Phát triển du lịch cộng đồng trở thành sinh kế bền vững ở Lai Châu (Nghiên cứu trường hợp người Lự ở bản Hon - Tam Đường – Lai Châu)

ISSN: 1859-2171  
e-ISSN: 2615-9562  
TNU Journal of Science and Technology  
201(08): 157 - 163  
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TRỞ THÀNH SINH KẾ BỀN VỮNG  
Ở LAI CHÂU (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGƯỜI LỰ  
Ở BẢN HON - TAM ĐƯỜNG – LAI CHÂU)  
Hoàng Thị Phương Nga*, Nguyễn Hồng Vân  
Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Là một trong 16 dân tộc có số dân dưới 10.000 người, dân tộc Lự hiện chỉ còn 5.601 khẩu (Theo  
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009). Họ cư trú tập trung ở Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai  
Châu. Người Lự vốn có truyền thống sinh hoạt kinh tế là làm nương, dệt vải, săn bắn hái lượm.  
Tuy nhiên, người Lự ở Lai Châu nói chung và ở Bản Hon (huyện Tam Đường – Lai Châu) nói  
riêng hiện nay đã tiếp cận đến một hướng sinh kế mới, đó là du lịch cộng đồng. Bản Hon không  
chỉ hấp dẫn du khách vì cảnh quan đẹp mà hơn tất cả chính là các giá trị văn hóa của đồng bào Lự  
vẫn được giữ gìn, trao truyền như một bảo tàng sống động. Người Lự Bản Hon đã biết “xuất khẩu  
tại chỗ” các giá trị văn hóa ấy bằng công cụ “du lịch cộng đồng” để cải thiện và nâng cao chất  
lượng cuộc sống, giảm nghèo bền vững.  
Từ khóa: Người Lự; Bản Hon; du lịch cộng đồng; sinh kế; giảm nghèo.  
Ngày nhận bài: 16/4/2019; Ngày hoàn thiện: 17/6/2019; Ngày duyệt đăng: 18/6/2019  
DEVELOPMENT COMMUNITY TOURISM TO BECOME SUSTAINABLE  
LIVING FOR THE LU ETHNIC IN BAN HON (TAM DUONG – LAI CHAU)  
Hoang Thi Phuong Nga*, Nguyen Hong Van  
TNU - University of Sciences  
ABSTRACT  
As one of the 16 ethnic groups, under 10,000 people, the Lu ethnic is currently only 5,601 people  
(according to General census and Housing in 2009). They are concentrated in Phong Tho and in Sin  
Ho district, Lai Chau province, including Ban Hon village (Tam Duong-Lai Chau). In addition to the  
traditional economic activity as the eater, textile and hunting, the hunter,… today of the Lu ethnic has  
a new livelihood, it is a community tourism. Ban Hon village is not only attractive tourists because of  
the beautiful landscape but also all the traditional cultural values. They are still preserved, conferred  
as a lively museum. The Lu ethnic has known to export cultural value on-premises by "community  
tourism" tool to improve and enhance the quality of life and sustainable poverty.  
Keywords: Lu ethnic; Ban Hon; community tourism; livelihood; reduce poverty.  
Received: 16/4/2019; Revised: 17/6/2019; Approved: 18/6/2019  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
157  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
1. Sinh kế bền vững với người dân tộc thiểu số  
tài chính, xã hội…) trong một môi trường dễ  
bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức,  
định chế, chính sách. Và khi hoạt động sinh  
kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động  
tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng  
thời bảo đảm duy trì, phát triển được các  
nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì  
được coi là sinh kế bền vững. Cách tiếp cận  
sinh kế bền vững là lấy con người làm trung  
tâm rất hữu ích trong việc giải quyết xóa đói  
giảm nghèo, phát triển nông thôn, ứng phó  
với những trường hợp khẩn cấp,…  
Sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng  
đầu của người dân, đặc biệt là đồng bào dân  
tộc thiểu số. Hiện Việt Nam có 16 dân tộc rất  
ít người, với số dân dưới 10.000 người, bao  
gồm: Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Si La,  
Ngái, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Lô Lô, Mảng, Lự,  
Chứt, Pà Thẻn, La Ha, La Hủ. Đây là những  
tộc người có điều kiện sống vô cùng khó  
khăn, địa bàn sinh sống chủ yếu ở vùng sâu,  
vùng xa, giao thông đi lại không thuận tiện.  
