nhìn Nho giáo mà được  
hiểu như là con đường cứu nước, con đường  
đấu tranh giành độc lập dân tộc. Thứ ba, chủ  
nghĩa anh hùng yêu nước được bộc lộ một  
cách rõ nét trong sáng tác văn học của Shin  
Chae-ho và Phan Bôi Châu. Những tấm  
gương được họ lựa chọn để đưa vào tác  
phẩm là những người hội tụ đủ tài và đức,  
quan trọng hơn thảy là lòng trung nghĩa, tinh  
Sáng tác của Shin Chae-ho tập trung  
vào các mảng đề tài nghị luận, lịch sử và  
truyện ký. Các tác phẩm tiêu biểu như Độc  
sử tân luận (讀史新論), Triều Tiên thượng cổ  
sử (朝鮮上古史), Triều Tiên thượng cổ văn  
hóa sử (朝鮮上古文化史), Truyện Lý Thuấn  
Thần (李舜臣傳), Truyện Ất Chi Văn Đức (乙  
支文德傳), Truyện Thôi Đô thống (崔都統傳),  
Truyện ba người anh hùng kiến quốc Italy (  
伊太利建國三傑傳), Khung trời mơ (꿈하늘),  
Trận đại chiến giữa rồng và rồng (龍─龍─大  
激戰),… Với những đóng góp của mình, Shin  
Chae-ho được ca ngợi là cha đẻ của nền sử  
học hiện đại Hàn Quốc, đồng thời cũng là  
người đã khai mở nền sử học dân tộc chủ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
75  
nghĩa, một trong ba dòng chính của sử học  
cận đại đầu thế kỉ XX.  
mạnh mẽ từ tinh thần Nho giáo với một nền  
văn học mới sáng tạo cùng nhiều luồng tư  
tưởng đã và đang du nhập vào trong nước.  
Gánh trên mình sứ mệnh của người trí thức  
mất nước, khác với thời đại trước, đối với họ,  
trước tác về văn chương, lịch sử, tư tưởng  
không phải để phục vụ mục đích khoa cử,  
nhập quan trường, phò trung quân nữa.  
Về vị trí trong lịch sử văn học, Shin  
Chae-ho được đánh giá là con người giữ vị  
trí đặc biệt trên văn đàn Hàn Quốc thời kì  
trước giải phóng. Sáng tác của ông bao gồm  
cả ba thể Hán văn, Hàn ngữ và Hán Hàn hỗn  
dụng. Văn chương của Shin Chae-ho thể  
hiện mạnh mẽ tư tưởng yêu nước với những  
thủ pháp cùng hình tượng đặc biệt mang tinh  
thần của chủ nghĩa lãng mạn. (Han, 2004)  
Shin Chae-ho cũng đặc biệt coi trọng  
vai trò xã hội của văn học nghệ thuật. Đối  
với ông, văn chương có vai trò như một  
phương tiện cảm hóa và giáo dục tinh thần,  
truyền thống yêu nước đến quốc dân đồng  
bào. Một cách nhất quán, các sáng tác của  
ông đều tập trung cổ vũ lòng yêu nước, đặc  
biệt nhấn mạnh đến tinh thần và tấm gương  
của các vị anh hùng trong lịch sử dân tộc,  
không chỉ các vị anh hùng trong lịch sử dân  
tộc mà còn xem xét cả lịch sử các quốc gia  
khác. Trưởng thành trong bối cảnh Nhật Bản  
từng bước thiết lập ách thống trị, các bài viết  
của ông từ báo chí cho đến văn thơ, tiểu  
thuyết,… đều hàm chứa lòng căm phẫn và  
khinh bỉ quân xâm lược Nhật Bản. Ở đó, độc  
giả còn thấy rõ sự tự hào, lòng thành kính  
của tác giả trước lịch sử và văn hóa dân tộc.  
Trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ  
XX, Phan Bội Châu (1867-1940) xuất hiện  
với tư cách một “vị anh hùng, bậc thiên sứ,  
đấng xả thân vì độc lập dân tộc, được 20 triệu  
con người trong vòng nô lệ tôn sùng”. Đồng  
thời, trên văn đàn Việt Nam giai đoạn này,  
ông cũng là một trong những tác gia có sức  
ảnh hưởng quan trọng. Văn chương của Phan  
Bội Châu có sức lay động mạnh mẽ đến quốc  
dân đồng bào. Đọc những sáng tác của ông  
từ những tác phẩm kinh điển như Việt Nam  
vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Lưu Cầu  
huyết lệ tân thư… chùm thơ Ái chủng, Ái  
quốc, Ái quần,… đến những bài kêu gọi như  
Vợ khuyên chồng xuất dương du học, Bài ca  
anh em ta hãy đứng lên,…  
Trong Độc sử tân luận, Shin Chae-  
ho cũng đã khẳng định tính chủ thể của quốc  
gia, dân tộc đối với lịch sử. “Lịch sử của một  
quốc gia là những ghi chép để nắm bắt được  
trạng thái thịnh suy, tiêu trưởng của dân tộc.  
Bởi vậy mà, bỏ đi dân tộc thì không có cái  
gọi là lịch sử, mà bỏ đi lịch sử thì quan niệm  
về quốc gia của tự thân dân tộc đó sẽ không  
thể nào to lớn được” (Shin, 2016, tr. 214).  
