Phát triển thị trường dịch vụ logistics - Thực trạng và định hướng

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ LOGISTICS - THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG  
LOGISTICS MARKET DEVELOPMENT - SITUATION AND ORIENTATION  
PGS. TS. Đặng Văn Mỹ  
Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt  
Logistics đóng vai trò rất quan trọng để phát triển thương mại và phân phối hàng hóa không chỉ trong  
nền kinh tế quốc gia mà còn kết nối giữa quốc gia với các quốc gia khác trong nền kinh tế thế giới. Việt Nam có  
nhiều tiềm năng lợi thế để phát triển logistics. Chính vì thế, phát triển logistic là một trong những định hướng  
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của  
quốc gia, từng vùng và từng địa phương. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến sự phát triển  
logistics, đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics  
của vùng và quốc gia. Bài viết sẽ phân tích toàn cảnh logistic ở một số khía cạnh quan trọng trong những năm  
qua và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển logictics đóng góp vào phát triển kinh tế, thương mại trong thời  
gian tới.  
Từ khóa: hậu cần, dịch vụ, thị trường logistics, doanh nghiệp logistics  
Abstract  
Logistics plays a very important role to develop trade and distribution of goods not only in the national  
economy but also in connecting the nation with other countries in the world economy. Vietnam has many  
potential advantages to develop logistics. Therefore, logistics development is one of the national socio-  
economic development orientations, in order to improve competitiveness, promote economic growth of the  
country, each region and each locality. In addition, the Party and the State are very interested in the  
development of logistics, issued many legal documents to enhance the competitiveness and development of  
logistics services of the region and the country. The article will analyze the logistics overview in some important  
aspects over the years and offer some solutions to develop logictics to contribute to economic and trade  
development in the future.  
Keywords: logistics, service, market, entreprise  
1. Giới thiệu  
Trong bối cảnh nền kinh tế quốc gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu như  
hiện nay, logistics được xem là một ngành đặc biệt quan trọng, có nhiệm vụ khai thác lợi thế của nền  
kinh tế về hạ tầng giao thông, cảng biển để phát triển và đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế.  
Logistics là một hoạt động thương mại, theo đó các doanh nghiệp tổ chức thực hiện một hoặc nhiều  
công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ  
khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên  
quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Logistics là một phần của chuỗi  
cung ứng và đảm bảo cho hàng hóa được chuyển giao từ bên sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.  
Hoạt động logistics tạo ra một mạng lưới dịch vụ hỗ trợ cho việc lưu chuyển hàng hóa trong phạm vi  
nội địa và ngoài biên giới các quốc gia và vùng lãnh thổ. Với tầm quan trọng ngày càng lớn của ngành  
Logistics trong việc phát triển kinh tế và kỳ vọng đóng góp 10% vào GDP năm 2025, Thủ tướng  
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ –TTg ngày 14/2/2017 về việc phê duyệt kế hoạch hành  
động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, trong đó đã  
nêu rõ: Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai  
trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp  
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; Tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh  
nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics về số lượng,  
quy mô, trình độ nhân lực, có năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế.  
53  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Năm 2019, kinh tế trong nước cơ bản ổn định; GDP 9 tháng đầu năm tăng 6,98%, đạt mức cao  
nhất so với cùng kỳ của 9 năm trở lại đây; lạm phát bình quân 9 tháng được kiểm soát ở mức thấp  
1,91%. Các chỉ tiêu có mức tăng trưởng hàng năm cao hơn cùng kỳ năm ngoái gồm có GDP, bán lẻ  
hàng hóa và dịch vụ (đã loại trừ yếu tố giá). Kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng  
trưởng 14% so với cùng kỳ năm 2018, cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước  
ngoài (tăng 5,5%) và tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng tăng lên, chiếm  
30,66% tổng kim ngạch xuất khẩu so với 28,5% của cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, các chỉ tiêu có  
mức tăng giảm so với mức tăng của cùng kỳ năm 2018 gồm: tổng vốn đầu tư toàn xã hội; giá trị sản  
xuất công nghiệp nói chung và ngành chế biến chế tạo nói riêng; kim ngạch xuất khẩu.  
Năm 2019 là năm có nhiều đột phá về chính sách phát triển logistics. Ngay từ đầu năm, Bộ  
Chính trị đã ban hành hai nghị quyết riêng về phát triển Hải Phòng và Đà Nẵng. Nghị quyết số 43-  
NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành một trong những  
trung tâm kinh tế lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng  
tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao. Trong khi đó, Nghị  
quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu phát triển Hải Phòng thành thành  
phố công nghiệp, tạo động lực phát triển của vùng Bắc Bộ, có kết cấu giao thông phát triển nối với khu  
vực, là trọng điểm dịch vụ logistics, đào tạo, nghiên cứu, kinh tế biển.  
Chính vì vậy, việc nhìn nhận thực trạng phát triển thị trường và dịch vụ logistics trong thời gian  
qua và đề xuất các định hướng phát triển thị trường dịch vụ logistics trong thời gian đến có tầm quan  
trọng đặc biệt.  
2. Thực trạng dịch vụ logistics ở nước ta thời gian qua  
Dịch vụ logistics được xem là hạt nhân của ngành Logistics mà ở đó có sự tồn tại các loại hình  
dịch vụ logistics và sự tham gia của nhiều doanh nghiệp dịch vụ khác trong nền kinh tế, nhằm mục  
đích thúc đẩy các hoạt động trong nền kinh tế phát triển theo chiều hướng nhanh chóng, đúng thời gian  
và địa điểm, chi phí thấp. Hệ thống dịch vụ logistics có những đặc trưng và phát triển gắn liền các điều  
kiện kinh tế, xã hội, hạ tầng của nền kinh tế và đặc biệt là mức độ tham gia của các tổ chức và cá nhân  
tùy theo nhu cầu của họ trong quá trình tồn tại và phát triển.  
2.1. Dịch vụ vận tải  
Dịch vụ vận tải có vị trí trung tâm trong hệ thống dịch vụ logistics và có sự tham gia của nhiều  
loại hình dịch vụ đặc thù, đó là: vận tải đường bộ, vận tải đường hàng không, vận tải đường sắt, vận tải  
đường thủy và vận tải đường biển.  
