Tản mạn về chữ và nghĩa của Truyện Kiều qua một vài trường hợp

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN  
Soá 1 (26) - Thaùng 1/2015  
TẢN MẠN VỀ CH  VÀ NGH A CỦA             
QUA MỘT VÀI TRƯ NG H P  
NGUYỄN CÔNG LÝ (*)  
TÓM TẮT  
          ề  uấ   ộ         ểu  ó k    so  ớ         ểu  ư    y  ề  ộ            o   
T uy   K ều  ủ        o T  N ư. Đó   :  răm năm b    ạ    é     ĩ     ớ   ạ   ủ   ộ  
k      ườ     ò   ó    ĩ   k oả     ờ            sử  ừ    ả  qu                  s    
 ũ    ừ  k oả   100    : L   ạ   Tây S    N uy   s  ; Đ u l ng     T uý K ều    T úy  
Vâ      o   ầu  ò    ủ       ì      Vư                    e  so   s   ; K uôn trăng hay  
K uôn lưng?   u    K uô          ì  ả  é   ặ   ủ  T úy Vâ   ư    ắ    ẹ      s    sủ   
 ầy  ặ     ú   ậu;  ò  K uô   ư                ả d    dấ  k ổ   ườ   ủ  T úy Vân; Nét  
ngài              ả  é   ô     y hay d      ườ    ẻ   ườ   ủ  T úy Vâ   Né   ô     y s o  
 ạ   ở                k ô    ồng tình với cách hiểu   ư  ư    y      ề        ểu  ây    
            u  ả d      ườ   ầy  ặ     ú   ậu  ủ  T úy Vâ ; Cu    ù      so s         
 ộ     n  ủ  K   T     ( âu 536)  ớ    n  ủ  Sở K     ( âu 10 4)           ộ     y  
 ó k     ì k ô    dù       ộng của cả hai nhân vậ    y  ều  é   ú     ười ngoài không ai  
hay bi t.  
T  khóa: Truy n Kiều             ầu  ò    k uô          é         ẻn.  
ABSTRACT  
The article proposes a different interpretation from the traditional comprehension of a  
few wo ds of To N u  oe  s T  e of K eu. T     s: fo  a hundred years besides meaning  
'limit of a lifetime', it also means 'period of history that has undergone and the poet was  
       jus   bou  100 ye  s: Le s f        T y So   N uye    e-dynasty' ; Thuy Kieu and  
Thuy Van were the first born of the Vuong family, ie. twin sisters; Face or back? if it is the  
f  e  T uy V   s f  e  s des   bed f es   be u  fu   b         u    k  d; If     s   e b  k     
de    s T uy V   s  os u e   d body bu  d; Is      e fe  u e of T uy V   s eyeb ows  o  
mien? Why are eyebrows robust? The article does not agree with this so-far interpretation  
so it recommends that this proposes the detail of plump and hearted figure of Thuy Van;  
F     y      o    es K   T o   s s e k    ( e se 536)  o So K     s s e k    ( e se  
1094). Are these two actions different? Though the actions of both characters are sneaky,  
outsiders do not know.  
Keywords: Tale of Kieu, a hundred years, first born, face, mien or eyebrows, sneaking.  
(*)Bàn về chữ nghĩa T uy   K ều, về tài  
năng sử dụng ngôn ngữ của thi hào Tố Như  
trong Đoạ    ườ    â        xưa nay đã có  
rất nhiều người đề cập đến, tính ra đã có  
hàng trăm lời bàn. Chữ nghĩa của cụ Tố  
Như thật đúng là  Lờ   ờ    âu            
      ấ     u”. Ở đây, tôi chỉ nêu vài suy  
nghĩ của mình về cách hiểu nghĩa của một  
vài từ ngữ trong T uy   K ều qua mấy  
trường hợp mà thôi (khi trích thơ K ều,  
(*)PGS.TS, Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM  
32  
chúng tôi dùng bản của Nguyễn Thạch  
Giang khảo đính chú thích, Nxb ĐH và  
THCN, HN, 1973).  
cũng thừa nhận và chắc Nguyễn Du cũng  
thừa biết rằng Thuý Kiều khổ đau, bất hạnh  
là do xã hội phong kiến gây nên, nhưng thi  
hào lại đổ lỗi cho T ờ , nàng khổ là do s  
    , nàng là người      o  lại  ồ        
nên phải bạ    ậ  và  oả      :  C   
T       M    k éo      é     u”. Đó cũng  
là ý nghĩa câu nói của Nho gia  Tạo  ậ     
 ồ       ”   T         ư      ”. Đây là  
vấn đề tư tưởng của thời đại mà Nguyễn  
Du là người tổng kết và phát biểu. Hiện  
thực cuộc sống đã chứng minh điều này.  