Đây là quan điểm mang tính độc đáo của nền  
sử học dân tộc chủ nghĩa đi ngược lại với  
quan điểm của sử học phong kiến tập trung  
ghi chép về lịch sử của vương triều.  
Về vị trí trong nền Quốc văn cận đại,  
Phan Bội Châu được đánh giá là một trong  
số những nhà văn lớn nhất của văn học Việt  
Nam trong nửa đầu thế kỉ XX. Đóng góp của  
Phan Bội Châu đối với văn học nước nhà bao  
gồm hầu khắp các thể loại từ văn thơ chữ  
Hán, tiểu thuyết, báo chí và văn thơ Quốc  
ngữ. Với số lượng trước tác đồ sộ, Phan Bội  
Châu đã để lại một vị thế đặc biệt không thể  
thay thế với vai trò là cầu nối hai giai đoạn  
văn học của lịch sử văn học Việt Nam.  
3.2. Tinh thần văn dĩ tải đạo trên con  
đường cứu nước  
Trong số ra ngày 24 – 26/5/1908 trên  
Đại Hàn mỗi nhật thân báo, với chủ đề Đích  
đến của quốc dân Đại Hàn ngày nay (금일  
대한국민의 목적지), Shin Chae-ho đã khẳng  
định rõ con đường tư tưởng của cá nhân ông  
cũng như con đường mà mỗi người dân Hàn  
Quốc cần phải bước qua. Theo đó, đích đến  
Trên văn đàn Việt Nam và Hàn Quốc  
đầu thế kỉ XX, sự hiện diện của thế hệ trí  
thức cấp tiến đóng vai trò đặc biệt quan  
trọng. Họ giống như những gạch nối giữa  
thời kì văn học trung đại chịu sự chi phối  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
76  
của đời người có hai loại, thứ nhất là mục  
đích gắn với mỗi cá nhân, thứ hai là mục đích  
với tư cách quốc dân. Với tư cách cá nhân,  
đó là sự truy cầu hạnh phúc cho bản thân và  
giữ lòng lương thiện, còn đối với tư cách  
quốc dân, mục đích ấy là chấn chỉnh lại tinh  
thần vì quốc gia, làm mọi sự nghiệp vì quốc  
gia, bảo vệ nước nhà thiêng liêng thần thánh  
(Shin, 2017).  
thực dân Pháp và kêu gọi quần chúng đứng lên  
đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.  
Điểm chung rõ nét giữa tinh thần văn  
dĩ tải đạo của Phan Bội Châu và Shin Chae-  
ho nằm ở tinh thần dân tộc, tư tưởng dân chủ  
dân quyền, gắn liền sứ mệnh của người quốc  
dân với vận mệnh của lịch sử, quốc gia, dân  
tộc. Trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, đây được  
coi là “một thứ vũ khí tư tưởng mới lạ trong  
thời đại “châu Á thức tỉnh” sau “giấc ngủ”  
quân chủ” (Nguyễn, 2008). Phan Bội Châu  
quan niệm “Người dân ta, của dân ta. Dân là  
dân nước, nước là nước dân” (Phan, 2017a,  
tr. 97). Quốc dân chính là chủ thể của lịch sử  
dân tộc, nhân dân còn thì đất nước còn, nhân  
dân mất thì đất nước mất. Vận mệnh của  
nhân dân cũng chính là vận mệnh của đất  
nước.  
“Cánh cửa ấy là độc lập  
Con đường ấy là tự do”  
(Đích đến của quốc dân Đại Hàn ngày nay)  
Tư tưởng phản đối nền Nho học quan  
trường và nhấn mạnh vai trò thời đại của  
người trí thức được phản ánh trong Xuất  
dương lưu biệt của Phan Bội Châu: “Giang  
sơn tử hĩ sinh đồ nhuế, Hiền thanh liêu nhiên  
tục diệc si” (Non sông đã mất sống thêm  
nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài –  
Tôn Quang Phiệt dịch). Lúc này, đối với giới  
trí thức cấp tiến trong đó có Phan Bội Châu,  
sáng tác vẫn là con đường để tải đạo, nhưng  
“đạo” ở đây đã có phần thay đổi. Đạo lúc này  
là con đường cứu nước, cứu dân, con đường  
để bảo toàn dân tộc.  
“Thân ta là nước đó mà,  
Nước ta đó cũng vẫn là thân ta  
Thân có nước mới là thân sống  
Nước mất thời thân cũng có đâu!”  
