Vai trò của thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA  
DOANH NGHIỆP  
THE ROLE OF E-COMMERCE IN BUSINESS ACTIVITIES OF ENTERPRISES  
ThS. Đặng Thị Nga  
Phân hiệu Đại học Giao thông Vận tại TP HCM  
Tóm tắt  
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, Thương mại điện tử (TMDT) đã trở thành một công cụ quan  
trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở nghiên cứu những cơ sở lý luận của  
TMDT. Nghiên cứu những tác động của việc ứng dụng TMDD đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghệp.  
Nghiên cứu điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể ứng dụng và sử dựng hiệu quả TMDD. Nghiên cứu  
những mặt đạt được, những điểm còn hạn chế của ứng dụng TMDD của các doanh nghiệp ở Việt Nam và những  
nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ứng dụng TMDT trong hoạt động kinh  
doanh, giúp tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Một số giải pháp dự kiến: Giải pháp  
xây dựng hệ thống TMDT trong doanh nghiệp; Giải pháp triển khai dự án TMDT trong doanh nghiệp. Giải  
pháp xây dựng và quản lý webside TMDT và bán hàng trực tuyến; Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào  
trong các hoạt động quản trị của doanh nghiệp.  
Từ khóa: Thương mại điện tử, Vai trò của thương mại điện tử, Giải pháp ứng dụng thương mại điện tử.  
Abstract  
With the Information technology (IT) development, E-commerce has played an important role in  
business activities of enterprises. Based on researches and theoretical basis of E-commerce. Researches into  
impacts of E-commerce applications on business activities of enterprises. Researches into necessary conditions  
for enterprises to effectively apply and use E-commerce. Researches into benefits and drawbacks of E-  
commerce application of Vietnamese enterprises and causes of such drawbacks. Thereby, solutions are  
suggested to apply E-commerce in business activities, hence to enhance the competitiveness of enterprises in the  
market. Some proposed solutions: E-commerce construction in enterprises; E-commerce project implementation  
in enterprises; E-commerce and online sales Website development and management; IT application in business  
administration.  
Key words: E-commerce, role of E-commerce, E-commerce application solutions  
1. Giới thiệu  
Thương mại điện tử đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao  
đời sống người dân, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Những tiến bộ nhanh chóng về  
công nghệ và sự gia tăng về số lượng người sử dụng Internet đang thay đổi truyền thống kinh doanh và  
phương thức tiến hành thương mại của doanh nghiệp. Bằng cách giảm chi phí thương mại kết hợp với  
khoảng cách vật lý, thương mại điện tử cho phép các doanh nghiệp khả năng tiếp cận thị trường toàn  
cầu, đạt được một mạng lưới rộng lớn khách hàng và tham gia vào thương mại quốc tế.  
Đã có rất nhiều bài báo nghiên cứu về tầm quan trọng của thương mại điện tử trong hoạt động  
kinh doanh của doanh nghiệp như việc tăng doanh thu, giảm chi phí, mở rộng quy mô. Tuy nhiên,  
trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay thì vai trò của thương mại điện  
tử càng đóng một vị trí quan trọng sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiêp. Để  
thực hiện đề tài tác giả đã thực hiện thu thập số liệu và tiến hành khảo sát tại một số doanh nghiệp tỉnh  
thành khu vực HCM, Hà nội và lân cận. Đề tài sẽ tập chung nghiên cứu những lợi ích mà doanh nghiệp  
đạt được khi ứng dụng thương mại điện tử vào các lĩnh vực kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp 4.0.  
113  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
2. Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh của doanh nghiệp  
2.1. Thương mại điểm tử  
Thương mại điện tử (TMĐT) được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mại điện  
tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade) hoặc “kinh doanh điện tử” (e-  
business). Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến và được dùng thống nhất trong Các  
văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay các nhà nghiên cứu. Thương mại điện tử bắt  
đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông,  
các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng,  
marketing, thanh toán, đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác,  
khách hàng…[3 ].  
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng  
cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được  
giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua  
mạng Internet” [3].  