Thời đại xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVIII  
– đầu thế kỷ XIX đầy biến động, bão táp,  
nhưng xuất hiện rất nhiều người tài giỏi, tài  
hoa mà Nguyễn Du là một trong số những  
con người ấy. Điều này cũng có thể dùng  
để lý giải tại sao cả cuộc đời của nhà thơ là  
những chuỗi dài nỗi buồn không nói thành  
lời,  ỗ  buồ      bạ   ó  (b  bạ       )1,  
ông làm quan cho nhà Nguyễn tuy có thăng  
tiến nhanh nhưng vẫn buồn, vẫn im lặng,  
ngay cả trước khi từ giã cõi đời cũng  
không trối trăng điều gì! Thực tế lịch sử xã  
hội và cuộc sống mà nhà thơ đã chứng  
kiến, trước và sau nhà thơ đã có bao nhiêu  
người tài hoa đều sống một cuộc đời gian  
truân hay bất hạnh với số phận chẳng ra gì  
đó sao! Bản thân nhà thơ cũng từng  ườ  
      ó b  , nay đầu sông mai cuối bể, đói  
rách, ăn nhờ ở đậu, bệnh đau suốt mấy  
tháng không tiền thuốc men, bếp núc lạnh  
tanh hàng tháng trời không có gì nấu, thân  
xác tiều tụy      ò  d  b    ấy  ư      o   
1. Trước hết là chữ  T       ”  
(侓↥) trong câu thơ mở đầu tác phẩm:  
T          o         ườ      
C                k éo      é     u.  
Hai câu thơ trên rồi sáu câu tiếp theo là  
lời phát đoan mang tính thuyết giải về cảm  
hứng chủ đạo, về đề tài và nguồn gốc câu  
chuyện. Có thể xem đó là lời tuyên ngôn  
nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du. Lời  
tuyên ngôn ấy biểu hiện nội dung triết lý,  
có giá trị tổng kết, rồi trên ba ngàn câu tiếp  
theo là sự minh hoạ cho tư tưởng triết lý  
đó. Đây là dấu vết của hiện tượng văn -  
triết bất phân, mà dấu vết này, này có liên  
quan đến tư duy nghệ thuật của các tác giả  
thời trung đại.  
Đúng là về tư tưởng, T uy   K ều vẫn  
còn mang nặng tư tưởng, thế giới quan của  
ý thức hệ chính thống: Nho – Phật – Lão-  
Trang với giải pháp tu tâm, về chữ N      
cùng thuyết  uâ   ồ  của nhà Phật. Sâu xa  
hơn, điều mà thi hào để tâm trí nhiều hơn  
cả là nêu ra nguyên nhân nỗi oan khổ đầy  
bi kịch và bất hạnh của nhân vật chính do  
s       mà Trời đã sắp đặt sẵn, con người  
không thể vùng vẫy thoát ra được. Đó  
chính cái thuyết T          cùng triết lý  
T         ư       và quan niệm T    o  
 oả        Hồ        bạ    ậ  của Nho  
gia mà Nguyễn Du đã dùng để lý giải số  
phận nhân vật. Lời tuyên ngôn ấy đủ để  
chứng minh rằng ngay từ đầu Nguyễn Du  
đã muốn giải quyết những vấn đề hiện thực  
xã hội bằng loại hình tư tưởng mang tính  
chính thống của ý thức hệ phong kiến. Ai  
1 Trong ba tập thơ chữ Hán: T     H      ề   ậu     
 ậ    ắ        ạ       N     u    ạ    â ,  
Nguyễn Du đã có trên mấy chục lần nhắc đến chi  
tiết tóc bạc. Ví dụ: T     sĩ bạ    ầu b   ướ   
thiên hay T  u    u bạ         ộ   o    uy   . ..  