Họ có tỷ lệ hộ thuộc diện đói nghèo cao, khả  
năng tự bảo tồn, phát huy văn hóa truyền  
thống rất hạn chế. Vì vậy, việc tìm kiếm và  
ứng dụng mô hình sinh kế bền vững trở thành  
điều cấp thiết đối với đồng bào, trong đó có  
người dân tộc Lự.  
Ở Việt Nam, đối với vùng đồng bào dân tộc  
thiểu số, công tác giảm nghèo nói chung và  
việc xây dựng mô hình sinh kế bền vững nói  
riêng là nhiệm vụ cấp bách. Trong nhiều năm  
qua, thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc  
gia Giảm nghèo bền vững”, Chính phủ đã ban  
hành nhiều Nghị quyết, Nghị định, Quyết  
định, đồng thời các tỉnh, thành phố cũng đã  
ban hành nhiều văn bản, chính sách hỗ trợ hộ  
nghèo, cận nghèo, phù hợp với đặc điểm của  
từng địa phương. Cùng với đó, ưu tiên nguồn  
lực đầu tư hỗ trợ tạo sinh kế và phát triển  
vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; cải  
cách thủ tục hành chính và phương thức để  
người dân, cộng đồng tham gia và tiếp cận  
chính sách giảm nghèo; đẩy mạnh công tác  
tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tự  
vươn lên thoát nghèo. Trong đó, đẩy mạnh  
các cơ chế, giải pháp tác động nhằm nâng cao  
khả năng tiếp cận của người dân đối với các  
dịch vụ xã hội cơ bản theo hướng tiếp cận đa  
chiều; cơ chế, giải pháp lồng ghép nguồn lực  
thực hiện 21 chương trình có mục tiêu với Kế  
hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc  
gia giảm nghèo.  
Trong bối cảnh, đa phần các dân tộc thiểu số  
rất ít người hầu như đều thiếu tư liệu sản xuất,  
hiếm cơ hội tiếp cận các tiến bộ về khoa học  
trong sản xuất nông/ lâm nghiệp; thu nhập của  
đồng bào chỉ cố gắng đảm bảo nhu cầu cuộc  
sống tối thiểu thì người Lự ở xã Bản Hon  
(Tam Đường – Lai Châu) đã tìm được một  
hướng đi mới – đó là du lịch cộng đồng. Họ  
đã khai thác chính giá trị văn hóa truyền  
thống của mình để tạo sức hấp dẫn đối với du  
khách du trong nước và quốc tế. Hiện nay,  
bên cạnh phương thức sinh hoạt kinh tế  
truyền thống là săn bắt, hái lượm, dệt vải thì  
người Lự Bản Hon đã “làm du lịch”. Sinh kế  
mới này đã giúp cộng đồng tạo công ăn, việc  
làm, có thêm thu nhập.  