(Việt Nam quốc sử bình diễn ca)  
3.2. Chủ nghĩa anh hùng yêu nước trong  
sáng tác  
Phan Bội Châu sinh trưởng trong một  
gia đình có truyền thống Nho học, bản thân  
ông cũng là người làu thông kinh điển Nho  
gia. Văn chương của ông do vậy, cũng thấm  
nhuần tinh thần văn dĩ tải đạo, lấy văn  
chương làm phương tiện cho tư tưởng, song  
bản thân ông không coi văn chương là mục  
tiêu để lập thân, thường hay đọc tụng câu thơ  
của Viên Mai: “Mỗi phạn bất vong duy trúc  
bạch, lập thân tối hạ thị văn chương” (Phan,  
1973). Do sớm hiểu được nghĩa lớn, năm 17  
tuổi (1883), thực dân Pháp đánh chiếm Bắc  
Kỳ, Phan Bội Châu đã viết hịch Bình Tây thu  
Bắc, mong một dịp cảnh động đồng bào. Sau  
này, trên con đường hoạt động cách mạng,  
Phan Bội Châu đã để lại trước tác gồm hàng  
trăm bài thơ văn, thư từ chữ Hán và chữ quốc  
ngữ. Hết thảy, ông đều hướng đến mục tiêu  
cứu cánh là cảnh tỉnh quốc dân đồng bào,  
truyền bá tư tưởng ái quốc ái quần, vạch tội  
Chủ nghĩa anh hùng là sợi chỉ đỏ  
xuyên suốt trong các sáng tác văn học của  
không chỉ riêng Phan Bội Châu hay Shin  
Chae-ho mà còn của nhiều trí thức Đông Á  
đương thời. Chủ nghĩa anh hùng theo đó,  
xuất hiện cùng với lao động và đấu tranh của  
con người, vì mục đích sống còn và phát  
triển. Đó là tinh thần dũng cảm, gan dạ kiên  
quyết, hy sinh vì lợi ích chung của tập đoàn,  
của xã hội. Chủ nghĩa anh hùng mang tính  
chất xã hội và thuộc về phạm vi đạo đức  
(Hồng, 1967). Trong bài viết này, chủ nghĩa  
anh hùng yêu nước được hiểu là chủ nghĩa  
anh hùng hướng đến đối tượng quốc gia, dân  
tộc. Người anh hùng trước hết cũng là một  
nhà yêu nước, họ thông qua những phẩm  
chất và tài năng, suy nghĩ và hành động của  
mình để hướng tới kiến thiết và bảo vệ quốc  
gia dân tộc.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
77  
Đối với Shin Chae-ho, người anh  
hùng trước hết phải là một người yêu nước,  
không phải kẻ chỉ hò hét yêu nước bằng  
mồm miệng hay bằng ngòi bút mà là người  
luôn hướng về đất nước với tất cả tâm hồn  
và thể xác, là người mà mọi suy nghĩ và hành  
động của họ đều là vì đất nước (Lee, 2019).  
Người yêu nước giống như Lý Thuấn Thần  
xứng đáng là bậc anh hùng bởi “trong lòng  
của ông không có phú quý, bần tiện, an lạc  
hay ưu khổ, duy chỉ nhất nhất hướng về dân  
tộc, dẫu bỏ mạng mà có lợi cho dân tộc thì  
sinh ra buổi sáng, chết buổi tối cũng cam  
lòng” (Shin, 2019).  
tiên, những điều quý giá ấy trong lịch sử Việt  
Nam không hiếm” (Trần, 1993). Trong sáng  
tác của ông, lịch sử dân tộc hiện lên vừa anh  
dũng, đáng tự hào lại vừa bi thương, như  
trong Hải ngoại huyết thư, ông viết: “Tổ tiên  
ta dần dần phát bụi cây bạt cỏ, mở đất, chạm  
khắc núi non, thêu dệt sông suối, tạo thành  
đất Việt Nam gần hai mươi bảy vạn dặm  
vuông Anh, đẹp đẽ biết bao!” (Chương,  
2010, tr. 435) hay trong phần mở đầu của  
Việt Nam vong quốc sử, “Không có gì đau  
bằng người mất nước, cũng không có gì đau  
bằng người bị mất nước mà bàn việc nước!  
Tôi muốn viết đoạn sử mất nước này, nhưng  
đã bao phen lệ cạn huyết khô, mà cơ hồ  
không viết nổi chữ nào” (Phan, 1982).  
Đối với người anh hùng trong sáng  
tác của Shin Chae-ho, duy chỉ có lòng yêu  
nước vẫn là chưa đủ, đó còn phải là người  
hội đủ lòng can trường, sẵn sàng chiến đấu  
vì người dân. Khi viết về tướng Ất Chi Văn  
Đức, ông viết “chủ ý của Ất Chi Văn Đức là  
không so đo tính toan xem quân địch mạnh  
hay yếu, có tinh nhuệ hay dũng cảm, ta nhất  
định phải tiến lên phía trước, tấm lưng có ướt  
mồ hôi cũng không lùi bước dù chỉ là một  
sợi lông, dòng máu luôn sục sôi trong ruột  
gan, phải lấy đó mà cảnh giới bản thân, lấy  
đó mà khuyến khích đồng đội, lấy đó mà cổ  
vũ nhân dân toàn quốc, sống chết cũng phải  
là người Triều Tiên, ăn ngủ cũng phải là  
người Triều Tiên…” (Shin, 2014)  
Khi dành dòng viết cho những vị anh  
hùng tráng sĩ, lời văn của Phan Bội Châu  
không ngớt sự ca ngợi bằng nhiều hình ảnh  
so sánh có phần lãng mạn, phảng phất phong  
vị của anh hùng ca. Người anh hùng trong  
sáng tác của Phan Bội Châu sở hữu ý chí  
sánh ngang cùng thiên địa, sẵn sàng xả thân  
vì nghĩa lớn, thà chết cũng không chịu cúi  
đầu “Đơn đao cắt đứt sầu kim cổ, Trường  
kiếm rạch toang máu đất trời”. Như khi viết  
về tráng sĩ Cao Thắng, một yếu nhân của  
khởi nghĩa Hương Khê, ông đã viết thay lời  
Cao Thắng bằng chất giọng đanh thép:  
“Người nước Việt Nam ta, chỉ có Cao Thắng  
mất đầu, chứ không thể có Cao Thắng hàng  
giặc! Nay hãy tạm giấu tung tích chờ thời cơ  
hành động. Nhưng một ngày kia, sẽ ăn gan  
uống máu giặc, thì dù chết ta cũng không oán  
hận” (Phan, 2017c, tr. 19).  