2.1.1. Về vận tải đường bộ  
Vận tải đường bộ là một trong những hình thức vận tải khá phổ biến trong các loại hình vận tải  
hiện nay. Với ưu điểm là tiện lợi, cơ động và khả năng thích nghi cao với điều kiện địa hình và hiệu  
quả kinh tế cao nên vận tải đường bộ được lựa chọn nhiều. Vận tải bằng đường bộ có thể chủ động mọi  
mặt về thời gian, nhưng cũng phải hạn chế lượng hàng cũng như kích thước hàng hóa vận chuyển sao  
cho đúng tiêu chuẩn được phép. Ngoài sự tham gia chủ động của một số công ty vận tải lớn, đa phần  
trong thị trường có sự tham gia của đông đảo chủ xe là các cá nhân, thực hiện vận tải hàng hóa và hành  
khách đường dài tuyến Bắc-Nam. Vận tải hàng hóa nội khu có rất nhiều những chủ xe với các phương  
tiện vận tải nhỏ. Hạ tầng cho vận tải đường bộ đã có những cải thiện đáng kể trong những năm qua  
nhờ đầu tư nâng cấp các tuyến quốc lộ, đưa vào sử dụng một số trục cao tốc tuy chưa đồng bộ nhưng  
cũng đã góp phần tạo điều kiện cho vận tải đường bộ phát triển.  
Theo Tổng cục Đường bộ Việt Nam cho biết, cấu thành chi phí vận tải thường bao gồm khoảng  
12 khoản mục, trong đó chi phí xăng dầu chiếm khoảng 30 - 35%, chi phí cầu đường khoảng 10-15%,  
chi phí tiền lương lái xe chiếm khoảng 15%. Hiện nay chi phí vận tải đường bộ của Việt Nam còn ở  
mức cao so với một số quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của tình trạng này là do đa số các đơn vị  
kinh doanh vận tải thực hiện vận chuyển hàng hóa quy mô vận tải nhỏ lẻ, phương tiện vận chuyển còn  
54  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
thô sơ, sức cạnh tranh yếu, chưa tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của đơn vị vận tải dẫn đến tỷ lệ xe có  
hàng 2 chiều thấp, tỷ lệ xe chạy rỗng ở mức cao, từ 30-50% số chuyến xe, dẫn đến chi phí vận tải tăng  
cao, hạ tầng giao thông chưa phát triển đồng bộ dẫn đến chi phí hao mòn phương tiện lớn và thời gian  
vận chuyển lâu.  
Bảng 1: Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ  
Nguồn: Báo cáo logistics Việt Nam năm 2019  
2.1.2. Về vận tải đường biển  
Nước ta có bờ biển dài 3280 km với nhiều cảng biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, là điều  
kiện thuận lợi cho phát triển vận tải đường biển. Vận tải đường biển hình thành và kết nối với thương  
mại quốc tế, giao thương giữa nước ta và các nước trên thế giới. Từ khi phát triển Thương mại quốc tế,  
vận tải đường biển đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa giữa nước ta  
với các nước trên thế giới. Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.568 tàu  
với tổng dung tích khoảng 4,8 triệu GT, tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu DWT, lượng hàng hóa vận  
chuyển 6 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt 308,777 triệu tấn, trong  
đó, lượng hàng hóa container đạt hơn 9,1 triệu TEU, tăng lần lượt 13% và 3% so với cùng kỳ năm  
2018. Trong đó, các khu vực cảng biển có khối lượng hàng hóa thông qua tăng cao nhất so với cả nước  
là: Thanh Hóa (tăng 86% - chủ yếu là hàng lỏng phục vụ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn); Quảng Nam  
(tăng 78%). Ngoài ra, một số khu vực cảng biển Hà Tĩnh, Bình Thuận cũng đạt mức tăng từ 58 - 62%.  
Vận tải đường biển có những yêu cầu nghiêm ngặt đã tạo điều kiện cho các dịch vụ logistics phát triển  
theo, chủ yếu là các dịch vụ kho bãi, giao nhận, hải quan và sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp  
logistics đáp ứng yêu cầu phát triển vận tải đường biển.  
2.1.3. Về vận tải hàng không  
Vận tải hàng không đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây nhờ chủ trương  
xây mới, hiện đại hóa hệ thống các sân bay trong khắp cả nước, đáp ứng yêu cầu không chỉ vận tải  
hàng hóa mà còn vận tải hành khách rất lớn. Nước ta hiện có 5 hãng hàng không đang hoạt động đó là:  
Vietnam Airlines, Vietjet Air, Jetstar Pacific, Vasco và Bambo Airlines. Theo số liệu từ Cục Hàng  
không Việt Nam: Việt Nam hiện đang thu hút 50 hãng hàng không quốc tế từ 25 quốc gia và vùng lãnh  
thổ. Theo đánh giá của Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA), thị trường hàng không Việt Nam  
đứng thứ 3 thế giới về tốc độ tăng trưởng vận tải hàng không. Thị trường hàng không Việt Nam đặt  
mục tiêu đứng trong nhóm 4 quốc gia hàng đầu ASEAN về sản lượng vận chuyển. Ba trung tâm vận  
chuyển hành khách, hàng hóa ngang tầm ASEAN tại Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng sẽ được nâng  
cấp và hình thành thêm 3 cụm vận tải là Vân Đồn, Chu Lai, Long Thành.  
Tổng thị trường vận chuyển hành khách của các hãng hàng không Việt Nam tăng trung bình  
12%/năm. Hàng hóa tăng trung bình 15%/năm. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành hàng không chưa  
55  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
đáp ứng các yêu cầu của cư dân và các doanh nghiệp, lưu lượng ở các sân bay trở nên quá tải, thời gian  
thực hiện quá lâu so với dự kiến làm ảnh hưởng đến chi phí và giá thành vận chuyển hiện nay.  
Bảng 2: Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường hàng không  
2.1.4. Về vận chuyển đường sắt  
Ngành vận chuyển đường sắt hình thành và phát triển lâu đời ở nước ta, chủ yếu kết nối các  
tỉnh thành trong cả nước qua tuyến đường sắt Bắc - Nam và một số trục ở phía Bắc, đóng góp quan  
trọng vào quá trình phát triển kinh tế thông qua sự vận hành của các đoàn tàu. Năm 2019, đường sắt  
Việt Nam vẫn đặt mục tiêu đạt sản lượng tăng 8% so với năm 2018, doanh thu tăng từ 7% trở lên. Mặc  
dù sản xuất kinh doanh ngành đường sắt có thời gian trầm từ năm 2015 - 2017, năm 2018 sụt giảm  
chạm đáy, nhưng đã bắt đầu phục hồi, tăng trưởng, để tiếp đà cho năm 2019.  