2. Du lịch cộng đồng là sinh kế bền vững  
cho đồng bào dân tộc thiểu số  
Người đầu tiên sử dụng khái niệm Sinh kế  
(livelihood) là Robert Champer với nghĩa như  
sau: “sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp  
cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu,  
quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết  
cho cuộc sống” [1]. Trong khung phân tích  
sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao  
gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả  
các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt  
động để kiếm sống” [2]. Nhìn một cách toàn  
diện hơn, sinh kế chính là hoạt động kiếm  
sống của con người thông qua việc sử dụng  
các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất,  
Trong các mô hình sinh kế cho đồng bào dân  
tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, du lịch cộng  
đồng nổi lên như một mô hình kiểu mẫu nhằm  
cải thiện sinh kế, tạo nguồn thu nhập bền vững  
và cơ hội việc làm cho cộng đồng dân tộc thiểu  
số. Bên cạnh đó cũng cải thiện điều kiện vệ  
sinh làng bản, bảo vệ môi trường tự nhiên và  
góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Bởi  
một trong những đặc điểm của du lịch là “tạo  
ra rất nhiều việc làm và là nguồn phát triển  
quan trọng và việc làm, đặc biệt cho những đối  
158  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
tượng khó tiếp cận thị trường lao động như  
phụ nữ, thanh niên, lao động nhập cư và cư  
dân nông thôn. Du lịch có thể đóng góp đáng  
kể vào phát triển kinh tế xã hội và giảm  
nghèo” [3]. Đây là mô hình sinh kế bền vững  
bởi vừa giữ gìn bản sắc của dân tộc, vừa không  
phá vỡ cảnh quan, gắn phát triển kinh tế với  
bảo tồn văn hóa, xóa đói giảm nghèo. Bởi bản  
chất của du lịch cộng đồng là loại hình du lịch  
được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa  
của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý,  
tổ chức khai thác và hưởng lợi [4]. Nhìn nhận  
theo khía cạnh giảm nghèo, Tổ chức Lao động  
thế giới cũng đánh giá “du lịch cộng đồng là  
loại hình du lịch mà người dân địa phương  
(thường là nông dân, người nghèo và những  
người bị thiệt thòi về kinh tế) mời du khách  
đến thăm cộng đồng của họ, bằng cách đó  
cung cấp cơ sở vật chất và các hoạt động du  
lịch cho du khách” [3]. Hiện nay, du lịch cộng  
đồng đang được coi là loại hình du lịch mang  
lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững  
nhất cho địa phương.  
Tây Nam huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu,  
có tổng diện tích đất tự nhiên là 5.443,06 ha.  
Dân số 2.471 người, trong đó, dân tộc Lự  
chiếm 90%. Với vị trí địa lý phía Bắc giáp xã  
Hồ Thầu huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu;  
phía Nam giáp với xã Khun Há huyện Tam  
Đường tỉnh Lai Châu; phía Tây giáp với xã  
Bản Giang huyện Tam Đường và huyện Sìn  
Hồ; phía Đông giáp với xã Bình Lư huyện  
Tam Đường tỉnh Lai Châu. Trong đó, điểm  
du lịch văn hóa cộng đồng Bản Hon nằm trên  
xã Bản Hon gồm Bản Hon 1 (88 hộ) và Bản  
Hon 2 (69 hộ) với hơn một trăm ngôi nhà sàn  
được bảo tồn nguyên trạng, cùng với nghề dệt  
và những tập tục sinh hoạt văn hóa đậm đà  
bản sắc của đồng bào dân tộc Lự.  
3.1. Sức hấp dẫn từ văn hóa truyền thống  
của người Lự ở Bản Hon  
Người Lự định cư ở gần sông, suối và sinh sống  
bằng nghề trồng lúa nước; chăn nuôi; đan lát;  
dệt, thêu vải... Cuộc sống của người Lự giản dị  
nhưng luôn ẩn chứa sự tinh tế, thể hiện rõ nét  
qua kiến trúc nhà sàn, nghề thủ công, trang phục  
truyền thống và tục nhuộm răng đen…  
Cả nước có nhiều mô hình du lịch cộng đồng  
phát triển khá thành công ở các vùng miền núi  
có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống  
như ở Lào Cai, Hà Giang v.v.. Những mô hình  
này đã mang lại hiệu quả thiết thực, không chỉ  
phát huy được thế mạnh văn hoá bản địa của  
các dân tộc, mà còn góp phần xoá đói giảm  
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của  
đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phát triển các  
sản phẩm du lịch cộng đồng là phù hợp với xu  
thế thời đại, đáp ứng nhu cầu khám phá của  
đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hoá dân  
tộc đặc sắc. Tuy nhiên, muốn du lịch cộng  
đồng phát triển cần giữ nguyên gốc, nguyên  
sơ, chất phác chân thực của văn hoá bản địa,  
đó là giá trị cốt lõi của cộng đồng, không để  
đánh mất nó. Để giảm nghèo cho đồng bào dân  
tộc thiểu số nói riêng và phát triển kinh tế địa  
phương nói chung, cũng như tôn trọng những  
giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình  
du lịch cộng đồng sẽ là mô hình sinh kế đúng  
hướng và bền vững.  