Hào khí đội trời đạp đất của người  
anh hùng còn được khắc họa trong Lý Thuấn  
Thần truyện bằng những lời ca đầy cảm khái:  
“Lấy gươm mài hết đá núi Baekdu  
Cho ngựa uống cạn nước sông Duman  
Chẳng quét sạch hết bọn đạo tặc  
Hậu thế ai xưng đại trượng phu?”  
(Shin, 2019, tr. 16)  
Nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết  
lịch sử của Phan Bội Châu không chỉ đơn  
thuần mang tính lịch sử mà còn mang tính  
hiện đại. Ngay cả khi đọc câu chuyện thuộc  
đời Trần đầu thế kỉ XV được ông kể lại trong  
Hậu Trần dật sử hay Trùng Quang tâm sử,  
độc giả vẫn thấy được ở đó tính chất thời sự.  
Những mưu lược của nhân vật ông Khoáng  
tức Trùng Quang đế sau này khi họp bàn về  
khởi nghĩa chống Minh dường như đang  
thay lời của người chí sĩ cách mạng đầu thế  
kỉ XX. “Chúng ta bất luận thế nào, cốt lấy  
Phan Bội Châu sử dụng văn chương  
như một phương tiện để giáo dục và truyền  
bá lịch sử dân tộc. Ông nhận định “không bỏ  
lỡ dịp nào để gây lòng tự hào dân tộc, và để  
gây lòng tự hào dân tộc thì không có gì hơn  
là đề cao những nhân vật anh hùng cứu nước,  
đề cao những chiến công oanh liệt của tổ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
78  
quang phục Tổ quốc làm mục đích duy nhất.  
Thời kì đầu sẽ là thời kì vận động, sau đó là  
thời kì tiến hành, cuối cùng là thời kì kiến  
thiết. Thời kì cuối này là sau khi quang phục  
thành công. Khi đó sẽ có người kế chúng ta  
lo liệu” (Phan, 2017b). Chủ trương này  
dường như cũng chính là chủ trương cứu  
nước của Phan Bội Châu trên con đường làm  
cách mạng.  
son sắt, chia sẻ với nhau, mỗi người một  
phần cùng gánh vác quyền nước, gánh vác  
nghĩa vụ quốc dân.  
“Nước tức là nhà  
Nhà tức là nước  
Vậy nên nhà nước  
Hai chữ liền nhau  
Nhà là nước nhỏ  
Nước là nhà to  
Như vậy, có thể thấy, hình tượng  
người anh hùng được khắc họa trong sáng  
tác văn học của Phan Bội Châu và Shin  
Chae-ho hoàn toàn không phải kẻ võ thần  
hữu dũng vô mưu. Người anh hùng ở đây  
mang đủ tinh thần và phẩm chất đại diện cho  
dân tộc. Ở đó có Dũng – ý chí, lòng quyết  
tâm không chùn bước, có Nhân – hết lòng vì  
nhân dân, có Trung – xả thân vì tổ quốc, có  
Trí – trong hùng tài thao lược. Trong bối  
cảnh đất nước rối ren trong vòng thuộc địa,  
hình ảnh người anh hùng như vậy có sức cảm  
hóa mạnh mẽ, vừa khơi lại lòng yêu nước,  
lòng tự hào dân tộc của người dân, vừa cổ vũ  
họ đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc,  
theo bước anh hùng tiền nhân đi trước.  
Cơ đồ tiên tổ  
Thành quách non sông  
Xương trắng máu hồng  
Gây nên gấm vóc”.  
(Nam quốc dân tu tri)  
Đất nước trong sáng tác của Shin  
Chae-ho mang vẻ đẹp của giang sơn cẩm tú,  
vẻ đẹp ấy cũng được tạo nên từ sự đóng góp  
của mỗi người dân. Điều thuộc về em (너의  
것) là một trong số bài thơ tiêu biểu thể hiện  
cho tấm lòng chung tình của Shin Chae-ho  
dành cho Tổ quốc. Mỗi điều thuộc về em từ  
đôi mắt, dòng máu, hơi thở, tiếng nói đều  
làm đẹp thêm cho đất nước. Bài thơ cũng  
chính là niềm rung động của nhà thơ, cảm  
xúc thiêng liêng mong muốn được hiến dâng  
cho Tổ quốc.  
3.3. Tình yêu, niềm tự hào và lòng thành  
kính trước dân tộc  
Đối với thế hệ trí thức dân tộc, tình  
yêu nước đến từ những điều rất đỗi nhỏ nhặt,  
bình dị. Giống như những gì nhà văn I. G.  