Bảng 3: Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường Sắt  
Nguồn: Báo cáo logistics Việt nam 2019  
Với số vốn đầu tư nâng cấp đường sắt 7.000 tỷ đồng được Quốc hội phê chuẩn thông qua và  
thay đổi mô hình hoạt động chuyển đường sắt từ Bộ Giao thông vận tải về Uỷ ban quản lý vốn Nhà  
nước tại doanh nghiệp, năm 2019, ngành đường sắt sẽ đầu tư nâng cấp, cải tạo kết cấu hạ tầng tuyến  
đường sắt Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh, nhằm nâng cấp toàn tuyến cùng một cấp tải trọng 4,2tấn/m;  
tăng năng lực thông qua của tuyến từ 18 đội tàu/ngày đêm lên 23-25 đội tàu/ngày đêm và có thể khai  
thác với vận tốc bình quân tàu khách 80-90 km/giờ, tàu hàng 50-60 km/giờ. Từ đó, có thể khối lượng  
vận chuyển hàng hóa trên toàn tuyến tăng 1,3 - 1,5 lần và khối lượng vận chuyển hành khách tăng 1,5 -  
1,6 lần so với hiện nay.  
2.1.5. Về vận tải đường thủy  
Vận tải đường thủy cũng đang đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa ở nước ta,  
đặc biệt là các doanh nghiệp đánh bắt thủy sản, sản xuất gỗ, chăn nuôi gia súc gia cầm, mía đường và  
cây công nghiệp. Lưu lượng container cũng đang tăng lên và các công ty logistics tư nhân có tiềm  
năng đóng vai trò lớn hơn trong ngành vận tải đường thủy nội địa thông qua việc vận chuyển hàng hóa  
công nghiệp và tiêu dùng có giá trị cao hơn.  
56  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Theo thống kê cho biết, vận tải đường thủy chiếm khoảng 17,1% tổng lượng hàng hóa trong  
nước của Việt Nam. So sánh với các loại hình vận tải khác, vận tải đường thủy có ưu điểm là có thể  
vận chuyển với khối lượng rất lớn. Cụ thể, một sà lan nhỏ có thể vận chuyển bằng 25 xe tải chạy trên  
đường bộ. Giá cước vận tải thủy chỉ bằng 1/2 đến 1/3 giá của vận tải đường bộ. Đáng chú ý, vận tải  
ven biển và vận tải đường thủy nội địa đảm nhận khoảng 3/4 trong tổng khối lượng luân chuyển nội  
địa. Đây là tỷ trọng rất cao theo tiêu chuẩn quốc tế và có nhiều thuận lợi xét về góc độ chi phí vận tải  
và chi phí cộng đồng.  
Các loại hàng hóa được vận tải bằng đường thủy phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu, với  
lượng hàng rời chiếm tỉ trọng chủ yếu. Nhiều loại hàng bán rời có khối lượng tương đối cũng là đối  
tượng chuyên chở của phương thức này.  
2.2. Dịch vụ kho bãi  
Dịch vụ kho bãi cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển dịch vụ logistics ở  
nước ta trong những năm gần đây. Hệ thống kho bãi phát triển cùng với sự phát triển của dịch vụ  
logistics. Theo đánh giá của Bộ Công thương, hệ thống kho bãi tập trung chủ yếu ở những trung tâm  
lớn của cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng, trong đó trên 70% diện tích kho  
bãi nằm ở khu vực phía Nam.  
Các công ty cung cấp dịch vụ kho chủ yếu bao gồm: Khu vực phía Nam: Tân Cảng Sài Gòn,  
Mapletree, Sotrans, Gemadept, Vinafco, DHL, YCH-Protrade, Damco, Transimex, IndoTrans,  
Draco...Khu vực phía Bắc: Vinafco, Tân Cảng Saigon, Mapletree, Draco, IndoTrans,...  
Tân Cảng Sài Gòn với tổng diện tích 675.000 m2 kho, bao gồm kho CFS, kho ngoại quan, kho  
bách hóa và trung tâm phân phối đang là nhà cung cấp dịch vụ kho bãi lớn nhất cả nước, trong đó phải  
kể đến các Trung tâm Tân Cảng Sóng Thần với diện tích kho là 205.000 m2, Tân Cảng Long Bình có  
diện tích kho là 156.000 m2. SOTRANS là đơn vị kế tiếp với tổng diện tích kho bãi hơn 230.000m2.  
Nhu cầu nhà kho tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh nhờ các ngành sản xuất phát triển và  
người dân tăng chi tiêu tiêu dùng. Theo đó, giá thuê nhà kho cũng được kỳ vọng sẽ tăng trong các năm  
tới, từ 1,5% đến 4% mỗi năm.  
2.3. Dịch vụ giao nhận  
Dịch vụ giao nhận hình thành và phát triển không chỉ khi phát triển dịch vụ logistics mà cả khi  
phát triển thương mại điện tử. Hoạt động giao nhận phát triển không chỉ trên bình diện quốc gia mà cả  
quốc tế cho phép các dòng dịch chuyển hàng hóa vì thế mà được thực hiện từ khâu sản xuất đến khâu  
tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu. Dịch vụ giao nhận đóng góp lớn vào quá trình phát triển dịch vụ  
logistics trên cấp độ quốc gia, ở đó hình thành thị trường giao nhận với sự hiện diện của các doanh  
nghiệp chuyên môn hóa thực hiện hoạt động giao nhận - là cầu nối giữa nhà sản xuất với thị trường  
tiêu dùng.  
Thị trường giao nhận hoạt động trong lĩnh vực logistics và phát triển thương mại sẽ gia tăng  
mạnh mẽ theo sự phát triển của logistics nói chung và sự phát triển của thương mại điện tử nói riêng.  
Hiện nay, mức tăng bình quân mỗi năm khoảng 20% và dự báo sẽ tăng trưởng 30%/năm trong những  
năm đến.  