2.2. Thực trạng sử dụng thương mại điện tử ở Việt Nam và Thế giới  
Các nghiên cứu mới đây cho thấy người tiêu dùng trên toàn cầu đang thay đổi thói quen mua  
sắm với việc dành nhiều thời gian và tiền bạc cho hoạt động mua hàng trực tuyến. Theo thống kê, năm  
2016, có 1,61 tỷ người trên toàn cầu mua hàng trực tuyến. Dự kiến, doanh thu bán lẻ trực tuyến trên  
toàn thế giới sẽ tăng từ 1.900 tỷ USD năm 2016, lên 4.060 tỷ USD năm 2020 [5].  
Trong bảng số liệu thống kê cho thấy thị phần thương mại điện tử của các nước trên thế giới  
đang có xu hướng tăng so với năm 2016. Trong đó tốc độ tăng lớn là Trung Quốc đai lục, Hàn quốc và  
Việt nam.  
Bảng 1: Bảng thị phần của ngành hàng tiêu dùng nhanh thông qua thương mại điện tử ở một số quốc gia  
trên thế giới (không bao gồm ngành hàng tươi sống)  
Thị phần thương mại điện 12 tháng tính đến tháng 03 12 tháng tính đến tháng 03  
tử (%)  
Hàn Quốc  
Anh  
năm 2016  
14,1  
7,0  
năm 2017  
19,7  
7,5  
Trung Hoa Đại Lục  
Đài Loan  
Pháp  
4,1  
6,2  
4,8  
5,8  
5,2  
5,6  
Tây Ba Nha  
Bồ Đào Nha  
Malaysia  
Argentina  
Thái Lan  
1,4  
1,8  
0,9  
0,9  
0,4  
0,8  
0,9  
0,8  
0,4  
0,7  
Việt Nam  
Brazil  
0,3  
0,5  
0,1  
0,1  
Nguồn: Kantar Worldpanel Vietnam  
114  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Hình 1: Thị phần của ngành hàng tiêu dùng nhanh thông qua thương mại điện tử ở một số quốc gia trên  
thế giới (không bao gồm ngành hàng tươi sống)  
Bảng 2: Bảng sử dụng thương mại điện tử ngành hàng tiêu dùng nhanh không bao gồm thực phẩm tươi  
sống tại Thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nộ, Đà Nẵng, Cần Thơ  
Ngành hàng tiêu dùng nhanh không bao gồm thực 1 năm kết thúc vào quý 1 1 năm kết thúc vào quý 1  
phẩm tươi sống  
năm 2016  
năm 2017  
Thị phần thương mại điện tử (%)  
0,3  
0,5  
Tỷ lệ người mua thông qua thương mại điện tử (%)  
5,4  
8,8  
Số lần mua hàng thông qua thương mại điện  
tử/người/năm  
2,4  
2,5  
Chi tiêu cho thương mại điện tử/người/lần (USD)  
15,5  
14,9  
Nguồn: Kantar Worldpanel Vietnam  
Năm 2017 thị phần thương mại điện tử và tỷ lệ người mua thông qua thương mại điện tử ở Việt  
Nam tăng mạnh nhờ vào sự phát triển của Internet và sự gia tăng lượng người sở hữu điện thoại thông  
minh cùng với đó là sự đầu tư mạnh tay của các nhà bán lẻ. Tuy nhiên số lần mua hàng thông qua  
thương mại điện tử và chi tiêu cho thương mại điện tử lại không tăng, điều này chứng tở người tiêu  
dùng Việt Nam vẫn chưa thực sự tin tưởng và hài lòng khi mua hàng thông qua thương mại điện tử.  
Bảng 3: Tình hình mua sắm trực tuyến tại Việt Nam năm 2014 – 2016  
2014  
58%  
145  
2015  
62%  
160  
2016  
65%  
170  
Ước tính người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến  
Ước tính giá trị mua sắm trực tuyến của một người (USD)  
Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển thương mại của bộ công thương 2016  
2.3. Một số mô hình thương mại điện tử phổ biến nhất hiện nay  
™ Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C)  
Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới tay người tiêu  
dùng. Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và  
nhận hàng. Mô hình B2C chủ yếu là mô hình bán lẻ qua mạng như: www.Amazon.com,  
www.lazada.vn,...Số lượng giao dịch theo mô hình thương mại điện tử B2C khá lớn, tuy nhiên giá trị  
giao dịch lai chưa cao.  
