Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ thông qua các hoạt động hàng ngày
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
thông qua các hoạt động hàng ngày
Mai Thị Phương
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
TÓM TẮT: Vấn đề ngôn ngữ - giao tiếp là một trong những khiếm khuyết đặc
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Email: phuongmt@vnies.edu.vn
trưng ở trẻ rối loạn phổ tự kỉ. Bài viết trình bày các kĩ thuật giúp phát triển ngôn
ngữ giao tiếp cho trẻ theo sự dẫn dắt của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ tham gia giao
tiếp, đợi trẻ tham gia hoặc giao tiếp, đáp lại hành vi của trẻ. Từ đó, ứng dụng
các kĩ thuật này để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giao tiếp thông qua các hoạt
động hàng ngày bằng một số minh họa giúp người đọc dễ hiểu và thực hiện
được các kĩ thuật trên cho phù hợp với trẻ.
TỪ KHÓA: Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp; rối loạn phổ tự kỉ; hoạt động hàng ngày.
Nhận bài 25/6/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 20/7/2020 Duyệt đăng 25/01/2021.
1. Đặt vấn đề
Để tham gia vào các hoạt động sinh hoạt, học tập, giao
cùng phát triển trong một cộng đồng chung.
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, nhu cầu, tình
tiếp xã hội thì ngôn ngữ và giao tiếp đóng vai trò rất cảm giữa ít nhất hai đối tượng nhờ các hình thức khác
quan trọng: giúp trẻ biết cách thể hiện nhu cầu, suy nghĩ nhau của ngôn ngữ. Quá trình này mang tính hai chiều:
của bản thân, nhận xét đánh giá một sự vật hiện tượng, vai trò gửi và nhận thông tin được luân chuyển giữa các
đối tượng giao tiếp. Một người là người gửi thông điệp
còn người kia là người nhận thông điệp. Không thể có
giao tiếp tốt nếu không có sự luân phiên vai trò này. Giao
tiếp có các hình thức: ngôn ngữ có lời (lời nói và chữ
viêt) và ngôn ngữ không lời gồm ngôn ngữ cơ thể (nét
mặt, ánh mắt, giọng nói, điệu bộ cơ thể, …), dấu và hình
vẽ (Vũ Thị Bích Hạnh, 2004).
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là sự biến đổi
hoặc làm biến đối từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp
đến cao, đơn giản đến phức tạp (Hoàng Phê, 1998). Theo
Vũ Thị Bích Hạnh (2007), phát triển kĩ năng giao tiếp
cho TRLPTK bao gồm các kĩ năng giao tiếp sớm như:
Kĩ năng quan sát, lắng nghe, bắt chước, luân phiên, vui
chơi, nghe hiểu ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ… Đó là
những kĩ năng tiền đề quan trọng để giúp trẻ phát triển
khả năng giao tiếp.Từ những khái niệm trên, chúng tôi
đưa ra khái niệm: “Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp là sự
biến đổi ngôn ngữ - giao tiếp từ ít đến nhiều, từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp để tiếp nhận và diễn đạt
nhu cầu, suy nghĩ, tình cảm,…giữa hai người trở lên”.
phối hợp hoạt động với người khác trong học tập và sinh
hoạt… Tuy nhiên, trẻ rối loạn phổ tự kỉ (TRLPTK) gặp
rất nhiều trở ngại do khiếm khuyết về ngôn ngữ giao tiếp
là một trong những khiếm khuyết điển hình.Trẻ gặp khó
khăn cả về ngôn ngữ có lời và không lời, trẻ gặp khó
khăn trong việc chia sẻ tình cảm, sở thích của mình với
người khác, không thể bắt chuyện, nhập chuyện và cách
đối đáp trong giao tiếp xã hội rất khác thường, khó khăn
trong kết bạn và duy trì tình bạn, không có hứng thú sinh
hoạt chung theo nhóm… Do vậy, nếu trẻ không được hỗ
trợ phát triển ngôn ngữ - giao tiếp thì trẻ gặp rất nhiều
khó khăn trong cuộc sống. Hiện nay, trên thế giới đã có
rất nhiều các phương pháp, biện pháp giúp phát triển
ngôn ngữ giao tiếp cho TRLPTK. Bài viết này trình bày
ứng dụng một vài kĩ thuật giúp phát triển ngôn ngữ giao
tiếp cho trẻ và ứng dụng các kĩ thuật đó thông qua các
hoạt động hàng ngày giúp bố mẹ/người chăm sóc hỗ trợ
trẻ nhiều hơn tại gia đình, hỗ trợ thực hiện kế hoạch giáo
dục cá nhân đạt hiệu quả tốt hơn. Điều này sẽ mang lại
nhiều lợi ích cho bản thân trẻ, cho gia đình trẻ và xã hội.