33  
      ườ    o     ầ  đó sao! Thật là bi  
đát ! Hiện thực ấy đã được nhà thơ đúc kết:  
T          o         ườ     và T ả  qu  
 ộ   uộ  bể dâu  N       ều   ô     ấy  
     u  ớ   ò  . Chữ          lâu nay  
các nhà nghiên cứu đều hiểu với cái nghĩa  
là giới hạn c a m t kiếp người. Cổ nhân  
thường bảo   â  s    b     u . Sách L  ký  
có viết N â  s    dĩ b              k  (Đời  
người sống đến một trăm năm là đủ kỳ  
hạn). Nhưng tôi nghĩ thêm,          còn  
có nghĩa là khoảng thời gian lịch s    a  
trải  ua mà nhà th  đ   à đang chứng  
kiến  Hậu Lê mạt – T y   n – Nguy n  
s  cũng vừa khoảng một trăm năm. Câu  
thơ mang một thời gian rộng lớn và một  
không gian bao la:       ườ    . C i người  
chứ kh ng phải c i nào khác! Mà thời  
gian, không gian ấy lại là  ộ   uộ  bể dâu  
(  ư     ả         ề ), chứ chẳng phải êm  
đềm, bình lặng.  T       ” trong   uộ  
bể dâu” kia, con người với số phận      
T       M    k éo      é     u” ấy nên  
phải gánh chịu một số kiếp nghiệt ngã, số  
phận phũ phàng:  Lạ  ì b  sắ   ư   o    
T ờ       que    ó      ồ          e ”.  
Cái xã hội ngày ấy không thể chấp nhận  
những con người như Thuý Kiều, như  
Nguyễn Du… vì thế cũng không có chỗ để  
cho những tài tử, giai nhân dung thân. Đau  
đớn thay và cũng lạ lùng thay! Những dòng  
thơ miêu tả tài sắc của Kiều dường như  
cũng là lời tác giả dự báo số phận của  
nàng. Kiều đã cất tiếng than cho số kiếp  
mình: N  ì    u bạ        ộ   ờ       o  
hay T    ì        ắ    o   ờ   ấ    e .  
Hoặc nhà thơ đã cất tiếng than khóc cho  
thân phận nàng: Rằ    ồ             uở  
 ư   C     ều bạ        ó   ừ      âu; có  
khi còn thống thiết hơn: Đ u  ớ     y  
  ậ      b   Lờ   ằ   bạ        ũ      
 ờ    u  . Có thể thấy quy luật    ừ    ừ”  
của tạo hoá với quan niệm  b  sắ   ư  
  o  ” (kém cái này thì được cái kia) và  
quan niệm       o   oả      ”   ồ   
     bạ    ậ ” của thuyết T          đã  
chi phối toàn bộ cuộc sống cá nhân con  
người. Triết lý này được dùng để giải thích  
những tấn bi kịch của những tài năng dưới  
chế độ xã hội phong kiến, đồng thời đó còn  
là một yếu tố đậm nét trong lịch sử tư  
tưởng, lịch sử văn học thời phong kiến. Bắt  
nguồn từ tư tưởng ấy, nhìn hiện thực cuộc  
đời dâu bể mà Nguyễn Du đã đúc kết một  
vấn đề lớn của thời đại xã hội để xây dựng  
thành công bi kịch thân phận con người.  
Về mặt chủ quan, có thể Nguyễn Du muốn  
phát biểu một tư tưởng chính thống, nhưng  
do hiện thực xã hội khách quan đã giúp cho  
người trí thức ưu tú của dân tộc có cái nhìn  
khác, suy nghĩ khác và do vậy phản ánh  
khác. Hiện thực khách quan vượt lên trên ý  
muốn chủ quan của tác giả. Chính hiện  
thực này đã là cái mốc trong văn học mà  
Nguyễn Du là người đã cắm cái mốc để tạo  
nên sự phát triển ấy. Hiện thực  ộ   uộ  bể  
dâu mà nhà thơ đã mục kích         ều  
  ô     ấy nên đã   u  ớ   ò  , đã thương  
cảm sâu sắc và cất tiếng kêu trầm thống  
cho thân phận cá nhân con người. Phải  
chăng đó còn là tiếng kêu của chính thân  
phận cá nhân nhà thơ? Cho nên theo tôi, có  
lẽ cần hiểu chữ          theo hai cấp độ  
nghĩa như trên.  