Hiện nay, thế giới đang phát triển mạnh mô hình thương mại điện tử, nhất là mô hình thương  
mại điện tử doanh nghiệp đến người tiêu dùng (B2C) sẽ phát triển mạnh với mức tăng trưởng  
115  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
20%/năm, đạt khoảng 3.400 tỷ USD, trong đó thương mại điện tử xuyên biên giới chiếm 30% (đạt  
khoảng 1.000 tỷ USD).  
Thương mại điện tử B2C ở Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng  
nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á, với chỉ số CAGR (tốc độ tăng trưởng hàng năm kép) từ năm 2013  
đến 2017 là 32.3%, với khối lượng khoảng 5.5 tỉ EUR vào năm 2017. Thị trường Việt Nam dự báo tiếp  
tục tăng trưởng mạnh với CARG khoảng 14% vào giai đoạn 2017 đến 2020, chiếm khoảng 5.2% tổng  
doanh số bán lẻ (Dammio,2018).  
™ Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)  
B2B (Business to Business) là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử và mạng viễn  
thông đặc biệt là Internet giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, hơn là với khách hàng. Sau khi  
đăng kí trên các sàn giao dịch B2B, các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng,  
ký kết hợp đồng, thanh toán qua hệ thống này. Thương mại điện tử B2B đem lại lợi ích thực tế cho các  
doanh nghiệp, đặc biệt giúp các doanh nghiệp giảm chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường,  
quảng cáo, tiếp thị, đàm phán và tăng cường cơ hội kinh doanh. Ví dụ như: www.alibaba.com,  
vatgia.com,...  
Trong năm 2017 tỷ lệ doanh nghiệp nhận đơn hàng thông qua các công cụ trực tuyến như sau:  
nhận đơn hàng quan email là 79%; website là 39%; sàn thương mại điện tử là 32%. Còn tỷ lệ doanh  
nghiệp nhận đặt hàng thông qua các công cụ trực tuyến năm 2017 là: đặt hàng quan email là 79%;  
website là 41%; sàn thương mại điện tử là 29%.  
Tỷ lệ các doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của việc bán hàng thông qua thương mại điện tử cao  
qua các công cụ trực tuyến năm 2017 như sau: Qua sàn giao dịch TMĐT là 18%; qua ứng dụng di  
động là 22%; website 35%; quan mạng xã hội là 39%.  
™ Giao dịch giữa chính phủ với doanh nghiệp (G2B)  
Tỷ lệ doanh nghiệp thường xuyên tra cứu thông tin trên các website nhà nươc năm 2017 chiếm  
30%, tỷ lệ thường xuyên tra cứu thông tin của các doanh nghiệp lớn cao hơn so với các doanh nghiệp  
vừa và nhỏ.  
Việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến liên quan đến các thủ tục thông báo, đăng ký, cấp phép  
của các doanh nghiệp năm 2017 là 73%. Trong đó khai báo thuế điện tử vẫn được doanh nghiệp sử  
dụng nhiều nhất.  
Đối với lợi ịch của dịch vụ công trực tuyến được các doanh nghiệp điều tra đánh giá cao chiếm  
tới 52% năm 2017.  
Hình 2: Đánh giá lợi ích của dịch vụ công trực tuyến  
Nguồn: Báo cáo TMĐT 2017 - Bộ công thương  
116  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
2.4. Ảnh hưởng của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp  
- Tác động đến hoạt động marketing: Trong hoạt động thương mại truyền thống chủ yếu triển khai  
chiến lược marketing “đẩy” thì trong hoạt động thương mại điện tử chủ yếu là triển khai hoạt động  
marketing “kéo”. Hàng hóa thương mại điện tử có tính cá biệt hóa cao do thông qua website doanh  
nghiệp có thể giao tiếp trực tiếp với một lượng khách hàng lớn ở cùng một thời điểm, như vậy doanh  
nghiệp sẽ biêt được thị hiếu cũng như những thay đổi về thị hiếu người tiêu dung để từ đó tạo ra  
những sản phẩm tốt nhất, đáp ứng cao nhất nhu cầu người tiêu dùng. Điều này đồng nghĩa với việc  
vòng đời sản phẩm sẽ rút ngắn lại. Ngoài ra thương mại điện tử còn giúp các doanh nghiệp thương  
mại điện tử giảm chi phí phân phối, chi phí bán hàng do loại bớt các thành phần trung gian tham gia  
vào hoạt động marketing.  