Nhà ở của người Lự là nhà sàn, có 1 cầu  
thang. Căn nhà có mái phía sau ngắn hơn, còn  
mái phía trước kéo dài xuống che cả hàng  
hiên và cầu thang. Gầm sàn sạch sẽ, hầu hết  
các gia đình dùng làm nơi để trữ củi khô,  
khung cửi và một số đồ dùng khác. Bên trong  
nhà sàn của người Lự thường dành 1 gian  
giữa để thờ cúng và con dâu trong gia đình  
không được vào gian này. Nhà bếp thì nối  
trực tiếp với căn nhà chính, do vậy khi bước  
chân vào nhà thì thấy ngay nhà ở và nhà bếp  
là một thể liên hoàn không tách rời nhau.  
Từ lâu đời, đồng bào đã biết trồng bông, nuôi  
tằm kéo sợi dệt vải để phục vụ cho nhu cầu  
may mặc của cộng đồng. Đa số phụ nữ Lự  
đều giỏi trong nghề dệt vải, thêu thùa. Người  
con gái trước khi lấy chồng đều thành thạo  
công việc may vá, thêu dệt, đồng bào lấy đó  
làm thước đo sự khéo léo, tiêu chuẩn đánh giá  
vai trò của một người phụ nữ trong gia đình  
cũng như trong bản. Tại Bản Hon, huyện Tam  
Đường, người dân vẫn tự dệt và mặc trang  
phục truyền thống. Bản Hon hiện có 100% hộ  
3. Du lịch cộng đồng – mô hình sinh kế bền  
vững ở Bản Hon  
Bản Hon là một xã nông nghiệp, nằm ở phía  
159  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
dân lưu giữ nghề dệt truyền thống của dân  
tộc, dưới từng mái nhà của người Lự đều có  
từ 1 đến 3 khung dệt để người phụ nữ dệt váy,  
áo cho mình và những đồ dùng sinh hoạt cho  
cả gia đình. Sản phẩm dệt của người Lự khá  
phong phú về chủng loại và trang trí hoa văn,  
họa tiết rất độc đáo. Ngoài quần áo, váy,  
người Lự còn sản xuất các loại túi, khăn,  
địu... Hầu như các thành phẩm từ nghề dệt  
truyền thống của người Lự đều được làm hết  
sức tỉ mỉ, thủ công ngay từ việc chọn nguyên  
liệu đến tìm kiếm màu sắc từ thiên nhiên để  
nhuộm chàm cho trang phục.  
tính. Những chiếc áo này dành cho các chú rể  
hoặc các trai làng mặc trong các lễ hội như  
cúng rừng, lễ mừng mùa...  
Người Lự ở Bản Hon còn giữ nguyên tập tục  
nhuộm răng có từ thời xa xưa. Khi đến tuổi  
dậy thì, các cô gái được mẹ sắm cho dụng cụ  
nhuộm răng gọi là “pẳng tèm khèo”. Nó là  
một thanh sắt mỏng, là vật bất ly thân trong  
suốt cuộc đời của người phụ nữ Lự. Đồng bào  
dùng cây tỉu - một loại cây có nhựa cay, vị  
thơm mọc ở rừng sâu để làm nguyên liệu  
nhuộm răng. Họ thu hái cây này về phơi khô  
dự trữ trong nhà để dùng dần. Mỗi khi ăn cơm  
xong hoặc trước khi đi ngủ, các bà các cô  
thường ngồi bên bếp lửa để tiến hành nhuộm  
răng. Họ lấy một đoạn cây tỉu đặt vào bếp lửa  
đốt thành than hồng rồi bỏ vào một cái lon  
bằng nhuôm, lấy thanh sắt “pẳng tèm khèo”  
đậy lại. Khi đó cục than hồng đốt nóng làm  
tan chảy nhựa cây tỉu dưới đáy lon, khói bốc  
lên nghi ngút và ám nhựa cây có màu đen vào  
phía dưới thanh sắt. Họ lấy tay trỏ chấm vào  
nhựa còn đang nóng đưa qua đưa lại trên khắp  
hàm răng để nhuộm, nhựa cây bám chặt vào  
răng. Đồng bào Lự thực hành nhuộm răng  
như là một “nghi thức” không thể quên trong  
cuộc sống hàng ngày, đồng thời là phút thư  
giãn, nghỉ ngơi, làm đẹp của người phục nữ  
sau ngày lao động mệt nhọc. Nét đặc biệt là  
trong hàm răng đen tuyền ấy còn điểm xuyết  
chiếc răng vàng lấp lánh ở hàm trên, ngay ở  
vị trí chiếc răng khểnh, tạo nên nét đẹp riêng  
biệt không lẫn với bất cứ tộc người nào. Để  
làm đẹp, phụ nữ Lự còn kết hợp đeo vòng cổ  
bằng bạc, cài lá thơm và hoa trên tóc.  