34  
  y  ả   ”  có vẻ ít được coi trọng? Kiều  
và Vân là cặp song sinh, nên nhà thơ mới  
viết   ầu  ò  ”. Nếu Kiều ra đời trước,  
lớn hơn Vân một vài tuổi, chắc chắn vị thi  
hào đã không giới thiệu như thế. Dung mạo  
chung của hai chị em đều đẹp, một vẻ đẹp  
thanh thoát đáng yêu! Có cốt cách thanh  
cao của hoa mai, có phẩm cách tinh thần  
trong trắng của tuyết. Mỗi nàng có nét  
diễm lệ, mỹ miều riêng   ỗ    ườ   ộ  
 ẻ” và cả hai đều toát lên vẻ đẹp toàn thiện  
toàn mỹ   ườ    â   ẹ   ườ ”, không  
còn chỗ nào để người đời phẩm bình, khen  
chê qua việc sử dụng nhiều tiểu đối, các ẩn  
dụ tu từ, so sánh, nhân hóa hình tượng  
thiên nhiên khi giới thiệu chung cũng như  
khi miêu tả chân dung hai chị em Kiều.  
3. Tiếp theo là đoạn thơ miêu tả Thuý  
Vân:  
2. Thứ đến là chữ Đầu  ò   (頭⚸)  
trong đoạn thơ giới thiệu, miêu tả hai chị  
em Kiều:  
Đầu  ò       ả         
T uý K ều         e     T uý Vâ .  
Mai            uy          ầ   
Mỗ    ườ   ộ   ẻ   ườ    â   ẹ  
 ườ .  
Trước mấy câu thơ trên, thi hào  
Nguyễn Du đã viết:  
Mộ        o           ò    
Vư    Qu              dò   N o    .  
Rõ ràng nhà thơ lớn của chúng ta cũng  
không thể thoát khỏi quan niệm của Nho  
gia:       ô      y”             k     
  ”. Chàng Vương là con trai độc nhất  
  ộ      ” và là người nối dõi tông đường,  
lại là con út   o           ò  ”.  R  ” (ᦧ)  
từ cổ địa phương xứ Nghệ, có nghĩa là  
 u     ậ   ù         s u   t. Là con thứ,  
con út, là em nhưng vì là nam giới nên  
được coi trọng, cần phải được giới thiệu  
trước. Còn Kiều và Vân dù là chị, là nữ  
giới nên phải giới thiệu sau! Thế mới biết  
cái quan niệm của Nho gia đã in đậm trong  
dấu ấn tâm lý của con người Á Đông như  
thế nào! Ngay cả hôm nay, xã hội văn  
minh, tư duy chúng ta có thay đổi, đổi mới  
nhưng cũng có không ít người, kể cả trí  
thức, còn chịu ràng buộc bởi quan niệm ấy!  
Khi cụ Tố Như viết  Đầu  ò       ả    
   ” thì đích thị Thuý Kiều và Thuý Vân  
là con đầu lòng, lại là con gái      ả    
   ”, tức hai chị em sinh đôi.  Ả” (妸) là  
tiếng chỉ     b   o      nói chung, cũng  
có nghĩa là    . Nhưng biết đâu ngoài nét  
nghĩa này, nó còn có nét nghĩa mang sắc  
thái biểu cảm như người đời thường nói  ả  
Vâ   e              k     ờ   
K uôn trăng  ầy  ặ   nét ngài  ở  
nang.  
Ho   ườ             o          
Mây   u   ướ   ó    uy     ườ     u  
da.  