Ehrenburg thốt lên “Lòng yêu nhà, yêu làng  
xóm, yêu miền quê trở nên tình yêu tổ quốc”.  
Tình yêu đó cũng giống như muôn dòng suối  
đổ về sông rồi trăm sông lại dồn ra biển lớn.  
Trong văn thơ của các trí thức dân tộc chủ  
nghĩa Đông Á thời kì này, thứ nổi bật là  
chúng ta, đất nước ta, tổ quốc ta, dân tộc ta.  
Hình ảnh quốc gia, dân tộc hiện lên giống  
như một ngôi nhà chung, nơi đồng bào cùng  
chung dòng máu, cùng chung tổ tiên, chung  
vận mệnh.  
“Đôi mắt em hóa thành vầng dương  
Rạng soi khắp chốn  
Chiếu sáng đất nước em  
Dòng máu em hóa thành đóa hoa  
Nở khắp muôn nơi  
Làm đẹp đất nước em  
Hơi thở em hóa thành làn gió  
Thổi đi trăm nẻo  
Sạch trong đất nước em  
Tiếng nói em hóa thành ngọn lửa  
Bùng lên mọi miền  
Đối với Phan Bội Châu, trong Nam  
quốc dân tu tri, nước chính là nhà, nhà chính  
là nước. Góp nghìn ức nhà để dựng xây nên  
đất nước. Mỗi người quốc dân đều gắn bó  
với nước nhà bằng một tình cảm thủy chung  
Đốt nóng đất nước em.”  
(Điều thuộc về em)  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
79  
Gắn liền với tình yêu nước là niềm tự  
hào và lòng thành kính trước quốc gia dân  
tộc. Đối với Phan Bội Châu hay Shin Chae-  
ho, đất nước không phải một khái niệm vô  
tri mà chứa đựng năng lực thiêng liêng được  
hun đúc từ trong lịch sử. Khái niệm Quốc  
hồn, Hồn nước hay Tinh thần dân tộc nhiều  
lần được đề cập trong những sáng tác, nhận  
định của họ. Lòng tự hào và thành kính còn  
được bày tỏ qua sự ngưỡng vọng trước vị  
Quốc tổ - người đã đắp nền xây móng cho  
quốc gia dân tộc và trước tấm gương anh  
hùng của các bậc trung thần nghĩa sĩ trong  
lịch sử mà nhờ có họ, dân tộc được bảo tồn.  
dựng ra nước là Hùng Vương” (Phan, 2010)  
mà còn đề cao công lao cứu nước cứu dân  
của các vị anh hùng trong lịch sử. Trong Việt  
Nam quốc sử khảo (1908), Phan Bội Châu đã  
trang trọng đề xuất gọi Ngô Quyền là “vị Tổ  
trung hưng thứ nhất của dân tộc” và Lê Lợi  
là “vị Tổ trung hưng thứ hai của dân tộc”  
(Phan, 1961). Đây là biểu hiện của chủ nghĩa  
anh hùng của Phan Bội Châu trong sáng tác  
văn học và lịch sử. Theo quan điểm của  
Nguyễn Đổng Chi (1968), ở Phan Bội Châu,  
chủ nghĩa anh hùng yêu nước cũng là chủ  
nghĩa yêu nước được cụ thể hóa.  
Trong tư tưởng của Shin Chae-ho,  
“quốc gia là thể hữu cơ được cấu thành bởi  
tinh thần dân tộc” (National Institute of  
Korean History, 2020). Nếu như người Việt  
Nam gắn kết với nhau bởi dòng giống con  
Lạc cháu Hồng thì người Hàn Quốc, trong  
sáng tác của Shin Chae-ho hay nhiều tác giả  
khác cùng thời kì, tự hào với bốn chữ con  
cháu Dangun (단군자손). Trong một số sáng  
tác của mình, tiêu biểu như Khung trời mơ  
(꿈하늘), thay vì sử dụng Tây lịch, ông đã sử  
dụng mốc năm Dangun lập nên nhà nước Cổ  
Triều Tiên (2333 TCN).  
Phan Bội Châu nhiều lần nhắc đến  
đến khái niệm Quốc hồn hay Hồn nước.  
Ông viết: “Hồn nước ở đâu? Hồn nước ở  
đâu? […] Trời nghiêng đất lở, nghĩ Tổ quốc  
mà gan tựa lửa hồng.” (Văn tế Phạm liệt sĩ  
Hồng Thái) hay “Hồn nước, thề mình son  
một tấm, Tuồng đời thây kẻ bạc đôi ngươi”  
(Đề cảnh xưa thành Thăng Long). Hồn nước  
trong thơ văn của Phan Bội Châu mang nỗi  
lòng khắc khoải của người dân sống trong  
bối cảnh mất nước, luôn trông ngóng về quốc  
gia dân tộc. “Khấn nguyện đàn sau chim  
đỉnh núi, Kêu rêu hồn nước cuốc đêm thu”  
(Phan, 1937).  