Lực lượng các công ty giao nhận trong nước hình thành và phát triển, tham gia tích cực vào thị  
trường logistics, đầu tư phương tiện và thực hiện rút ngắn thời gian giao hàng nhằm đáp ứng nhu cầu  
của người dùng khi mua hàng trực tuyến cũng như thực hiện cam kết giao hàng “hỏa tốc” của các sàn  
thương mại điện tử lớn như Lazada, Tiki, Sendo...  
Áp lực cạnh tranh về giao hàng tức thời đang gia tăng đối với các công ty giao nhận cũng như  
bản thân các sàn thương mại điện tử và các nhà bán lẻ lớn như Thế giới di động, FPT Shop, Nguyễn  
Kim... Tốc độ giao hàng sẽ tác động trực tiếp đến tỷ lệ đơn hàng thành công, giảm số đơn hàng bị  
57  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
hủy...Đây cũng là bài toán cần giải đáp gấp trong thời gian tới của các doanh nghiệp thương mại điện  
tử cũng như các công ty giao nhận, cung cấp kho hàng, dịch vụ hoàn thiện đơn hàng tại Việt Nam.  
Giao nhận nội thành ngày càng trở nên căng thẳng hơn với sự xuất hiện của nhiều đơn vị giao  
hàng quy mô nhỏ, chủ yếu đáp ứng nhu cầu giao hàng của các chủ cửa hàng bán hàng trực tuyến. Tầng  
phía trên là các công ty chuyển phát với quy mô lớn, có tầm hoạt động trên toàn quốc như Viettel Post,  
VNPost, Giao hàng nhanh...  
2.4. Dịch vụ hải quan  
Dịch vụ hải quan nói chung và làm thủ tục hải quan nói riêng là một trong các dịch vụ cơ bản của  
quá trình giao nhận - logistics trên bình diện quốc tế giao thương giữa nước ta và các nước trên thế giới.  
Theo khảo sát của VLA cho thấy 87,8% các công ty logistics đảm nhận cung cấp dịch vụ khai  
báo hải quan. Tổng cục Hải quan với sự hỗ trợ của Liên minh thuế quan tạo thuận lợi thương mại toàn  
cầu (GATF) đang khẩn trương tổ chức đợt làm việc tập trung nhằm hoàn thiện Đề án thí điểm bảo lãnh  
thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, sớm báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ, Quốc hội. Cụ  
thể, từ ngày 13 đến 17/5, tại TP. Huế, Tổng cục Hải quan phối hợp với GATF tổ chức tọa đàm, thảo  
luận để thống nhất xây dựng chi tiết triển khai Đề án thí điểm bảo lãnh thông quan đối với hàng hóa  
xuất khẩu, nhập khẩu có sự tham gia của các Cục, Vụ thuộc Bộ Tài chính và các đơn vị nghiệp vụ  
thuộc Tổng cục Hải quan, các công ty kinh doanh bảo hiểm. Đề án này được Tổng cục Hải quan triển  
khai xây dựng theo yêu cầu tại Quyết định số 1254/QĐ-TTg ngày 26/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ  
về “Phê duyệt Kế hoạch hành động thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN, cải  
cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và tạo thuận lợi thương  
mại giai đoạn 2018 - 2020”.  
2.5. Doanh nghiệp dịch vụ logistics  
Theo Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, tính đến hết tháng 3/2018, cả nước có  
296.469 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trong các ngành, nghề liên quan đến lĩnh vực logistics, tập  
trung chủ yếu ở khu vực có hệ thống cảng, đường bộ thuận lợi như: Đồng bằng Sông Hồng (38,8%),  
Đông Nam Bộ (33,8%), Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (14,2%), trung du và miền núi phía  
bắc (5,6%), Đồng bằng Sông Cửu Long (5,2%), Tây Nguyên (2,4%).  
Quy mô vốn khi đăng ký của các doanh nghiệp ngành logistics còn rất hạn chế, tới 90% số  
doanh nghiệp khi đăng ký có vốn dưới 10 tỷ đồng. Theo Hiệp hội Doanh dịch vụ Logistics Việt Nam  
(VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics ở Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14% - 16%,  
với quy mô khoảng 40 - 42 tỷ USD/năm.  
Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 3.000 doanh nghiệp trong nước và khoảng 25 tập  
đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp  
cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam với các tên tuổi lớn như: DHL,  
FedEx, Maersk Logistics, APL Logistics, CJ Logistics, KMTC Logistics...  
Đặc biệt, thời gian gần đây đã có sự bùng nổ về thương mại điện tử và e-Logistics. Theo Cục  
Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), thương mại điện tử tăng trưởng 35%/năm;  
doanh số bán lẻ thương mại điện tử của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 ước tính tăng 20%/năm  
và tổng doanh số bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam dự kiến đạt 10 tỷ USD vào năm 2020. Những  
thay đổi trong thương mại điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã thúc đẩy ngành logistics Việt Nam  
cải thiện phương thức cung cấp dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.  
3. Thị trường cho dịch vụ logistics  
3.1. Về phương diện cung dịch vụ logistics  
a. Số lượng và loại hình dịch vụ logistics  
Số lượng và loại hình dịch vụ logistics có tầm quan trọng đặc biệt đáp ứng nhu cầu dịch vụ  
58  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
logistics của các chủ thể trong nền kinh tế. Số lượng và loại hình dịch vụ logistics phụ thuộc vào lực  
lượng các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ cho thị trường.  
Tham gia thị trường có DN logistics nước ngoài và DN logistics trong nước, các doanh nghiệp  
logistics nước ngoài hoạt động ở Việt Nam dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ  
3PL (phương thức cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3) với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên  
nghiệp như tại các nước phát triển. Thậm chí, một số doanh nghiệp đang từng bước triển khai mô hình  
4PL và 5 PL trên cơ sở phát triển thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, hiệu quả,  
chuyên nghiệp. Phương thức cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 - 3PL tiếp tục là phương thức cung  
cấp phổ biến nhất và có tầm ảnh hưởng quan trọng đến chuỗi cung ứng hàng hóa. Song số lượng doanh  
nghiệp cung cấp theo phương thức này chỉ chiếm khoảng 16% và chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu  
tư nước ngoài. Các doanh nghiệp logistics trong nước cũng không ngừng phát triển để cung cấp các  
dịch vụ logistics trọn gói và đa dạng hơn. Từ chỗ đa số chỉ cung cấp được một số dịch vụ trong chuỗi  
logistics thì đến nay, doanh nghiệp logistics trong nước đã có được sự tin tưởng cao hơn của các doanh  
nghiệp chủ hàng. Theo thống kê của VLA, hiện có tới 52,8% doanh nghiệp chủ hàng lựa chọn các  
công ty logistics nội địa.  