Hình 1. Người Lự ở Bản Hon  
(Nguồn: Báo Lai Châu)  
Phụ nữ Lự ăn mặc đẹp và cầu kỳ. Bộ trang  
phục truyền thống gồm khăn đội, áo váy, thắt  
lưng cùng với bộ trang sức đi kèm. Áo tứ thân  
dài tay may bằng vải chàm, được ghép liên  
kết với nhau từ 6 miếng vải cắt theo hình rẻ  
quạt làm cho chiếc áo có vạt xòe rộng so với  
eo. Hai bên vạt áo được đính hai dây vải hoa,  
dải dây bên sườn phải có 5 tua bằng sợi len  
các màu có xâu hạt cườm. Chiếc áo được  
điểm xuyết các hoa văn dệt và hoa văn ghép  
vải. Khăn đội đầu được làm bằng vải bông,  
nhuộm chàm đen dài khoảng trên 4 m, rộng  
0,3 m, hai đầu khăn có tua dài khoảng 0,2 m.  
Trên nền đen của hai đầu khăn dệt xen kẽ 18  
đường chỉ trắng. Trang phục nam giới cũng là  
màu chàm đen, nét đặc biệt là trên áo nam,  
phần cúc áo được đính tay bằng những nút  
thổ cẩm được khâu, đan cầu kỳ, kết hợp các  
chùm cúc bạc. Cổ áo được làm theo kiểu cổ  
cao 3 phân, thêu và ghép hoa văn hình tam  
giác, hình vuông mà xanh, đỏ. Hai bên sườn  
được khâu hai túi với đường viền hoa văn tinh  
tế, tạo cho chiếc áo thêm nét mạnh mẽ, nam  
Người Lự có tục “chọc sàn” - một cách tỏ tình  
của trai gái khi đến tuổi trưởng thành. Người  
Lự có tục thách cưới, do nhà gái quy định,  
thường dùng bạc trắng để thách cưới. Nhà trai  
phải mang sang nhà gái những sính lễ: 26.000  
đồng tiền giấy, 1 chai rượu, 5 đôi nến sáp  
ong, 1 con gà hoặc 1 con heo tùy thuộc vào  
nhà gái muốn cúng heo hay gà. Người Lự có  
tục ở rể, lúc đưa rể mọi người trong gia đình  
nhà trai mang theo chăn, đệm, vải tấm. Tân  
lang phải ở rể trong 3 năm liền. Sau đó cô gái  
về nhà chồng làm dâu ít nhất 2 năm, rồi đôi  
vợ chồng có thể tách ra ở riêng.  
160  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
gian núi rừng Tây Bắc. Ví dụ như: đi bộ  
hoặc đạp xe ngắm cảnh bản làng/ núi rừng;  
quay phim/chụp ảnh điểm cảnh; trải nghiệm  
cuộc sống của người Lự trên ngôi nhà sàn  
truyền thống; chiêm ngưỡng bộ trang phục  
dân tộc cầu kỳ với hoa văn đa dạng, phong  
phú; tìm hiểu và trải nghiệm nghệ thuật dệt  
vải; được hướng dẫn thực nghiệm phương  
thức đánh bắt và chế biến cá suối của cư  
dân địa phương; thưởng thức ẩm thực  
truyền thống của người Lự với nhiều món  
ngon đậm vị núi rừng Tây Bắc; tham gia  
sinh hoạt văn hóa dân gian: Nghe kể về các  
truyền thuyết, huyền sử, quá trình mở đất  
lập làng của người Lự; tìm hiểu các tín  
ngưỡng dân gian của người Lự; giao lưu  
văn nghệ với cộng đồng dân cư địa phương:  
Những nghệ nhân dân gian hát bằng tiếng  
Lự, múa các điệu dân vũ truyền thống của  
cha ông, biểu diễn nhạc cụ dân gian như  
trống, chiêng, sáo,...  