2.1.2. Trẻ rối loạn phổ tự kỉ
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Khái niệm
Hiện nay, thuật ngữ “Rối loạn phổ tự kỉ” đã được sử
dụng thống nhất ngay sau khi ấn bản lần thứ 5 của Sổ tay
thống kê những rối nhiễu tâm thần (DSM –5) xuất bản
tháng 5 năm 2013. Theo DSM - 5, trẻ có chẩn đoán là rối
loạn phổ tự kỉ (RLPTK) phải thỏa mãn những điều kiện
qui định trong 4 nhóm A, B, C, D.
2.1.1. Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp
Theo Từ điển Tiếng Việt, ngôn ngữ là hệ thống các
âm thanh, các từ ngữ và các quy tắc kết hợp chúng, làm
phương tiện giao tiếp chung cho một cộng đồng (Hoàng
Phê, 1998). Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện, là công
cụ để con người giao tiếp với nhau, giúp con người hiểu
Nhóm A: Khiếm khuyết về giao tiếp xã hội. Trẻ
biết lẫn nhau, bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm … Nhờ RLPTK phải hội đủ tất cả 3 tiệu chuẩn dưới đây: 1/ Trẻ
vậy, con người hiểu nhau, gắn bó với nhau và phối hợp biểu hiện sự vô cảm, không biết rung động, chia sẻ tình
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
42
Mai Thị Phương
cảm, sở thích của mình với người khác, không thể bắt này có thể hiểu hơn khi trẻ sử dụng mắt để tiếp nhận nội
chuyện, nhập chuyện, và cách đối đáp trong giao tiếp xã dung thông tin khi được nhìn thấy. Phần lớn TRLPTK có
hội rất khác thường; 2/ Trẻ có những khiếm khuyết về sự thể hiểu được những hướng dẫn đơn giản, hiểu được tên
bày tỏ cử chỉ, hành vi, dùng lời và không dùng lời, qua gọi của những vật gần gũi, yêu cầu đơn giản như “đưa
sự giao tiếp bằng mắt, không thể hiểu và diễn đạt bằng cho mẹ cái cốc”, “đến đây và uống nước”…
điệu bộ hoặc bày tỏ cảm xúc trên nét mặt; 3/ Trẻ gặp
Quá trình xử lí thông tin ở TRLPTK thường chậm
nhiều khó khăn trong vấn đề kết bạn và duy trì tình bạn, chạp, trẻ cần có một khoảng thời gian bị trì hoãn giữa
lúc thông tin đưa ra và khi phản ứng lại. Trẻ thường gặp
khó khăn phải tiếp thu những thông tin khi người truyền
tin nói quá nhanh hoặc dùng nhiều từ lạ, từ phức tạp.Trẻ
dễ dàng hiểu hơn nếu lời nói kèm theo hình ảnh minh
họa hoặc trẻ được liên tưởng đến hiện tượng xẩy ra trong
cuộc sống hằng ngày.
ngoài trừ cha mẹ và những người chăm sóc khác, không
thể thay đổi hành vi theo sự đòi hỏi của mọi người trong
những nơi chốn khác nhau, thiếu khả năng chơi giả vờ,
và không có hứng thú sinh hoạt chung theo nhóm.
Nhóm B: Những giới hạn, lặp lại, rập khuôn về hành vi,
sở thích và hoạt động. Trẻ RLPTK phải hội đủ tối thiểu
2 trong 4 tiêu chuẩn dưới đây: 1/ Trẻ nói lặp lại. Hoạt
động tay chân hay sử dụng đồ vật theo lối rập khuôn; 2/
Trẻ khăng khăng muốn giữ nguyên nề nếp, thói quen,
thường chống lại sự đổi thay trong môi trường sinh hoạt
hằng ngày; 3/ Trẻ bị cuốn hút vào những sở thích “độc
nhất vô nhị”, chẳng hạn thích sưu tầm những chủ đề về
thời tiết, lịch trình xe buýt, tạp chí, …; 4/ Phản ứng mạnh
hay thiếu phản ứng đối với những tác động thuộc về giác
quan. Ví dụ, trẻ không cảm nhận được nhiệt độ lạnh hay
nóng, không có cảm giác đau đớn khi ngã té, trầy trụa
đến chảy máu, nhạy cảm đối với âm thanh, vải sợi, ngửi
và sờ chạm vật thể nào đó quá mức bình thường, hoặc có
những hành vi tự kích như quay vòng đồ chơi, mê mẩn
nhìn đèn điện, quạt xoay trên trần nhà.
Nhóm C: Những khiếm khuyết hay những triệu chứng
trên phải biểu hiện lúc trẻ còn nhỏ tuổi (Nhưng có thể
chưa lộ rõ cho đến khi sự đòi hỏi của xã hội vượt xa so
với khả năng hạn chế của trẻ).
Nhóm D: Những triệu chứng nêu trên có ảnh hưởng
đối nghịch và hạn chế khả năng sinh hoạt hàng ngày của
trẻ.