Trong hầu hết các lĩnh vực về khai thác cảng, kho bãi, vận tải đường bộ nội địa, vận tải đường  
thủy nội địa... doanh nghiệp trong nước đang chiếm ưu thế. Các doanh nghiệp Việt Nam sở hữu phần lớn  
kho bãi, nên doanh nghiệp nước ngoài phải thuê lại hoặc liên kết, liên doanh để phục vụ dịch vụ  
logistics. Bên cạnh đó, các công ty lớn trong nước như Gemadept, Transimex, Vinatrans,... cũng đang  
hướng đến các dịch vụ logistics tích hợp trọn gói và đồng bộ, tổ chức hoạt động theo mô hình 3PL nhằm  
thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển thông qua tối ưu hóa chi phí và tăng giá trị gia tăng cho hàng  
hóa và dịch vụ của doanh nghiệp. Để tham gia mô hình 3PL, các doanh nghiệp trong nước có khuynh  
hướng đầu tư vào cơ sở hạ tầng logistics, đặc biệt là kho bãi hoặc các trung tâm phân phối logistics.  
Tuy nhiên, các dịch vụ logistics chủ yếu mà doanh nghiệp trong nước cung ứng cho khách  
hàng vẫn là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng  
gói bao bì, lưu kho... còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistisc mặc dù cũng có một số doanh  
nghiệp cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển.  
Bên cạnh đó, một xu hướng của năm 2019 là sự gia tăng mạnh mẽ của loại hình dịch vụ  
logistics phục vụ thương mại điện tử. Số lượng các công ty tham gia vào khâu giao hàng chặng cuối  
phục vụ cho thương mại điện tử tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là thương mại điện tử hàng rời, giá trị  
đa dạng và hàng ăn uống.  
Nhìn chung, chất lượng dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có sự chuyển biến đáng kể theo  
hướng tích cực trong vài năm trở lại đây, trong đó, cơ sở hạ tầng về thương mại - giao thông, viễn  
thông và công nghệ thông tin cũng như chất lượng dịch vụ logistics đến từ khu vực tư nhân đang được  
cải thiện nhanh chóng, rõ rệt.  
b. Về năng lực doanh nghiệp logistics nội địa  
Các doanh nghiệp logistisc Việt Nam vẫn chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa cả về vốn,  
lao động và công nghệ, tiềm lực tài chính còn khiêm tốn (80% doanh nghiệp thành lập có vốn đăng ký  
từ 1,5 - 2 tỷ đồng), còn thiếu kinh nghiệm, năng lực cạnh tranh hạn chế, nên chưa có cơ hội vươn ra thị  
trường có nhu cầu lớn, thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các doanh nghiệp, giữa các công đoạn khác nhau  
của hoạt động logistics.  
Nguồn nhân lực cũng là một yếu tố trở ngại, bởi hầu hết nhân lực trong lĩnh vực logistics hiện  
nay của Việt Nam đều được đào tạo từ các nguồn khác nhau, chưa được đào tạo chính quy, bài bản.  
Trong số các doanh nghiệp trong nước, có tới 93 - 95% người lao động không được đào tạo chuyên  
ngành logistics, chủ yếu làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như giao nhận, kho bãi, xử lý vận  
đơn... Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam khá nhỏ, doanh nghiệp có dưới 50  
nhân viên chiếm tỷ lệ tới khoảng 32,4%.  
59  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Công nghệ là lợi thế cạnh tranh then chốt, dịch vụ logistics theo hướng 3PL đã hiện diện và có  
nhiều tiềm nãng phát triển tại Việt Nam. Do ðó, nếu chỉ cung cấp các dịch vụ kho vận đơn giản, thuần  
túy... mà không tích hợp chúng thành quá trình, chuỗi dịch vụ, người cung ứng dịch vụ khó có thể thỏa  
mãn khách hàng về mặt giảm chi phí cũng như tính đáp ứng nhanh (quick responsiveness). Trình độ  
ứng dụng CNTT của đa số các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Ứng dụng công nghệ trong thời đại  
cách mạng công nghiệp 4.0, khi lượng hàng hóa di chuyển lớn, nhu cầu về thời gian, cũng như đảm  
bảo an toàn và chất lượng của hàng hóa... vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp đáp ứng được.  
Các doanh nghiệp logistics mới gia nhập đã sử dụng công nghệ để nâng cao khía cạnh dịch vụ  
của doanh nghiệp. Ví dụ, chỉ có 12% các công ty logistics báo cáo không có các nhân viên chuyên  
trách về công nghệ thông tin (kỹ sư máy tính, lập trình viên,...), 14% doanh nghiệp trả lời là đã có hơn  
100. Ngoài ra, 57% các công ty logistics phản hồi là họ đang sử dụng các chuyên gia dữ liệu. Một số  
giải pháp về CNTT được các doanh nghiệp xem xét đầu tư như hệ thống công nghệ hỗ trợ khách hàng  
theo dõi quá trình vận chuyển hành hóa (E-Tracking/Tracing), hệ thống kết nối toán diện CNTT quản  
lý khai thác hàng container, các giải pháp hỗ trợ thành toán online, hóa đơn điện tử,...  
Trong nội bộ doanh nghiệp, vai trò của bộ phận CNTT (hay bộ phận IT) đối với khách hàng  
cũng tăng lên. Năng lực của các doanh nghiệp logistics trong đưa ra công nghệ với khách hàng hoặc  
trong kết nối công nghệ với khách hàng đang ngày càng tăng lên rõ rệt. Ngân sách đầu tư công nghệ  
của doanh nghiệp logistics tiếp tục tăng về mặt tổng thể. Nhân tố cơ bản thúc đẩy việc tăng đầu tư  
công nghệ là để tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp.  