Shin Chae-ho thường sử dụng nhiều  
từ kính ngữ khi nói về Dangun trong số các  
trước tác của mình. Ví dụ như “Dangun  
Thánh tổ của chúng ta” (우리 성조 단군) trong  
Ất Chi Văn Đức truyện, hay kính ngữ  
“hanbae” (한배) thường được các tín đồ của  
Đại Tông giáo sử dụng để gọi Dangun “Hỡi  
Dangun vĩ đại, những đứa con mất Người  
đang bật khóc” (단군 한배이여, 임을 잃고 우는  
아기들) trong Khúc ca nghẹn ngào (매암의  
노래). Trong dòng văn học của Shin Chae-  
ho, Dangun bước ra từ thần thoại không còn  
là một nhân vật trong trí tưởng tượng của con  
người, mà là một đối tượng cụ thể, xác định  
tồn tại liên tục, thông suốt (Kim, 2015).  
Phan Bội Châu luôn nhấn mạnh yếu  
tố nguồn cội, cơ sở của tinh thần đoàn kết  
dân tộc và chủ nghĩa yêu nước thông qua  
quan niệm về Quốc tổ. Tư tưởng Quốc tổ  
được thể hiện rõ trong nhiều trước tác của  
Phan Bội Châu, qua đó nuôi dưỡng lòng tự  
hào dân tộc và chủ nghĩa anh hùng. Cụ thể,  
đối với Quốc tổ Hùng Vương, Phan Bội  
Châu luôn bày tỏ sự tự hào về nguồn gốc con  
Rồng cháu Tiên của tộc Việt. Ông viết:  
“Tinh linh nhờ dấu Lạc Hồng, tuy non yếu  
cùng dòng thần giống thánh” (Bài văn điếu  
dân) hay “Dòng Rồng Tiên, con Lạc cháu  
Hồng, dấu cũ rõ ràng, thần truyền thánh nối”  
(Văn tế Bắc Kì nhân nhân chí sĩ, chư vị trận  
tiền hy sinh liệt vị thần linh).  
Không chỉ hiện thực hóa sự tồn tại  
của Dangun, Shin Chae-ho còn dành nhiều  
công sức trong việc nghiên cứu, sáng tác về  
cổ sử Hàn Quốc để chứng minh cho nền  
móng lâu đời của dân tộc mình thông qua  
Xét về khái niệm Quốc tổ, Phan Bội  
Châu không chỉ đề cập riêng tới “Ông tị tổ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
80  
nhiều công trình khảo cứu như Triều Tiên  
thượng cổ sử, Triều Tiên thượng cổ văn hóa  
sử,… Trong đó, ông bày tỏ lòng ngưỡng  
vọng với các vị anh hùng trong lịch sử đã  
góp phần bảo vệ cương vực, mở rộng lãnh  
thổ cho dân tộc. Đó là Đông Minh Thánh  
Vương của Cao Câu Ly, “nhân vật có công  
lao và đức nghiệp vang rền nhất, xuất chúng  
nhất trong số các nhân vật đã mở ra nền tảng  
phồn vinh vạn thế cho đất nước ta” (Lee,  
2019). Kế đó là Lưu Ly Vương người đã  
đánh đuổi quân đội của Vương Mãng, là Đại  
Vũ Thần Vương, người tiêu diệt Lạc Lãng,  
dọn sạch tàn dư của nhà Hán, thu phục Đông  
Phù Dư.  
như Phan Bội Châu và Shin Chae-ho đã hồ  
hởi tiếp nhận tưtưởng dân tộc chủ nghĩa, truyền  
bá rộng khắp bằng báo chí, văn học song song  
với các hoạt động chính trị - cách mạng.  
Với vai trò một nhà văn, nhà hoạt  
động cách mạng, Phan Bội Châu và Shin  
Chae-ho đã tích cực phát huy văn tài của  
mình dùng nó làm công cụ để truyền bá tư  
tưởng chủ nghĩa dân tộc, khơi gợi lòng yêu  
nước và cổ vũ tinh thần đấu tranh chống thực  
dân. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định,  
song những sáng tác ấy đã đóng vai trò xã  
hội quan trọng trong việc thu hút sự quan  
tâm của người dân trở lại với lịch sử, văn hóa  
dân tộc. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong  
sáng tác văn học của Phan Bội Châu và Shin  
Chae-ho giống như con thuyền tư tưởng chất  
chứa những suy tư cách mạng. Ở đó có  
những quan điểm mới về dân tộc, dân chủ,  
dân quyền, tư tưởng về đấu tranh cách mạng.  
Đặc trưng nổi bật là dòng văn học tiểu thuyết  
lịch sử, truyện ký anh hùng. Các trước tác  
như Hậu Trần dật sử, Việt Nam quốc sử bình  
diễn ca, Tráng sĩ Cao Thắng,… của Phan  
Bội Châu hay Truyện Ất Chi Văn Đức,  
Truyện Lý Thuấn Thần, Truyện ba vị anh  
hùng kiến quốc Italy,… của Shin Chae-ho  
đều bộc lộ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa  
anh hùng yêu nước. Người anh hùng hiện lên  
với tư cách là nhà yêu nước, hội tụ đủ những  
phẩm chất tinh hoa và là người đại diện, lãnh  
đạo dân tộc đấu tranh kiến thiết – bảo vệ  
nước nhà. Thông qua văn học, các tác giả  
bày tỏ lòng thành kính đối với thế hệ tiền  
nhân đi trước, những người anh hùng tráng  
sĩ trong lịch sử, sự ngưỡng vọng đối với tổ  
tiên dân tộc, với lịch sử văn hóa lâu dài của  
nước nhà. Ở đó, độc giả có thể cảm nhận  
được tình yêu và niềm tin tưởng của nhà văn  
về một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc.  