Nhóm E: Những triệu chứng nêu trên không thể giải
thích được bởi khuyết tật trí tuệ hay sự chậm phát triển
bao quát của trẻ. Trẻ có rối loạn phổ tự kỉ thường đi đôi
với khuyết tật trí tuệ. Trong trường hợp có sự chẩn đoán
này, khả năng giao tiếp xã hội của trẻ phải ở dưới mức
trung bình so với những trẻ có sự phát triển ngôn ngữ
bình thường và đúng theo độ tuổi. Trên cơ sở những
tiêu chí chẩn đoán của DSM-5, chúng tôi đưa ra khái
niệm TRLPTK như sau: TRLPTK là những trẻ có khiếm
khuyết về giao tiếp xã hội và có những hành vi lặp lại,
rập khuôn về sở thích và hoạt động. Những biểu hiện này
phải biểu hiện lúc trẻ còn nhỏ tuổi và làm hạn chế khả
năng sinh hoạt hàng ngày của trẻ.
2.2.2. Ngôn ngữ diễn đạt
Sự khiếm khuyết về việc sử dụng ngôn ngữ rất phổ
biến và được coi là một đặc điểm nhận dạng của những
TRLPTK. Cứ bốn hoặc năm TRLPTK thì có một trẻ
không có khả năng nói hoặc chỉ có thể bắt chước tiếng
kêu của con vật hay phát ra những âm thanh vô nghĩa…
Những trẻ còn lại có thể phát triển ngôn ngữ nhưng
thường chậm hơn so với trẻ bình thường. Trẻ thường lặp
lại những lời người khác nói, lặp lại một hoặc vài từ cuối
của câu. Việc lặp lại lời nói hay còn gọi là nhại lời có
thể có một số ý nghĩa với trẻ, những điều mà trẻ lặp lại
có thể phù hợp với những tình huống nhất định và giúp
trẻ đạt được mục đích giao tiếp (Giáo viên A yêu cầu trẻ
nói: “Con xin cô A ạ” trước khi cho trẻ vật gì đó, cứ mỗi
lần trẻ muốn một điều gì trẻ sẽ tự động lặp lại câu: “Con
xin cô A ạ” và đó là tình huống mà trẻ muốn được cho
vật gì đó, điều đó có nghĩa là trẻ đạt được mục đích giao
tiếp…). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người giao
tiếp với trẻ không phải là cô A mà là mẹ hoặc cô B và khi
muốn hỏi xin đồ thì trẻ cũng lặp lại câu: “Con xin Cô A
ạ”. Như vậy, trẻ đã không đạt được mục đích giao tiếp
vì sự cứng nhắc và rập khuôn trong giao tiếp. Đây cũng
là một đặc điểm điển hình trong giao tiếp của TRLPTK.
Một số trẻ không bao giờ vượt qua được giai đoạn nhại
lời nhưng một số trẻ khác có thể chuyển sang giai đoạn
tiếp theo, trẻ bắt đầu nói một số từ và cụm từ khi trẻ
muốn điều gì đó. Trước hết, trẻ sẽ nói những thứ mà trẻ
muốn; sau đó, có thể là vài tháng hoặc vài năm trẻ có thể
phát triển thành những cụm từ ngẫu nhiên, có thể còn có
lỗi về ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Có một số TRLPTK, sự phát triển ngôn ngữ bị thoái
lui, ban đầu trẻ đã có ngôn ngữ nhưng sau đó giảm dần
và có thể mất hẳn. Nhưng một số trẻ khác lại khá đặc
biệt, trẻ chưa biết nói đột nhiên có thể nói được cụm từ
thậm chí nói câu rõ ràng, nhưng sau đó không bao giờ
lặp lại nữa. Cũng có những trường hợp trẻ đã bi bô tập
2.2. Đặc điểm ngôn ngữ - giao tiếp của trẻ rối loạn phổ tự kỉ
2.2.1. Ngôn ngữ tiếp nhận
Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếp nhận ở TRLPTK cũng nói từ đơn nhưng sau đó không thấy nói được nữa và sau
rất đa dạng. Một số trẻ hiểu ngôn ngữ không lời nhưng một vài năm bỗng nhiên trẻ có thể nói được cả câu hoàn
gặp khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ nói. Những trẻ chỉnh. Vốn từ của TRLPTK thường nghèo nàn, cấu trúc
Số 37 tháng 01/2021
43
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
ngữ pháp hay bị sai lệch cho nên trẻ gặp khó khăn khi lưu ý tới việc dạy trẻ trong nề nếp hàng ngày: “Với việc
diễn đạt câu phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin. Ví dụ, dành thêm thời gian cho con trong hoạt động hàng ngày,
tình huống trẻ bị ngã đau chân, khi được hỏi, trẻ có thể bạn sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội học cho bé mà không cần
trả lời “Con bị chân ngã đau”.
thay đổi nhiều thời gian biểu của bạn. Khi bé có nhiều cơ
hội để dùng các kĩ năng trong ngày, có thể bé sẽ biết sử
dụng nó trong các tình huống mới”. Nhóm tác giả cũng
đưa ra các bước của kĩ năng dạy trực tiếp: Nương theo
trẻ, Tạo cơ hội cho trẻ giao tiếp, Chờ đợi trẻ giao tiếp;
Gợi ý trẻ với lời nói, bắt chước, hoặc cách chơi khó hơn
một mức trẻ đang có; Hãy cho trẻ thêm trợ giúp nếu cần;
Khen thưởng và mở rộng kĩ năng của trẻ [1].