Cùng với những nét văn hóa đặc trưng nêu  
trên, văn hóa ẩm thực, lễ hội truyền thống,  
các làn điệu dân ca, nhạc cụ, trò chơi dân  
gian… của người Lự đã tạo nên một kho tàng  
văn hóa đặc sắc, thể hiện rõ sự tài hoa và cảm  
nhận cuộc sống rất tinh tế của họ.  
3.2. Hoạt động du lịch cộng đồng ở Bản Hon  
Với vị trí thuận lợi, nằm cách thị xã Lai  
Châu 20 km và nằm trên tuyến du lịch Vòng  
cung Tây Bắc, lượng khách đến Bản Hon  
tương đối ổn định bao gồm cả khách trong  
nước và quốc tế. Trung bình mỗi tuần có từ  
1 - 2 đoàn khách (thường mỗi đoàn có số  
lượng dao động từ 5 đến 30 người). Đến  
đây, khách du lịch được tìm hiểu, khám phá  
và trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt, lao  
động của người dân địa phương. Các hoạt  
động đó rất bình dị, mộc mạc trong cuộc  
sống thường nhật nhưng lại vô cùng sinh  
động, giàu màu sắc văn hóa giữa không  
30%  
25%  
20%  
15%  
10%  
5%  
Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật  
Cảnh quan  
Nhà sàn  
Nghề dệt  
Phong tục truyền thống  
Âm nhạc dân gian  
Lễ hội  
0%  
Khách quốc tế  
Khách trong  
Ẩm thực  
nước  
Biểu đồ 1. Các yếu tố thu hút khách du lịch đến Bản Hon  
(Nguồn: Tác giả phân tích và tổng hợp, 2019)  
Rất hài lòng  
Khá hài lòng  
Hài lòng ở mức trung bình  
Kém hài lòng  
Không hài lòng  
Mức độ hài lòng  
0%  
5%  
10% 15% 20% 25% 30% 35%  
Biểu đồ 2. Mức độ hài lòng của khách đối với du lịch cộng đồng Bản Hon  
(Nguồn: Tác giả phân tích và tổng hợp, 2019)  
161  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
Cho con đi học  
Mua trang thiết bị hiện đại  
Mua phương tiện đi lại  
Nâng cấp nhà cửa, cải tạo cảnh quan  
Tiêu dùng hàng ngày  
Tiết kiệm  
Khác  
Biểu đồ 3. Các nội dung tái đầu tư từ thu nhập du lịch của người Lự ở Bản Hon  
(Nguồn: Tác giả phân tích và tổng hợp, 2019)  
Để đáp ứng nhu cầu của du khách, người dân  
Bản Hon đã đầu tư sửa sang nhà cửa, lắp đặt  
trang thiết bị hiện đại (không phá vỡ không  
gian kiến trúc truyền thống); khôi phục các  
món ăn đặc sắc, đa dạng hóa thực đơn và giá  
cả; phục dựng và phát triển dân ca dân vũ; tìm  
hiểu văn hóa truyền thống dân tộc Lự để giới  
thiệu thông tin cho du khách,… Nhiều gia đình  
trong bản đã có dịch vụ homestay. Trong hơn  
100 nóc nhà sàn ở Bản Hon có khoảng 5 nhà  
có khả năng phục vụ khách lưu trú. Mức thu  
tiền là 70.000 đồng/đêm/khách. Đặc điểm ngôi  
nhà sàn của người Lự là thường có diện tích  
nhỏ, sàn nhà không cao nên sức chứa không  
lớn do vậy, bình quân mỗi hộ gia đình có thể  
đón khoảng 15 khách/đêm. Một số ngôi nhà  
lớn thì có sức chứa 20 - 25 khách/đêm.  