Nhân tố thúc đẩy lớn thứ hai là tận dụng lợi thế của công nghệ mới. Điều này phù hợp với tư  
duy của nhiều doanh nghiệp logistics lấy công nghệ làm trung tâm và đang bắt đầu thâm nhập vào  
ngành. Điều này cũng liên quan mật thiết đến tư duy về công nghệ trong toàn ngành như một nhân tố  
khác biệt bởi vì các công ty sẽ phải quyết định đầu tư/ không đầu tư vào các công nghệ mới để tạo ra  
một lợi thế cạnh tranh.  
3.2. Về phương diện cầu dịch vụ logistics  
Cầu dịch vụ logistics thể hiện chính ở những nhu cầu thương mại và phân phối hàng hóa trong nền  
kinh tế nước ta nói riêng và mức độ hội nhập kinh tế và thương mại vào thị trường thế giới nói chung.  
Trước tiên là nhu cầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu hàng hóa của nước ta  
tiếp tục tăng trưởng nhanh, thúc đẩy nhu cầu về logistics phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu như vận  
chuyển hàng quốc tế đa phương thức, vận tải container; vận tải nội địa trucking; hệ thống kho, bãi, kho  
ngoại quan; thủ tục hải quan... Đối với doanh nghiệp ngành thủy sản, theo kết quả khảo sát 100 doanh  
nghiệp cho thấy, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đều thuê ngoài dịch vụ logistics (một hoặc  
nhiều dịch vụ logistics), các dịch vụ logistics truyền thống như vận tải (quốc tế và nội địa), dịch vụ  
giao nhận, kho bãi và lưu trữ hàng hóa và khai hải quan được thuê ngoài nhiều nhất.  
Lĩnh vực thương mại trong nước cũng sôi động góp phần vào phát triển cầu dịch vụ logistics,  
xuất phát từ chỗ nước ta là quốc gia có mật độ dân số đông, dân số trẻ, mức độ đô thị hóa nhanh, thu  
nhập bình quân đầu người tăng và tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng các thiết bị di động cao, có khả năng  
tiếp cận và mua sắm trực tuyến. Đây là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển về phía cầu đối với dịch vụ  
logistics. Nhu cầu về giao hàng nhanh và bảo đảm chất lượng ngày càng trở thành một tiêu chuẩn cạnh  
tranh đối với các nhà bán lẻ. Theo dõi hàng hóa vận chuyển ngay trên thiết bị di động, quản lý quảng  
cáo thương mại thông minh, điện toán đám mây lưu trữ lượng thông tin và dữ liệu lớn về hàng hóa,...  
là những sáng kiến có thể sẽ đạt những thành tựu lớn trong lĩnh vực dịch vụ thương mại điện tử, bao  
gồm chuỗi cung ứng, trong đó có logistics.  
Theo khảo sát của VLA, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics của các doanh nghiệp sản xuất, kinh  
doanh trong nước vào khoảng 60 - 70%. Tuy nhiên, tổng hợp và đánh giá thông qua một số kết quả  
nghiên cứu và khảo sát thực tế, có thể thấy, thị trường thuê ngoài logistics của Việt Nam khá sôi động,  
là thị trường trẻ nhưng có tiềm năng tăng trưởng lớn. Các doanh nghiệp có xu hướng tăng tỷ lệ thuê  
60  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
ngoài dịch vụ logistics để tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính, giảm vốn đầu tư và giảm  
chi phí, giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, tăng nhanh tốc độ vận động hàng hóa, tăng khả  
năng tiếp cận thông tin thị trường.  
3.3. Về trung gian thị trường dịch vụ logistics  
Trong năm 2019, Việt Nam đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp để mở rộng thị trường cho  
doanh nghiệp dịch vụ logistics. Xúc tiến thương mại cho dịch vụ logistics thông qua việc đăng cai, tổ  
chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về logistics; tổ chức các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài  
và mời các đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam trao đổi cơ hội đầu tư, hợp tác về phát triển  
dịch vụ logistics. Đẩy mạnh tuyên truyền cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu và thương  
mại nội địa về việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài theo hướng chuyên môn hóa, phân công lao  
động hợp lý trong chuỗi cung ứng. Một số sự kiện điển hình như Triển lãm và Hội thảo quốc tế lần thứ  
nhất về Cơ sở hạ tầng cảng và Logistics (VIPILEC 2019) được diễn ra từ ngày 12 - 14/6/2019, tại  
Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC); Hội nghị “Phát triển dịch vụ logistics tại Hải Phòng  
- nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết vùng” do Bộ Công Thương phối hợp với UBND  
TP. Hải Phòng tổ chức vào 12/07/2019; Diễn đàn “Phát triển nguồn nhân lực cho ngành Logistics và  
xu hướng tại Việt Nam 2019” do VLA tổ chức phối hợp với Aus4Skills và VCCI ngày 16/05/2019 tại  
TP. Hồ Chí Minh, nhằm mục đích trao đổi, chia sẻ thông tin về nguồn cung và nhu cầu lao động trong  
ngành logistics, cũng như dự báo các xu hướng sẽ tác động đến các tiêu chuẩn kỹ năng trong ngành  
trong tương lai; Hội thảo “Tăng cường tính kết nối nhằm cải thiện chuỗi giá trị hàng nông sản và thủy  
sản của Đồng bằng Sông Cửu Long” tổ chức ngày 23/4/2019 tại TP. Cần Thơ; Hội thảo bàn tròn Hợp  
tác Đường thủy Việt Nam - Hà Lan với chủ đề “Hướng tới Hành lang logistics nông nghiệp (agro-  
logistics) đa phương thức và bền vững đồng bằng sông Mê Kông” diễn ra ngày 11/4/2019, tại Thành  
phố Hồ Chí Minh...  
4. Tồn tại và hạn chế  
Trên cơ sở đánh giá khái quát về thị trường dịch vụ logistics có thể rút ra một số hạn chế và tồn  
tại hiện nay:  
- Hiện nay chi phí vận tải đường bộ còn ở mức cao, chưa tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của  
đơn vị vận tải. Về thành phần cấu thành chi phí vận tải, theo số liệu từ doanh nghiệp vận tải thì trong  
chi phí vận tải đường bộ, xăng dầu chiếm khoảng 30-35%, phí cầu đường (BOT) bình quân chiếm  
khoảng 10-15%. Tùy theo từng doanh nghiệp vận tải và khu vực vận tải, tỷ lệ chi phí trên có thay đổi,  
nhìn chung chi phí BOT trên tuyến Bắc - Nam chiếm khoảng 15% tổng chi phí vận tải. Tuy các tuyến  
đường bộ có thu phí BOT còn có một số tồn tại nhưng cần có nghiên cứu, đánh giá tổng thể toàn diện  
hơn, xét tới các yếu tố lợi ích do BOT đem lại như chất lượng vận tải cao hơn (tốc độ vận chuyển),  
giảm chi phí khai thác phương tiện... (Bộ Công Thương, 2018).  