2.2.3. Giao tiếp của trẻ rối loạn phổ tự kỉ
Khó khăn về giao tiếp là một trong những khiếm khuyết
điển hình nhất thường gặp ở những trẻ em và người lớn
mắc hội chứng tự kỉ, cả những trẻ/người lớn có ngôn ngữ
và không có ngôn ngữ.
TRLPTK thường ít và không duy trì được động lực giao
tiếp. Trẻ không hiểu và ý thức được rằng, mình có thể đạt
được cái mình muốn bằng cách cười, nói, sử dụng những
cử chỉ giao tiếp khác…Nếu có được động lực giao tiếp
thì trẻ thường không biết phải diễn tả như thế nào hoặc
không thể duy trì được động lực đó vì trẻ không kiên nhẫn
chờ đợi nếu những điều trẻ muốn không được đáp ứng
một cách nhanh chóng. TRLPTK thường ít hoặc gần như
không có nhu cầu giao tiếp một cách thường xuyên. Trẻ
gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng các phương tiện
giao tiếp, cả phương tiện giao tiếp có lời và phương tiện
giao tiếp không lời (cử chỉ, nét mặt, ngôn ngữ cơ thể…).
Ngoài ra, TRLPTK còn gặp khó khăn trong việc hiểu mục
đích của giao tiếp cũng như các nguyên tắc trong giao tiếp.
Trẻ không hiểu sự luân phiên trong giao tiếp và không
hiểu được những “ngôn ngữ thầm” của giao tiếp. Tóm lại,
giao tiếp là một vấn đề nan giải ở phần lớn trẻ em/người
lớn mắc hội chứng tự kỉ ngay cả những trẻ/người tư kỉ có
trí tuệ và ngôn ngữ phát triển.
Elaine Weitzman (1985) trong “Cần hai người để trò
chuyện” có viết: Khi chúng ta đóng vai “Người giúp đỡ
vạn năng”, chúng ta đã không cho trẻ cơ hội học tập thông
qua tự nói hay tự làm; Khi chúng ta “dạy bảo nhiều quá,
con của chúng ta sẽ không có cơ hội học làm; Khi chúng
ta đóng vai “Đối tác nhiệt tình”, sẽ khuyến khích trẻ tạo
ra những mối liên kết với những người xung quanh và
giúp trẻ học. Vì vậy, hãy dành thời gian: Quan sát - để
chúng ta nhận biết cảm xúc và nhu cầu của trẻ; Chờ đợi
- để trẻ có cơ hội bày tỏ bản thân theo cách riêng của trẻ;
Lắng nghe - để khuyến khích trẻ bày tỏ bản thân [2].
Trong “Từng bước nhỏ một”, nhóm tác giả đưa ra các
nguyên tắc cơ bản của việc dạy ngôn ngữ: 1/ Cho trẻ
thời gian để phản ứng; 2/ Nói với trẻ các vấn đề mà trẻ
thích thú; 3/Tập trung sự chú ý của trẻ trên sự vật riêng
lẻ thông qua các hoạt động trình tự; 4/ Hướng dẫn trẻ một
cách tự nhiên trong hội thoại. Tác giả cho rằng: Phần lớn
dạy ngôn ngữ cần được tiến hành trong hoạt động hàng
ngày, trong các tình huống tự nhiên như khi bạn đang
chơi hoặc đang chăm sóc trẻ. Ở một vài giai đoạn trong
sự phát triển của trẻ, bạn sẽ thấy cần thiết phải dành một
số thời gian đặc biệt để bạn tập trung những hoạt động và
mục đích cụ thể, nhưng với trẻ thì những giây phút này
cũng giống như giờ chơi. Nhóm tác giả cũng đưa ra 5 vấn
đề chủ yếu cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ chưa biết
nói: 1/ Học cách chú ý và phản ứng với người khác; 2/
Học chơi; 3/ Học luân phiên; 4/ Học bắt chước; 5/ Học
sử dụng kĩ năng giao tiếp trong đời sống hàng ngày [3].
Như vậy, vấn đề dạy trẻ thông qua sinh hoạt hàng ngày
rất quan trọng đối với trẻ vì thời gian trẻ ở nhà chiếm
phần nhiều hơn so với thời gian đi học. Để giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ giao tiếp thông qua các hoạt động hàng
ngày thì phụ huynh/người chăm sóc là người duy nhất
làm được điều này.