lân cận. Không những chỉ góp phần giảm  
nghèo mà doanh thu từ du lịch, sau khi chi trả  
những khoản mục cho chuỗi nguyên vật liệu  
kiến thiết nên các dịch vụ du lịch người Lự ở  
Bản Hon đã có một nguồn lợi nhất định tái  
đầu tư vào những nội dung liên quan đến chất  
lượng cuộc sống như: giáo dục đào tạo nâng  
cao dân trí, nâng cấp nhà cửa, cải tạo cảnh  
quan, mua sắm đồ dùng,…  
4. Định hướng nâng cao hiệu quả sinh kế  
bằng du lịch cộng đồng ở tỉnh lai châu  
4.1. Nhân rộng mô hình trong toàn tỉnh  
Trong những năm qua, Lai Châu đã kết hợp  
với người dân địa phương lập kế hoạch xây  
dựng chương trình du lịch cộng đồng tại Bản  
Hon; đồng thời liên kết hợp tác, đầu tư du lịch  
với nhiều địa phương, công ty lữ hành trong cả  
nước, xuất bản ấn phẩm du lịch, website du  
lịch và xây dựng chương trình du lịch hấp dẫn  
nhằm thu hút khách đến Bản Hon. Đến nay,  
dân bản đã thuần thục trong việc đón, tiếp  
khách; bố trí chỗ ăn, ngủ cho khách; chế biến  
các món ăn đảm bảo vệ sinh, phù hợp với khẩu  
vị của khách; biểu diễn các tiết mục văn hóa  
văn nghệ dân gian phục vụ du khách như: hát  
khắp, thổi sáo, thổi khèn, chơi đàn nhị, chơi  
trống, ném én, kéo co… Sở Văn hóa, Thể thao  
và Du lịch Lai Châu đã triển khai chương trình  
hỗ trợ xây dựng mô hình thí điểm nghề thủ  
công truyền thống gắn với phát triển sản phẩm  
du lịch tại Bản Hon, như: Khảo sát thu thập  
thông tin làm cơ sở cho việc phát triển nghề  
dệt; tổ chức các khóa tập huấn để qua đó động  
Hiện nay, Bản Hon có đủ năng lực đón  
khoảng 10 ngàn lượt khách du lịch mỗi  
năm. Các dịch vụ người dân cung ứng gồm:  
homestay, tour tham quan làng bản, tour đi  
bộ trekking ven suối, tour học nấu ăn/thưởng  
thức ẩm thực truyền thống Lự, biểu diễn văn  
nghệ truyền thống, dệt vải truyền thống,…  
Những năm gần đây khách tới Bản Hon tham  
quan ngày càng nhiều vì thế thu nhập của các  
gia đình khá dần lên. Du lịch cộng đồng ở  
Bản Hon đã góp phần tăng thu nhập cho ít  
nhất 20% số dân thuộc đối tượng nghèo ở địa  
phương thông qua việc cung cấp các sản  
phẩm, dịch vụ cho du khách. Bên cạnh đó góp  
phần bảo tồn các giá trị văn hóa, tài nguyên  
và môi trường tại điểm Bản Hon và khu vực  
162  
Hoàng Thị Phương Nga và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
201(08): 157 - 163  
viên khuyến khích các nghệ nhân có kinh  
nghiệm truyền dạy lại tinh hoa nghề dệt cho  
thế hệ trẻ; hỗ trợ một số trang thiết bị nghề dệt  
(guồng quay, khung dệt, bộ đồ nhuộm chàm,  
dụng cụ cán bông, xa quay sợi, các loại chỉ dệt,  
bộ đồ in sáp ong...); tổ chức trình diễn nghề  
dệt, qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm cho  
người dân tại bản trong việc gìn giữ giá trị văn  
hóa truyền thống của dân tộc mình nhằm phát  
triển du lịch bền vững.  
giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn  
để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương  
lai. Ngoài ra, chính quyền và nhân dân cần liên  
kết với các doanh nghiệp lữ hành để nghiên  
cứu tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo mang sắc  
thái riêng của Bản Hon.  