Ở trên, khi giới thiệu, nhà thơ giới  
thiệu Kiều trước, Vân sau  T uý K ều    
     e     T uý Vâ ” nhưng khi đi vào  
miêu tả thì lại tả Vân trước, Kiều sau. Sự  
thay đổi vị trí này là có dụng ý nghệ thuật  
của cụ Tố Như mà trước đây đã có nhiều  
nhà nghiên cứu bàn đến. Miêu tả vẻ đẹp  
của Vân là để tôn vinh vẻ đẹp vượt trội của  
Kiều. Đây là nghệ thuật miêu tả dùng  
  ư          ò  bẩy hay   ư         
bồ    ấ  với bút pháp phác họa, ngôn ngữ  
ít nhiều có tính ước lệ công thức, cực tả  
tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa. Nguyễn Du  
35  
miêu tả Thúy Kiều chỉ với hai chi tiết:     
  u   uỷ   é   uâ  s  ; còn miêu tả Thuý  
Vân có đến sáu chi tiết trong bốn câu thơ:  
k uô          é            ườ          ó   
     ó       d . Và nói chung, theo nhà thơ  
đó là vẻ đẹp               o        . Điều  
tôi muốn đề cập ở đây, và có thể thắc mắc  
cũng được là mấy chữ k uô          é  
      ở     .  
trơn tru như tạo hóa đã sẵn sàng trải thảm  
đỏ cho nàng bước đi trên con đường đời.  
Còn chi tiết  é        ở       Xưa  
nay, trong rất nhiều bản Kiều chữ Quốc  
ngữ, kể cả Từ   ể  T uy   K ều của cụ Đào  
Duy Anh đều chú thích rằng: ngài     o  
bướ   ằ . Nét ngài    bở      tàm my  
(  y  ằ )       é   ô     y  o     ậ     
     . C    ô     y  ẹ   ó    u  . Có  
phải  é       trong câu thơ này cụ Nguyễn  
Du miêu tả  é   ô     y của Thuý Vân  
không? Nếu hiểu chi tiết này là miêu tả nét  
lông mày thì sang mấy câu thơ sau, một lần  
nữa cụ Nguyễn lại miêu tả nét lông mày  
của Kiều: L     u   uỷ   é   uâ  s  , mà  
theo tôi nghĩ miêu tả như thế e rằng sẽ có  
sự lỗi lặp. Đôi mắt nàng Kiều trong như  
nước hồ thu; Nét lông mày của Kiều tươi  
như dáng núi mùa xuân. Câu này không có  
gì để nghi vấn, nhưng ý mà tôi muốn nói là  
chẳng lẽ cụ Nguyễn đã lặp lại chi tiết khi  
miêu tả giai nhân? Vì nghi ngờ nên trong  
nhiều năm nay, khi có dịp, tôi tìm mượn  
các bản Kiều Nôm, giở ra xem tôi mới thấy  
trong 13 bản Nôm được đọc, đa phần (trên  
2/3 bản) chép chữ      như sau: ʚ, hoặc  
Chi tiết k uô        (匡㎞) có nhiều  
bản Kiều chữ Nôm chép là k uô   ư   
(匡艞). Nếu là k uô   ư   thì đây là chi  
tiết miêu tả dáng dấp / dáng vẻ, khổ người /  
dáng người Thuý Vân; còn k uô        là  
chi tiết miêu tả khuôn mặt của nàng. GS.  
Đặng Thanh Lê trong chuyên luận T uy   
K ều      ể  oạ    uy   Nô  và G ả       
T uy   K ều thì cho rằng  T o   b    âu  
th   ả T uý Vâ …  N uy   Du   ườ   sử  
d            ô   ”  ì    ượ   k uô  
 ẫu que    uộ     ậ    í  ô           a  
cười  ng c t  t    uôn trăng  nét ngài  .  
Đồ     ờ   N uy   Du  ã  ư    o  ộ  s  
 ừ      ô       ư    ộ            ĩ   
       ừ     đầy đặn, nở nang k ô       
   u  ả k uô   ặ    ư          ò        
 é            bạ            ủ  T uý Vâ  
    ây  ò     s   ầy  ặ       ã   ủ  s  
  ậ    ủ   uộ   ờ      …”2. Có thể nói  
thêm, chi tiết k uô         ầy  ặ  miêu tả  
khuôn mặt Thuý Vân tươi tắn, sáng sủa,  
đầy đặn, toát lên một vẻ đẹp phúc hậu, vẻ  
đẹp hiền dịu như ánh trăng tỏa rạng. Chi  
tiết này còn là chi tiết miêu tả để dự báo  
cuộc đời số phận của nàng thật êm đềm,  
có bản chép ʛ, tự dạng này theo cách đọc  
Nôm là ngài hoặc người với hai nét nghĩa:  
1. d      ườ    ẻ   ườ ; 2.          và  
như vậy ý thơ sẽ miêu tả dáng     khổ  
người  dáng người c a Thuý V n. Cụ thể  
là những bản Kiều của Abel des Michiels  
(1  4), bản Quan Văn đường (Tự Đức Kỷ  
Mão 1 7 ), bản Quan Văn đường (Thành  
Thái Bính Ngọ, 1 0 ) v.v.. đều chép chữ  
ngài ʚ / ʛ như trên. Trong khi đó có một  
số bản khác thì chép chữ      獋; tự dạng  
2 Đặng Thanh Lê, G ả       T uy   K ều, Nxb  
Giáo dục, Hà Nội, tb lần thứ 4, 2001, tr.23-24.  