2.3. Tổng quan các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ giao
tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng một số phương
pháp phát triển ngôn ngữ, giao tiếp cho TRLPTK như:
Phương pháp giáo dục trị liệu cho TRLPTK và những trẻ
có khó khăn về giao tiếp (Treatment and Education of
Autistic and related Communication handicapped chil-
dren - TEACCH); Hệ thống giao tiếp trao đổi bằng hình
(The Picture exchange communication system - PECS);
Phương pháp giao tiếp tăng cường và thay thế (AAC-
Augmentative or Alternative Communication); Phương
pháp chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ; Phương pháp cùng
chơi với trẻ (Floor Time).... Bên cạnh đó, còn sử dụng
các phương pháp phối hợp trong trị liệu ngôn ngữ giao
tiếp cho TRLPTK như: trị liệu bằng mĩ thuật và âm nhạc
giúp điều hoà cảm giác làm kích thích xúc giác, thị giác
và thính giác.
Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp của TRLPTK đã được
quan tâm hơn. Chúng ta có thể kể đến các công trình
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nữ Tâm An (2007) “Sử
dụng phương pháp TEACCH (trị liệu và giáo dục cho
Để dạy TRLPTK phát triển ngôn ngữ và giao tiếp,
Brooke Ingersoll & Anna Dvortcsak (2010) đưa ra bảy
kĩ thuật dạy tương tác: Hãy theo sự dẫn dắt của bé, Hãy trẻ mắc hội chứng tự kỉ và trẻ có khó khăn về giao tiếp)
bắt chước bé, Minh họa bằng cử chỉ điệu bộ, Làm mẫu trong giáo dục trẻ em mắc hội chứng Tự kỉ tại Hà Nội”,
và phát triển ngôn ngữ, Những vật cản thú vị, Chơi luân tác giả Nguyễn Thanh Hoa (2005) nghiên cứu về phương
phiên bình đẳng và dụ dỗ để bé giao tiếp.Tác giả cũng pháp giao tiếp bằng hình ảnh (PECS), tác giả Nguyễn
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
44
Mai Thị Phương
Thị Bùi Thành (2013) với nghiên cứu ”Biện pháp rèn vào tầm nhìn của con, đối diện với con và tham gia chơi
luyện kĩ năng giao tiếp cho TRLPTK qua hoạt động vui
chơi ở trường mẫu giáo hòa nhập tại Hà Nội”, tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền (2011) với nghiên cứu ”Một số
biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho TRLPTK tuổi
mầm non”, tác giả Đào Thị Thu Thủy (2008) với nghiên
cứu “Xây dựng bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho
trẻ Tự kỉ tuổi mầm non”.
cùng con.
- Bước 2: Tạo cơ hội cho bé tham gia vào giao tiếp.
Bạn có thể tạo ra cơ hội cho con tham gia hoặc giao tiếp
với bạn bằng cách áp dụng một hoặc nhiều kĩ thuật dạy
tương tác. Mỗi kĩ thuật là một cách tham gia vào chơi
cùng con và khuyến khích con mời bạn tham gia theo
một cách nào đó. Hãy bắt chước bé, Minh họa bằng cử
chỉ điệu bộ (hãy biết chơi sinh động) và Làm mẫu và
Phát triển ngôn ngữ (mô tả và bình luận về trò chơi của
con) là những kĩ thuật đầu tiên mà bạn sẽ áp dụng để
khiến con bạn tham gia giao tiếp với bạn. Nếu như những
kĩ thuật này không giúp cho con bạn ghi nhận sự có mặt
của bạn thì một trong ba kĩ năng dạy tương tác khác có
thể được áp dụng: Những vật cản thú vị, Chơi luân phiên
bình đẳng, và Dụ dỗ để bé giao tiếp. Các kĩ thuật này
tạo ra các tình huống trong đó con sẽ muốn một điều gì
đó gắn với bạn. Để có được điều mình muốn hoặc tránh
được điều con không muốn (Những vật cản thú vị) thì
con phải giao tiếp với bạn.
- Bước 3: Đợi bé tham gia hoặc giao tiếp. Sau khi áp
dụng một kĩ thuật dạy tương tác, bạn sẽ đợi xem con có
ghi nhận sự có mặt của bạn hay giao tiếp với bạn theo
một cách nào đó không. Với một số trẻ, điều này có
thể chỉ là một thoáng giao tiếp mắt hoặc là một sự thay
đổi tư thế cơ thể. Với những trẻ khác, có thể là điệu bộ
(như chỉ, với tay,...), một sự thể hiện cảm xúc (mỉm
cười, phản đối...), lời nói, những cố gắng nói thành lời
(phát âm gần giống lời nói), hoặc âm thanh. Một phần
quan trọng của chương trình này là học cách con bạn tự
giao tiếp hiện nay và từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp
của con.
- Bước 4: Đáp lại hành vi của con khi hành vi có ý
nghĩa, làm theo hành vi và thể hiện cho con thấy những
hành vi mà bạn muốn con áp dụng. Khi con ghi nhận sự
có mặt của bạn, hãy đáp lại hành vi có ý nghĩa của con -
mặc dù dường như con có thể không có ý định rõ ràng.