- Chưa hình thành trung tâm logistics cấp quốc gia cũng như quốc tế đủ tầm vóc, và trung tâm  
logistics các địa phương có quy mô để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt thị trường và hội tụ doanh nghiệp  
như quy hoạch logistics quốc gia.  
- Các quy định, cơ chế quản lý, chính sách liên quan đến phát triển logistics chưa rõ ràng, chủ  
yếu dừng ở định hướng chính sách.  
- Hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu phân hạng và phát triển trung tâm logistics còn chưa rõ ràng, dữ  
liệu thống kê về logistics và trung tâm logistics còn chưa đồng bộ.  
- Doanh nghiệp hoạt động logistics còn nhỏ, qui mô chưa lớn nên chi phí cao, chưa hiệu quả.  
- Nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho hoạt động logistics còn hạn chế  
- Sự liên kết giữa các địa phương trong vùng chưa hiệu quả còn lỏng lẻo, các tỉnh đua nhau  
thành lập cảng biển.  
61  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
- Công nghiệp địa phương còn chưa phát triển mạnh mẽ nên lượng hàng hóa xuất khẩu qua các  
nước còn ít dẫn đến chi phí cao.  
5. Định hướng và giải pháp  
Khi kinh tế và thương mại phát triển, đặc biệt là ngành bán lẻ và thương mại điện tử đang trên  
đà phát triển mạnh mẽ như hiện nay và trong tương lai, một yếu tố quan trọng bậc nhất để hỗ trợ đó là  
logistics. Hàng hóa của tất cả các doanh nghiệp sản xuất tung ra thị trường được vận chuyển xuyên  
suốt trong nước và khắp thế giới thông qua vận tải tất cả các loại hình, đường bộ, đường thủy, đường  
sắt và đường hàng không. Logistics dường như là một điều không hề dư thừa trong chuỗi cung ứng  
đang hoạt động vào thời điểm hiện tại, khi phương thức mua hàng và thanh toán tiền mua hàng có thể  
thay đổi theo sự phát triển của khoa học công nghệ. Về mặt tích cực, logistics là một ngành dịch vụ tạo  
nguồn thu nhập, nguồn việc làm lớn và đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn  
cầu mà tất cả các ngành sản xuất, dịch vụ, phân phối khác đều được hưởng lợi. Song đồng thời, chi phí  
logistics cũng bị đẩy lên cao do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan: mất thời gian vận chuyển vì gặp  
tắc nghẽn giao thông, cơ sở hạ tầng phục vụ cho vận tải còn thiếu thốn và nghèo nàn, chi phí phát sinh  
do lưu giữ hàng hóa dài hạn làm chậm chuỗi cung ứng đang lưu thông, chi phí hải quan còn cao, còn  
tồn tại nhiều loại thuế, phí… Một số hoạch định trong trung và dài hạn nhằm hỗ trợ và gia tăng hiệu  
quả của ngành công nghiệp này có thể được xem xét như sau:  
- Vấn đề phát triển ngành dịch vụ logistics trong vùng và quốc gia cần có sự phát triển viễn  
thông và công nghệ thông tin bổ trợ đi kèm là điều tất yếu, do đó ngành công nghiệp này đòi hỏi yếu tố  
nhân lực trình độ cao.  
- Qui hoạch không gian phát triển logistics bên trong và bên ngoài khu vực (vùng) một cách  
chặt chẽ đảm bảo cho phép khai thác tối đa lợi thế của vùng và kết nối với quốc gia và quốc tế, hình  
thành trung tâm logistics của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung kết nối với các trung tâm logistics ở  
từng địa phương.  
- Hình thành cơ chế phối hợp giữa các loại hình vận chuyển để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu  
và thực tế hoạt động logistics của vùng đảm bảo mỗi loại hình vận chuyển đều đóng vai trò chủ đạo  
trong kết nối với các loại hình khác.  
- Kiện toàn công tác logistics bên trong các doanh nghiệp đảm bảo cho quá trình hoạt động của  
doanh nghiệp thực sự hiệu quả trên cơ sở tiết giảm chi phí logistics, thu hút đầu tư mạnh vào hạ tầng  
giao thông bên trong vùng và từng địa phương, tạo sự kết nối giữa các địa phương và kết nối các trung  
tâm logistics.  
- Thúc đẩy các kết nối bên ngoài doanh nghiệp, tạo mạng lưới logistics cho phép thúc đẩy lưu  
thông hàng hóa trong vùng và ngoài vùng.  
* Hình thành và phát triển trung tâm logistics Vùng, khu vực và địa phương  
Trung tâm logistics vùng, khu vực có tầm quan trọng đặc biệt trong xúc tiến và thực hiện chiến  
lược phát triển logistics cho cả vùng. Trung tâm logistics vùng sẽ thực hiện chức năng vận tải các  
tuyến chính trong vùng với khối lượng lớn, kết nối các phương thức vận tải khác nhau, kết nối các chủ  
thể thị trường và các trung tâm phân phối tại mỗi địa phương. Mỗi địa phương sẽ hình thành trung tâm  
phân phối cho địa phương mình, thực hiện chức năng thu gom tất cả các hàng hóa địa phương để đưa  
vào hệ thống phân phối của vùng. Sự hình thành các trung tâm logistics như vậy sẽ cho phép hình  
thành mạng lưới có tính kết nối chặt chẽ giữa các địa phương với vùng, cho phép hàng hóa ra và vào  
hệ thống được thuận lợi.  
* Nâng cao năng lực hoạt động và cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics  
Trong hệ thống logistics, doanh nghiệp logistics đóng vai trò quyết định thực thi các hoạt động  
logistics trên cơ sở kết nối với các tổ chức kinh tế, cá nhân tham gia và hệ thống các doanh nghiệp vận  
tải các chuyên ngành. Nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư để phát triển hệ thống các doanh  
62  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
nghiệp logistics có qui mô lớn, hoạt động rộng khắp trong từng địa phương và vùng, thể hiện vai trò  
dẫn dắt và định hướng thị trường logistics, tiên trong trang bị các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, tiên  
trong trong hoạt động và có khả năng cạnh tranh ngay trên thị trường nước ngoài.  