- Làm thay đổi mô hình kinh doanh: Một mặt các mô hình kinh doanh truyên thống bị áp lực của  
thương mại điện tử phải thay đổi, mặt khác cũng có các mô hình kinh doanh thương mại điện tử hoàn  
toàn mới được hình thành. Ví dụ vào năm 1996 DELL bắt đầu bán máy tính qua mạng; Amazon.com  
là doanh nghiệp thương mại điện tử đầu tiên trên thế giới.  
- Tác động đến hoạt động sản xuất: Thay vì sản xuất hàng loạt như trước kia thì chuyển sang sản  
xuất đúng lúc và theo nhu cầu. Trong thương mại điện tử hệ thống sản xuất được tích hợp với hệ  
thống tài chính, hoạt động marketing và các hệ thống chức năng khác trong và ngoài tổ chức.  
- Tác động đến hoạt động tài chính kế toán: Khác biệt lớn nhất giữa hoạt động tài chính, kế toán  
trong lĩnh vực thương mại điện tử so với truyền thống chủ yếu nằm ở hệ thống thanh toán điện tử.  
Giải pháp thanh toán trực tuyến đã giúp cho khách hàng và doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi  
phí và thời gián đồng thời đẩy nhanh tốc độ giao dịch trong hoạt động tài chính, kế toán.  
- Tác động đến hoạt động ngoại thương: Nhờ ứng dụng thương mại điện tử mà việc tiến hành các  
hoạt động ngoại thương ngày càng trở lên dễ dàng hơn. Ngoài ra thương mại điện tử giúp doanh  
nghiệp giảm được rất nhiều thời gian bao gồm chi phí đi lại, chi phí giao dịch, chi phí cho trung gian.  
Triển khai thương mại điện tử giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh chóng với tất cả thị trường  
trên toàn cầu với chi phí thấp nhất mà không phải qua bất kỳ trung gian nào.  
Hình 3: Đánh giá của các doanh nghiệp về hiệu quả của các hính thức ứng dụng thương mại điện tử năm  
2015 - 2016  
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2017  
Qua kết quả nghiên cứu sự đánh giá về tính hiệu quả của việc ứng dụng TMĐT trong hoạt động  
kinh doanh của doanh nghiệp năm 2016 có xu hướng tăng rất nhiều so với năm 2015. Các doanh  
nghiệp đang đánh giá cao nhất việc ứng dụng website của doanh nghiệp và qua mạng xã hội.  
3. Vai trò của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp  
- Tăng doanh thu cho doanh nghiệp: Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp tiếp cận tối đa  
khách hàng tiềm năng trên phạm vi thị trường rộng lớn trong và ngoài nước. Ngoài ra thương mại điện  
tử còn giúp cho doanh nghiệp chủ động tìm kiếm và tiếp cận với khách hàng một cách nhanh chóng và  
tiện lợi, từ đó đẩy nhanh việc bán hàng và tăng doanh thu cho doanh nghiệp.  
117  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Hình 4: Doanh số từ thương mại điện tử B2C tại Việt Nam năm 2014 - 2016  
Nguồn: Báo cáo của Bộ công thương năm 2016  
Hình 5: Số lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ mua sắm trung bình của mỗi cá nhân  
Nguồn: Báo cáo của Bộ công thương năm 2016  
- Giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất: Các văn phòng không giấy tờ (paperiess office)  
chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu  
in ấn hầu như được bỏ hẳn). Kinh doanh trực tuyến không phải chịu áp lực mở rộng thị trường về mặt  
địa lý để tiếp cận trực tiếp khách hàng nên doanh nghiệp có thể cắt giảm chi phí thuê mặt bằng, nhân  
công. Mặt khác, kinh doanh trực tuyến còn giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm thiểu đáng  
kể thời gian và chi phí giao dịch. Vấn đề của các doanh nghiệp Việt lúc này là xây dựng niềm tin và  
hình thành thói quen mua sắm trực tuyến cho khách hàng và tăng cường khâu quản lý hàng tồn kho.  
Theo những nghiên cứu gần đây cho thấy việc giao dịch thông qua internet có chi phí chỉ bằng 7% chi  
phí khi giao dịch bằng Fax và bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo hình thức thông thường.  
- Giúp doanh nghiệp giảm chi phí marketing: TMĐT giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi  
phí tiếp thị. Bằng phương tiện Iternet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất  
nhiều khách hàng, catalogue điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với  
catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời. Ngoài ra bán hàng thông qua thương  
mại điện tử còn giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí cho các trung gian phân phối.  