Ví dụ, nếu con kêu lên một tiếng phản đối, hãy hiểu điều
này là yêu cầu bạn dừng việc bạn đang làm. Hãy nghe
theo - và đồng thời lúc đó bạn hãy nói “Dừng lại” hoặc
“Mẹ ơi, dừng lại”. Làm như vậy để con thấy rằng, âm
thanh của con có ý nghĩa và đạt được hiệu quả mong
muốn. Đồng thời, cho con thấy một cách khác, và phù
hợp hơn để giao tiếp cùng một ý nghĩa. Bạn vẫn kiểm
soát được hành vi nào là được chấp nhận và hành vi nào
không được chấp nhận ở con. Không nghe theo các hành
vi xấu của con.
Theo Vũ Thị Bích Hạnh (2004), để tăng cường khả
năng giao tiếp cho TRLPTK thì trẻ phải có khả năng
chuyển những gì được học trong môi trường lớp học
sang môi trường tự nhiên. Dạy trẻ giao tiếp trong rất
nhiều ngữ cảnh khác nhau và trong môi trường thực tế
để đứa trẻ không bị giới hạn bởi cảm giác và ngữ cảnh.
Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh cho rằng, có thể sử dụng các
kĩ năng giao tiếp với trẻ có khó khăn về giao tiếp để phát
triển giao tiếp cho trẻ. Theo Nguyễn Thị Hoàng Yến và
cộng sự (2010), phát triển kĩ năng giao tiếp bao gồm các
kĩ năng: tập trung và lắng nghe, bắt chước và lần lượt,
liên hệ mắt, chơi, hiểu ngôn ngữ, diễn đạt ngôn ngữ. Từ
đó nhóm tác giả đưa ra các chiến lược giúp phát triển
ngôn ngữ giao tiếp: học cách nghe, nhìn - mặt đối mặt,
bắt chước việc tạo âm thanh, hiểu các cử chỉ, hiểu cách
thể hiện bằng các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, học các từ và
ý nghĩa của tự, sử dụng từ nhiều hơn các kí hiệu, hiểu
ngôn ngữ, dạy các kĩ năng giao tiếp (hỏi/yêu cầu, gây
chú ý, từ chối, đưa ra nhận xét, nhận định, đưa và hỏi
thông tin, thể hiện tình cảm, thể hiện các phép xã giao
trong xã hội).
Chúng ta đều thấy rằng, vấn đề phát triển ngôn ngữ
- giao tiếp cho TRLPTK đã và đang được sự quan tâm
của rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới và cả Việt
Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chúng ta vẫn chưa thấy có
nhiều nghiên cứu ứng dụng phát triển ngôn ngữ giao tiếp
cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày.
2.4. Ứng dụng các kĩ thuật giúp phát triển ngôn ngữ - giao tiếp
cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ thông qua các hoạt động hàng ngày
2.4.1. Các kĩ thuật giúp phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ rối
loạn phổ tự kỉ
Bài viết này ứng dụng các kĩ thuật dạy giao tiếp xã hội
của Brooke Ingersoll & Anna Dvortcsak (2010) với các
bước sau: Bước 1: Dùng kĩ thuật Hãy theo sự dẫn dắt của
bé; Bước 2: Tạo cơ hội cho con tham gia vào giao tiếp;
Bước 3: Đợi con tham gia hoặc giao tiếp; Bước 4: Đáp
lại hành vi của con khi hành vi có ý nghĩa, làm theo hành
vi và thể hiện cho con thấy những hành vi mà bạn muốn
con áp dụng. Mỗi bước được cụ thể hóa như sau:
- Bước 1: Dùng kĩ thuật Hãy theo sự dẫn dắt của bé. Kĩ
thuật dạy có tính chất tương tác đầu tiên là Hãy theo sự
dẫn dắt của bé. Điều này có nghĩa là bạn để cho con lựa
chọn đồ chơi hoặc hoạt động. Điều này đảm bảo rằng,
con sẽ có hứng thú và động lực. Khi đó bạn đặt mình
Vì vậy, hãy dành thời gian: Quan sát - để chúng ta
nhận biết cảm xúc và nhu cầu của trẻ; Chờ đợi - để trẻ
có cơ hội bày tỏ bản thân theo cách riêng của trẻ; Lắng
nghe - để khuyến khích trẻ bày tỏ bản thân.
Số 37 tháng 01/2021
45
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
2.4.2. Minh họa ứng dụng kĩ thuật phát triển ngôn ngữ giao tiếp biết Phúc thích các con vật (mèo, chó, gà) nên mẹ chọn
thông qua các hoạt động hàng ngày
truyện có liên quan đến các con vật này: Ngày 1: Mẹ bắt
đầu đọc truyện cho Phúc nhưng Phúc chỉ thích lật trang
sách, chưa chú ý nghe truyện. Ngày 2,3: Phúc vẫn chỉ
thích lật trang sách và bắt đầu nhìn một vài tranh, mẹ
thấy Phúc chưa chú ý tập trung để lắng nghe hết truyện.