* Tăng cường ứng dụng công nghệ trong logistics  
Năm 2018 đánh dấu những bước tiến đáng ghi nhận về việc ứng dụng công nghệ trong  
logistics, thể hiện qua việc gia tăng các giải pháp ứng dụng cục bộ, nhất là sự xuất hiện các giải pháp  
tổng thể có tính tích hợp hệ thống, ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ  
thông tin trong logistics còn nhiều hạn chế nên chi phí logistics còn khá cao. Chính vì thế, cần tăng  
cường ứng dụng công nghệ trong logistics bằng nhiều giải pháp như xây dựng chương trình nâng cao  
năng lực ứng dụng khoa học công nghệ cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics, hỗ trợ vay vốn để đầu  
tư trang thiết bị, công nghệ trong logistics, tổ chức các khóa học về ứng dụng công nghệ trong logistics  
hiện nay cho các doanh nghiệp trong logistics, nhà nước đầu tư xây dựng và hỗ trợ mua các phần mềm  
công nghệ trong logistics.  
* Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực  
Nguồn nhân lực là yếu tố cốt lỗi trong hoạt động logistics của doanh nghiệp, nhân lực có trình  
độ chuyên môn về logistics sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động logistics hiệu quả hơn. Thực tế, nhân lực  
cho hoạt động logistics còn yếu và hạn chế, thậm chí quản lý của các doanh nghiệp cũng chưa có kiến  
thức chuyên sâu về hoạt động này, phương thức hoạt động và khoa học công nghệ cho logisitcs. Chính  
vì thế, cần tổ chức các khóa học bồi dưỡng, nâng cao kiến thức logistics cho từng lĩnh vực hoạt động  
của doanh nghiệp. Các khóa học này sẽ do Bộ phối hợp với các trường đại học trong và ngoài nước,  
doanh nghiệp nước ngoài và trong nước cùng thực hiện. Ngoài ra, nhân lực cho ngành logistics cần có  
trình độ ngoại ngữ tương đối tốt cùng với am hiểu về luật pháp và cập nhật những ứng dựng khoa học  
khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin.  
* Hoàn thiện văn bản qui phạm pháp luật về logistics  
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, cắt giảm chi phí logistics thì yêu cầu cấp bách là hoàn thiện  
các văn bản qui phạm pháp luật về logistics. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong vấn đề hoạt động,  
quản lý logistics. Xét về mặt pháp lý, cho đến thời điểm này, quy định về kinh doanh dịch vụ logistics  
mới chỉ có Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30.12.2017 (có hiệu lực từ  
ngày 20.2.2018), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5.9.2007 quy định chi tiết Luật Thương  
mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh  
dịch vụ logistics. Bên canh đó, còn lại nằm rải rác ở những văn bản Luật khác như: Bộ luật dân sự,  
Luật: doanh nghiệp, đầu tư, cạnh tranh, hải quan, giao thông đường bộ, đường sắt, giao thông thủy nội  
địa, hàng không dân dụng, hàng hải, bảo hiểm và các điều lệ, văn bản hướng dẫn thi hành. Về hiệp hội  
chuyên ngành liên quan đến dịch vụ logistics cũng còn khá nhiều, chưa có sự thống nhất hoặc sự liên  
kết chặt chẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động đôi khi còn hạn chế. Chính vì thế, hoàn thiện văn bản qui  
phạm pháp luật tạo điều kiện phát triển logistics trong bối cảnh toàn cầu hóa là rất cần thiết.  
* Tăng cường hợp tác quốc tế trong logistics  
Để đảm bảo cung ứng một chuỗi logistics trọn vẹn như các DN nước ngoài, đã đến lúc các DN  
cung cấp dịch vụ logistics cần hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này  
giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con  
người và hệ thống thông tin - hai thế mạnh nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài.  
Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước sẽ học hỏi được kinh nghiệm quản lý, điều hành, công nghệ  
thông tin từ phía hợp tác. Ngoài ra, Chính phủ và chính quyền địa phương các tỉnh cũng tăng cường  
hợp tác với các trường đại học trong và ngoài nước, doanh nghiệp nước ngoài để nâng cao trình độ  
nhân lực cho các doanh nghiệp logistics thông qua ký kết các biên bản hợp tác. Ngoài ra, các đối tác  
nước ngoài cũng là đầu mối tư vấn, xây dựng các chương trình logistics ở các địa phương. Bên cạnh  
63  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
đó, tăng cường hợp tác quốc tế trong logistics cũng thúc đẩy phát triển và mở rộng quan hệ thương mại  
giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Công Thương, 2019. Báo cáo logistics Việt Nam 2019  
2. Hà Chính, 2019. Phát triển các mũi nhọn kinh tế biển miền Trung. http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Phat-  
trien-cac-mui-nhon-kinh-te-bien-mien-Trung/373156.vgp  
3. Nguyễn Thị Như Quỳnh, 2018. PHÁT TRIỂN LOGISTICS VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN  
TRUNG: HỌC TẬP KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TỪ SINGAPORE.  
4. Nguyễn Việt Bình, 2018. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS CỦA VÙNG KINH TẾ MIỀN TRUNG.  
Hội thảo quốc tế về thương mại và phân phối lần 1 năm 2018.  
5. Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 12/8/2008 của Thủ tướng chính phủ  
6. Quyết định số 1874/QĐ-TTg  
7. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1012/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống trung  
tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.  
8. Tổng cục thống kê Việt Nam, 2018. Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam năm 2018.  
9. Trần Ðình Lãm, 2019. Ðà Nẵng sẽ trở thành trung tâm logistics tại miền Trung. http://vlr.vn/bat-dong-  
san/da-nang-se-tro-thanh-trung-tam-logistics-tai-mien-trung-4734.vlr  
10. UBND TP Ðà Nẵng, 2018. Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng logistics đến năm 2030, tầm nhìn đến nãm  
2045.  
64  
pdf 12 trang baolam 21880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển thị trường dịch vụ logistics - Thực trạng và định hướng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_thi_truong_dich_vu_logistics_thuc_trang_va_dinh_h.pdf