- Tăng chất lượng dịch vụ khách hàng: Sử dụng các tiện ích của TMĐT doanh nghiệp có thể  
nhanh chóng cung cấp cho khách hàng các catalogue, brochure, bảng giá, hợp đồng một cách gần như  
tức thời. Bên cạnh đó với Website bán hàng của mình doanh nghiệp tạo điều kiện cho khách hàng có  
cơ hội lựa chọn sản phẩm phù hợp với đầy đủ thông tin mà không cần thiết phải tới tận tay trụ sở hay  
xưởng sản xuất của doanh nghiệp. Sau khi bán hàng, doanh nghiệp cung cấp hàng sử dụng các tiện ích  
của TMĐ để triển khai các dịch vụ chăm sóc khách hàng một cách nhanh chóng và tức thời. Các hỗ trợ  
cho khách hàng về sử dụng sản phẩm, dịch vụ có thể được tiến hành trực tuyến trên mạng giúp giảm  
thiểu thời gian và chi phí của cả doanh nghiệp và khách hàng.  
118  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
- Giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kỳ cách mạng công  
nghệ 4.0: Nếu như không có TMĐT thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ và rất nhỏ sẽ rất khó khăn trong  
việc cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn vì khoảng cách về vốn, thị trường, nhân lực, và khách hàng.  
Khi ứng dụng TMĐT khoảng cách này sẽ bị thu hẹp lại do bản thân doanh nghiệp đó có thể cắt giảm  
nhiều chi phí. Hơn thế nữa với lợi thế của kinh doanh bán hàng qua mạng sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo  
ra bản sắc riêng về một phương thức kinh doanh mới khác với hình thức kinh doanh truyền thống. Chính  
những điều này sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp đặc biệt là các  
doanh nghiệp vừa và nhỏ thậm chí là rất nhỏ trong cuộc canh tranh với đối thủ của mình.  
4. Kết luận và kiến nghị  
Qua việc nghiên cứu những kết quả thu được của một số doanh nghiệp triển khai hoạt động  
TMĐT, ảnh hưởng của thương mại điện tử đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp  
chúng ta thấy được những đóng góp to lớn của TMĐT mang lại cho doanh nghiệp như sau: Tăng  
doanh thu nhờ mở rộng quy mô thị trường và khả năng tiếp cận với khách hàng dễ dàng hơn; Giúp  
doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, marketing và tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa  
và nhỏ;  
Tuy nhiên với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ và đặc biệt là sự phát triển của công  
nghệ thông tin thì việc các doanh nghiệp ứng dụng TMĐT trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn  
khá thấp so với tiềm năng của thị trường. Để nâng cao việc ứng dụng thương mại điện tử trong các  
doanh nghiệp và sử TMĐT một các hiệu nhất tôi đưa ra một số kiến nghị sau:  
- Các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT cần phải xây dựng được thương hiệu về chất lượng sản  
phẩm và đạo đức trong kinh doanh; các thông tin về sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp phải đúng  
với thực tế.  
- Các chương trình đào tạo của các trương đại học nên triển khai đào tạo về TMĐT một cách  
phổ biến hơn nữa, điều đó sẽ góp phần cho sự phát triển của TMĐT.  
- Nhà nước cần có các chính sách pháp lý để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dùng khi  
tham gia TMĐT.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lưu Đan Thọ & Tôn Thất Hoàng Hải (2016), “Thương mại điện tử hiện đại – Lý thuyết và tình huống ứng  
dụng của các công ty Việt Nam”, nhà xuất bản Tài Chính.  
2. PGS.TS.NGƯT Nguyễn Văn Hồng & TS. Nguyễn Văn Thoan (2013), "Giáo trình thương mại điện tử”, Nhà  
xuất bản Bách Khoa – Hà Nội,  
3. Bộ môn thương mại điện tử (2009), “Giáo trình thương mại điện tử căn bản”, Nhà xuất bản Đại học Ngoại  
thương - Hà Nội.  
4. Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam (2018), “Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam”,  
5. Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam (2017), Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin;  
6.  
tháng 11 năm 2017  
7.  
nam-68104.html  
119  
pdf 7 trang baolam 26480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_thuong_mai_dien_tu_trong_hoat_dong_kinh_doanh_cu.pdf