5. Kết luận  
Bản Hon (Tam Đường – Lai Châu) sở hữu  
những cảnh quan thiên nhiên đẹp, văn hóa  
đậm đà bản sắc dân tộc. Đây chính là những  
lợi thế để địa phương phát triển du lịch cộng  
đồng nhằm xóa đói giảm nghèo – như một  
sinh kế bền vững cho đồng bào Lự. Điều này  
không chỉ góp phần bảo vệ và phát huy những  
giá trị văn hóa vốn có mà còn giúp người dân  
phát triển kinh tế. Khi đến với Bản Hon,  
khách du lịch, đặc biệt là du khách quốc tế sẽ  
được hòa mình vào không khí náo nhiệt của  
âm nhạc truyền thống, trực tiếp tham gia sản  
xuất nông nghiệp với người dân, tìm hiểu các  
nghề thủ công truyền thống như dệt vải, làm  
nhạc cụ hay thưởng thức các món ăn dân dã  
nhưng chứa đựng tinh hoa ẩm thực của cộng  
đồng… Đó chính là những trải nghiệm thực  
sự hấp dẫn và khó quên đối với du khách. Và  
những giá trị đó đã mang lại nguồn lợi kinh tế  
nhất định cho người Lự ở Bản Hon giảm  
nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.  
Chính vì thế, du lịch cộng đồng ở Bản Hon  
cần được quan tâm hơn nữa để trở thành sinh  
kế bền vững cho địa phương.  
Bản Hon hiện đã trở thành điểm đến thân  
thiện, tiếp cận dễ dàng đối với khách du lịch.  
Hạ tầng kỹ thuật như đường xá, nhà cộng  
đồng, công trình vệ sinh, nước sạch, điện  
lưới, viễn thông và hệ thống dịch vụ khá tốt.  
Đây là mô hình phát triển du lịch cộng đồng  
đầu tiên tại Lai Châu, góp phần thúc đẩy công  
cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững, tạo điều  
kiện cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc  
thiểu số vượt qua khó khăn vươn lên xóa đói  
giảm nghèo cho bản thân. Như vậy, có thể  
nhân rộng mô hình sinh kế bền vững này cho  
các địa phương khác có cùng điểm xuất phát  
như Bản Hon. Và thực tế hiện nay tỉnh Lai  
Châu cũng đã tiếp tục phát triển du lịch cộng  
đồng tại các điểm bản dân tộc thiểu số như Nà  
Luồng, Sin Suối Hồ, Vàng Pheo, Gia Khâu…  
4.2. Tăng cường quảng bá và thu hút đầu tư  
cho du lịch  
Tuy nhiên, để phát triển du lịch cộng đồng trở  
thành sinh kế bền vững mang tính toàn diện và  
hiệu quả cao, chính quyền địa phương cần tăng  
cường xúc tiến quảng bá điểm du lịch Bản Hon  
trên các phương tiện thông tin đại chúng; kêu  
gọi sự đầu tư tài chính hỗ trợ người dân nâng  
cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu  
tham quan của du khách; đồng thời hỗ trợ  
người dân đưa ra định hướng tổ chức các hoạt  
động du lịch và khai thác tài nguyên du lịch  
phù hợp với đặc điểm riêng của bản. Người  
dân địa phương cần được nâng cao trình độ  
chuyên môn nghiệp vụ; có ý thức bảo tồn các  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Chambers, Robert, Rural development: Putting  
the last first, Longman Scientific & Technical,  
Co-published in the United States with John  
Wiley & Sons, Inc., New York, 1983.  
[2]. Nguyễn Văn Sửu, “Khung sinh kế bền vững:  
Một cách phân tích toàn diện về phát triển và  
giảm nghèo”, Tạp chí Dân tộc học, Số 2, tr 3-  
12, 2010.  
[3]. Tổ chức Lao động Quốc tế, Bộ công cụ hướng  
dẫn giảm nghèo thông qua du lịch, 2012.  
[4]. Bùi Thị Hải Yến, Du lịch cộng đồng, Nxb  
Giáo dục, 2007.  
163  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 15440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển du lịch cộng đồng trở thành sinh kế bền vững ở Lai Châu (Nghiên cứu trường hợp người Lự ở bản Hon - Tam Đường – Lai Châu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_du_lich_cong_dong_tro_thanh_sinh_ke_ben_vung_o_la.pdf