Vì vậy, mẹ chỉ tranh về các con vật và tiếng kêu của con
vật đó. Ngày thứ 5, mẹ đọc truyện cho Phúc nghe được
1 lần thì Phúc chạy ra khỏi chỗ. Có lần, mẹ đọc truyện
nhưng Phúc cứ thích lật tranh đến trang cuối có hình con
mèo, mẹ nhận ra, Phúc thích con mèo, mẹ bắt đầu nói
“meo meo” và hát bài “rửa mặt như mèo”. Mẹ vừa hát
vừa làm động tác theo bài hát, Phúc rất thích thú, Phúc
cũng nói “meo meo”. Mục tiêu của hoạt động này là:
Phúc nói được “con mèo” và tiếng kêu của mèo “meo
meo”. Chúng tôi nhấn mạnh rằng: Hoạt động này cần
diễn ra hàng ngày trước khi ngủ để giúp trẻ hình thành
thói quen đọc sách cho trẻ bởi vì đọc sách rất quan trọng:
giúp trẻ tăng cường sự tập trung, phát triển nhận thức,
ngôn ngữ, giao tiếp rất tốt.
Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, cha mẹ/
người chăm sóc ứng dụng các kĩ thuật trên vào các hoạt
động hàng ngày thông qua các tình huống trong vệ sinh
cá nhân (lúc tắm gội, rửa tay, rửa mặt, đánh răng…),
trong ăn uống, lúc đi ngủ/thức dậy (Đọc truyện cho bé
trước khi đi ngủ), chơi buổi tối cùng con: chơi các trò
chơi dân gian phù hợp: kéo cưa, kiến bò, cù lét, giã gạo;
chơi với đồ chơi: cho trẻ lựa chọn đồ chơi trẻ muốn…
Thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, cha mẹ/
người chăm sóc áp dụng bốn bước:
- Bước 1: Hãy theo sự dẫn dắt của bé;
- Bước 2: Tạo cơ hội cho con tham gia vào giao tiếp;
- Bước 3: Đợi con tham gia hoặc giao tiếp;
- Bước 4: Đáp lại hành vi của con khi hành vi có ý
nghĩa, làm theo hành vi, và thể hiện cho con thấy những
hành vi mà bạn muốn con áp dụng.
Một vài ví dụ minh họa:
Trong hoạt động vệ sinh cá nhân: Mẹ bế Phúc trước
gương và giơ tay nói xin chào, mẹ gõ vào gương để Phúc
chú ý nhưng Phúc lại với tay xuống dưới. Mẹ nhìn xuống
thì thấy dưới gương là bồn nước rửa tay, mẹ mở vòi nước
và nói “nước”, Phúc nói “nước, nước” và giơ tay dưới
vòi nước. Hai mẹ con cùng chơi nước qua hoạt động rửa
tay, mẹ để Phúc rửa tay rồi đến mẹ rửa tay luân phiên lần
lượt. Trong quá trình chơi, mẹ thường xuyên nói lặp lại
“nước”, “rửa tay” (Nước - là từ trẻ đã biết, mục đích của
hoạt động này là hướng dẫn trẻ chủ động nói “rửa tay”).
Muốn dạy trẻ từ “nước” thì có thể dạy qua rất nhiều
tình huống như: Khi cho trẻ uống nước, mẹ sẽ nói “nước,
Miu uống nước, nước mát quá” lặp đi lặp lại, nói chậm
và rõ ràng, nhấn mạnh vào từ “nước”. Khi trẻ làm đổ
nước, chúng ta đừng vội lau ngay. Hãy nói “đổ nước
rồi”, nhấn mạnh vào từ nước để trẻ nhận ra từ đó. Hoặc
khi cho trẻ rửa tay, mẹ nói cho trẻ “nước, nước mát,
nước để rửa tay nào”, Khi trẻ tắm, mẹ nói “nước, nước
mát/ấm” hoặc có thể chơi trò “đập nước”. Với bất cứ
từ nào, nếu bố mẹ muốn dạy cho con thì cần dạy thông
qua tất cả các tình huống xảy ra hàng ngày, lặp đi lặp
lại nhiều lần, nhấn mạnh vào từ muốn dạy, dần dần trẻ
sẽ tiếp nhận, tích lũy và có ngày trẻ sẽ hiểu và sử dụng
được từ đó.
Trong các hoạt động ăn uống hàng ngày: Bố mẹ có thể
dạy con được rất nhiều nội dung: tên của các đồ vật (bát,
thìa, đĩa, cốc, bàn, ghế…), tên của thức ăn/đồ ăn (cá, thịt,
rau, quả cam, dưa hấu, nước, sữa…), tên của hoạt động
(ăn, uống, xin đồ, …), nói cảm ơn khi được cho đồ ăn,
nói xin lỗi khi làm rơi vỡ đồ … Nếu bạn muốn dạy con từ
nào thì hãy lặp lại từ đó trong nhiều bối cảnh khác nhau,
lặp lại hàng ngày với con khi trẻ quan tâm đến sự vật đó.