Với số lượng trước tác đồ sộ cùng sức ảnh  
hưởng to lớn, Phan Bội Châu và Shin Chae-  
ho xứng đáng là những cây đại thụ trong nền  
văn học cận đại đầu thế kỉ XX tại Việt Nam  
và Hàn Quốc.  
Những tình cảm và dòng cảm xúc  
được Shin Chae-ho cũng như Phan Bội Châu  
khơi mở trong văn học đặc biệt là văn học sử  
của họ chứa đựng lòng thành kính sâu sắc. Ở  
đó, nổi bật lên lòng tự hào trước lịch sử, văn  
hóa, gương oai hùng của dân tộc, vừa thể  
hiện niềm tin vào một tương lai tìm lại ánh  
sáng cho nước nhà. Dưới ngòi bút của họ, có  
lúc quay ngược về quá khứ, để hiện lên một  
giang sơn lộng lẫy gấm hoa cùng những con  
người gan dạ kiêu hùng, có lúc trở lại với  
hiện tại bằng lòng căm hờn, phẫn nộ trước  
cảnh nước mất nhà tan, trước sự cai trị của  
quân giặc bạo tàn.  
4. Kết luận  
Bước sang giai đoạn đầu thế kỉ XX,  
trước tình hình trong nước và quốc tế có  
nhiều chuyển biến quan trọng, giới trí sĩ cấp  
tiến đã có những hoạt động tích cực nhằm  
tiếp thu và truyền bá hệ tư tưởng mới vào  
trong quần chúng. Đối với họ, tư tưởng dân  
tộc chủ nghĩa giống như một luồng sáng mới,  
đem lại nguồn sinh khí đối trọng với chủ  
nghĩa thực dân, trong bối cảnh những quan  
điểm tư tưởng Nho giáo bộc lộ nhiều hạn  
chế, không còn phù hợp với nhiệm vụ đấu  
tranh giải phóng dân tộc. Bằng nhiều con  
đường, phương tiện khác nhau, những trí  
thức tiêu biểu của Việt Nam và Hàn Quốc  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
81  
Lee, D. S. (1982). Danjae soseol e nathanan  
nanggasasang. In Gaeshin eomun yeongu  
hakhwe (Ed.), Gaeshin eomun yeongu (pp.  
161-178). Chungbuk Dahakyo.  
Tài liệu tham khảo  
Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học (2005). Lịch  
sử Hàn Quốc. Nxb Đại học Quốc gia Seoul.  
Choi, W. S. (2001). Munhak eui gwihwan. Changbi  
Lee, S. W. (1978). Gwehwagi jaa eui  
hyungseonghwa. In S. W. Lee (Ed.), Hanguk  
munhak nonchong - Je 6,7 kwon (pp. 289-  
303). Hanguk munhak yeonguhwe.  
Chulpalsa.  
Choi, W. S. (2002). Danjereul chachaseo: Geu  
dansuseonggwa boksuseong. In Danjae  
Yesul Hakhwe (Ed.), Je7hwe Danjae  
munhwa yesul jejeon: Danjae eui munhak  
Danjae jeongshin (pp. 11-25). Danjae yesul  
jejeon wiwonhwe.  
Lee, W. J. (2019). Shin Chae Ho eui minjok eui  
Daehan sangsang gwa yeongwoong  
yangsang  
–
‘Doksasillon’gwa  
yeongwoongnon eul jungsim euro. The  
Journal of Toegye studies, (25), 467-511.  
Chương, T. (2010). Đông Kinh nghĩa thục và văn thơ  
Đông Kinh nghĩa thục (Tập 2). Nxb Hà Nội.  
Nguyễn, Đ. C. (1968). Bàn thêm về chủ nghĩa anh  
hùng của Phan Bội Châu. Tạp chí Nghiên  
cứu Lịch sử, (111), 15-23.  
Dương, Q. H. (2019). Việt Nam văn học sử yếu. Nxb  
Văn học.  
Đào, D. A. (2015). Hán Việt tự điển. Nxb Khoa học  
Xã hội.  
Nguyễn, T. H. (2013). Cận đại hóa văn hóa Trung  
Quốc (Giai đoạn từ chiến tranh nha phiến  
1840 đến Ngũ Tứ vận động 1919) [Luận văn  
Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội].  
Gao, Q., & Liu, H. L. (2002). Lun LiangQiChaode  
“daminzhuzhuyi”. Journal of Baoji College  
of Arts and Sciences (Social sciences), 22(1),  
75-80.  
Nguyễn, V. H. (2008). Quan điểm của Phan Bội Châu  
về dân quyền. Tạp chí Triết học, (9), 31-38.  
Han, J. M. (2004). Shin Chae Ho munhak eui  
gibonteukjing. Toegyehak gwa Yugyo  
munhwa, (35), 67-76.  
Park, C. S. (2016). Minjok – Minjokjueui. Sohwa.  
Phan, B. C. (1937, Tháng một 9). Tình tự với rượu bài  
2. Báo Tiếng Dân.  
Hồ, C. M. (2000a). Hồ Chí Minh toàn tập: 1919-1924  
(Nguyễn Thành, Đặng Văn Thái, Phùng Đức  
Thắng biên tập) (Tái bản lần thứ 2, Tập 1).  
Nxb Chính trị Quốc gia.  
Phan, B. C. (1961). Việt Nam quốc sử khảo (Chương  
Thâu biên tập). Nxb Giáo dục.  
Hồ, C. M. (2000b). Hồ Chí Minh toàn tập: 1930-1945  
(Lê Mậu Hãn, Phạm Hồng Chương, Trần  
Minh Trưởng biên tập) (Tái bản lần thứ 2,  
Tập 3). Nxb Chính trị Quốc gia.  
Phan, B. C. (1973). Phan Bội Châu niên biểu. Nhóm  
nghiên cứu Sử Địa.  
Phan, B. C. (1982a). Những tác phẩm của Phan Bội  
Châu (Văn Tạo biên tập) (Tập 1). Nxb Khoa  
học Xã hội.  
Hồng, Q. (1967). Lịch sử và chủ nghĩa anh hùng. Tạp  
chí Nghiên cứu Lịch sử, (99), 1-9.  
Phan, B. C. (1982b). Việt Nam vong quốc sử (Văn Tạo  
biên tập). Nxb Khoa học xã hội.  
Khổng, D. (2019). Về tiêu chí xác định tộc người ở  
một số nước trên thế giới. Tạp chí Khoa học,  
Giáo dục và Công nghệ, 8(1), 39-45.  
Phan, B. C. (2010). Toàn tập: Việt nam quốc sử bình  
diễn ca (Chương Thâu biên tập) (Tập 1).  
NXB Lao Động, Trung tâm Văn hóa Ngôn  
ngữ Đông Tây.  
Kim, B. M. (1995). Joseon geuntae soseol gwa Liang  
Quichao. In B. M. Kim (Ed.), Hanguk  
geundae ihaenggi munkak yeongu (pp. 121-  
137). Gukhak jaryowon.  
Phan, B. C. (2017a). Hải ngoại huyết thư (Chương  
Thâu biên tập). Nxb Thanh niên.  
Phan, B. C. (2017b). Hậu Trần dật sử (Chương Thâu  
biên tập). Nxb Văn học.  
Kim, H. J. (2015). Shin Chae Ho munhak e  
natananeun minjok yeongu. The Journal of  
Korean Fiction Research, (60), 177-204.  
Phan, B. C. (2017c). Tráng sĩ Cao Thắng (Chương  
Thâu biên tập). Nxb Văn học.  
Kim, Y. H. (2000). Gukjehwa sidae Hanguk minjokjueui  
eui jillo. The Journal of Korean independence  
movement studies, (15), 133-156.  
Shin, C. H. (2014). Euljimundeok jeon. Ebookspub  
chulpalsa.  
Shin, C. H. (2016). Joseon sanggo munhwasa (K. B.  
Park, Trans.). Bibong.  
Lee, D. S. (1978). Danjae soseol e natanan  
Nanggasasang, The Journal of Language  
and Literature, (12), 139-163.  
Shin, C. H. (2017). Shin Chae Ho supil seonjib.  
Jisikeul Mandeuneun Jisik.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
82  
Shin, C. H. (2019). Lee Sun Shin Jeon. Haianbooks.  
Trần, V. G. (1993). Sự phát triển của tư tưởng Việt  
trước các nhiệm vụ lịch sử (Tập 2). Nxb  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng  
Tám: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó  
Vũ, D. N. (2017). Phong trào cải cách ở một số nước  
Đông Á giữa thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Nxb  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
NATIONALISM IN VIETNAMAND KOREAN LITERATURE  
IN THE LATE 19TH AND EARLY20TH CENTURIES:  
CASES OF PHAN BOI CHAUAND SHIN CHAE-HO  
Tran Tung Ngoc, Nguyen Le Thu  
Faculty of Korean Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: East Asian literature in the early twentieth century witnessed the emergence of many  
great authors who gathered all personality of a patriot - writer - historian - revolutionary activist. They  
emphasized literature does not serve artistic purposes, but social purposes, which touch the heart.  
Literature at this time conveyed the stream of national consciousness, nationalism, independence and  
freedom to all of the people and promoted their patriotism and the spirit of fighting for the nation and  
the people. This paper focuses on analyzing the nationalist ideology in the works of Phan Boi Chau and  
Shin Chae-ho in the history of literature of Vietnam and Korea in the early twentieth century. Thereby,  
the research provides an overview of the common characteristics of the nationalist literature in East  
Asia. In the research content, this paper recognizes the nationalist ideology of Korean and Vietnamese  
intellectuals in the transformation of the historical, political and social situation in the early twentieth  
century. On that basis, this paper identifies the characteristics of nationalism in Shin Chae-ho’s and Phan  
Boi Chau's works.  
Keywords: nationalism, modern literature, Phan Boi Chau, Shin Chae-ho, heroism  
pdf 14 trang baolam 22220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong văn học Hàn Quốc - Việt Nam đầu thế kỉ XX - Trường hợp Shin Chae-ho và Phan Bội Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_dan_toc_chu_nghia_trong_van_hoc_han_quoc_viet_nam_d.pdf