3. Kết luận
Phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ thông qua hoạt
động hàng ngày là một công việc rất dễ thực hiện với
phụ huynh và rất hiệu quả với trẻ. Thông qua các hoạt
động hàng ngày, trẻ sẽ tiếp thu ngôn ngữ rất tự nhiên và
thể hiện giao tiếp từ đơn giản đến phức tạp trong các tình
huống hàng ngày giúp trẻ hiểu được ý nghĩa của ngôn
ngữ - giao tiếp, hạn chế được tối đa việc “nói mà không
hiểu” hay còn gọi là “nói từ/câu vô nghĩa”.Tuy nhiên,
để đạt được hiệu quả, phụ huynh cần thực hiện theo các
kĩ thuật: Theo sự dẫn dắt của bé, tạo cơ hội cho bé tham
gia vào giao tiếp, đợi bé tham gia hoặc giao tiếp, đáp lại
hành vi của con khi hành vi có ý nghĩa, làm theo hành
vi và thể hiện cho con thấy những hành vi mà bạn muốn
con áp dụng.
Trong hoạt động đọc truyện trước khi ngủ: Vì mẹ
Tài liệu tham khảo
[1] Brooke Ingersoll & Anna Dvortcsak, (2010), Teaching
Social Communication to Children with Autism, The
GuilFord Press.
[2] Elaine Weitzman, (1985), It takes two to talk, Imaginart
Presser, 1 edition.
[3] Trần Thị Lệ Thu và cộng sự biên dịch, (2014), Từng bước
nhỏ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
[4] American Psychiatric Association, (2013), Desk
Reference to the Diagnostic Criteria from DSM - 5,
American Psychiatric Publishing, Wasington DC.
[5] Nguyễn Nữ Tâm An, (2009), Bước đầu sử dụng phương
pháp TEACCH trong can thiệp cho trẻ tự kỉ tại Hà Nội,
Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[6] Đoàn thế Dũng và cộng sự, (2014), Ngôn ngữ và hoạt
động hàng ngày, Cẩm nang phát triển ngôn ngữ cho trẻ
khuyết tật, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
[7] Vũ Thị Bích Hạnh, (2004), Hướng dẫn thực hành âm ngữ
trị liệu, NXB Y học, Hà Nội.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
46
Mai Thị Phương
[8] Vũ Thị Bích Hạnh, (2007), Trẻ Tự kỉ - Phát hiện sớm và
can thiệp sớm, NXB Y học, Hà Nội
[9] Keith Atkin, (2006), Sự thu nhận và phát triển lời nói,
ngôn ngữ và giao tiếp, Đinh Thị Bích Hạnh - Nguyễn Thị
Cẩm Hường (dịch).
[12] Nguyễn Thị Bùi Thành, (2013), Biện pháp rèn luyện kĩ
năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ qua hoạt động
vui chơi ở trường mẫu giáo hòa nhập tại Hà Nội, Tạp chí
Giáo dục, số đặc biệt.
[13] Đào Thị Thu Thủy, (2008), Xây dựng bài tập phát triển
giao tiếp tổng thể cho trẻ tự kỉ tuổi mầm non, Đề tài V -
Mã số V2007 -18.
[10] Hoàng Phê (chủ biên), (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB
Đà Nẵng.
[11] Nguyễn Thị Thanh, (2014), Biện pháp phát triển kĩ năng
giao tiếp cho trẻ tự kỉ 3 - 4 tuổi, Luận án Tiến sĩ Giáo dục
học.
[14] Nguyễn Thị Hoàng Yến (chủ biên), Đỗ Thị Thảo, (2010),
Đại cương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ, NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội.
DEVELOPING LANGUAGE AND COMMUNICATION FOR CHILDREN
WITH AUTISM SPECTRUM DISORDERS THROUGH DAILY ACTIVITIES
Mai Thi Phuong
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
ABSTRACT: Language and communication are one of the imperfect
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam
characteristics of children with autism spectrum disorders. This article
Email: phuongmt@vnies.edu.vn
outlines the techniques that help develop communication and languages
for them, including: Following the children lead, creating opportunities for
communication, waiting for the children’s engagement or communication,
and responding the children’s behaviors. The authors then demonstrate
to their parents how to apply these techniques to help the children
develop their communication and language through daily activities. These
demonstrations also help the parents and those who concern to understand
how to apply those techniques which are suitable for children.
KEYWORDS: Developing language and communication; autism spectrum disorders;
daily activities.
Số 37 tháng 01/2021
47
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ thông qua các hoạt động hàng ngày", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_ngon_ngu_giao_tiep_cho_tre_roi_loan_pho_tu_ki_tho.pdf