36  
này đọc là ngài với nét nghĩa  o         o  
bướ   ằ  và như vậy hiểu với cái ý miêu  
tả nét lông mày của Thuý Vân; mà hiểu  
theo cách này như xưa nay các nhà nghiên  
cứu đã hiểu, kể cả T    ể  T uy   K ều của  
học giả Đào Duy Anh cũng chú thích như  
thế, mà ở trên tôi có nêu. Nhưng theo tôi,  
nếu hiểu theo nghĩa: ngài là com bướm  
tằm, chỉ lông mày của Thúy Vân thì lại lỗi  
lặp về ý. Tài năng bậc thầy như cụ Tố Như  
chắc sẽ không có sự lỗi lặp như thế. Cho  
nên từ rất lâu tôi vẫn có chủ ý hiểu chi tiết  
trên là miêu tả dáng người Thuý Vân, một  
dáng người đầy đặn, phúc hậu, dự báo một  
số phận suôn sẻ, hạnh phúc, sống cuộc đời  
êm đềm bình lặng, phong lưu, phú quý ít ai  
bì kịp. Và khi giảng bình trên lớp học, tôi  
thường nêu ra hai cách hiểu như trên, trước  
khi nói chủ kiến của mình. Còn chữ  ở  
nang (欑囊)? Theo cụ Nguyễn Thạch  
Giang khi khảo đính, chú thích T uy   
K ều  cụ hiểu chữ  ở      là tươi t n và cụ  
dẫn câu Kiều thứ 24 2 Nở        y  ặ   
 ỡ       ẹ    . Đúng là trong câu thơ này  
phải hiểu chữ  ở      là rạng rỡ, hớn hở,  
phấn khởi, có ý tươi tắn, như người ta  
thường nói  ở   y  ở  ặ  là có nghĩa như  
thế. Nhưng ai cấm nếu có người hiểu theo  
cách khác? Các quyển Đạ  N   quấ  â  
      của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đạ   ừ  
  ể  T     V    của Nguyễn Như Ý, Từ  
  ể  T     V    của Viện Ngôn ngữ học,  
đều không giải thích chữ  ở      với nét  
nghĩa là  ư    ắ   mà nở nang là nở nang.  
Nét lông mày của phụ nữ mà   ở     ”  
thì còn gì là đẹp? Các chị các bà vẫn  
thường đến mỹ viện tỉa hoặc se lông mày  
đó sao? Thơ Đường có câu P ù du     ư  
d        u   ư    để tả nét đẹp của nữ giới  
với vẻ mặt đẹp não nùng như đóa hoa phù  
dung và nét lông mày phải mềm mại thanh  
tú như lá liễu. Cho nên câu thơ trên theo tôi  
là câu thơ miêu tả vẻ mặt, dáng người phúc  
hậu của Thuý Vân, chứ không phải tả nét  
lông mày của nàng!.  
4. Cuối cùng là chữ  ẻ  (臍). Trong  
T uy   K ều, có hai lần cụ Nguyễn Du  
dùng chữ này cho hai nhân vật: một phản  
diện – Sở Khanh, và một chính diện – Kim  
Trọng. Vì thế nên hiểu hành động  ẻ  như  
thế nào cho đúng với tính cách của hai  
nhân vật đó?  
Câu thứ  3  viết về Kim Trọng, sau  
khi Kiều chủ động sang nhà Kim tâm tình  
cả ngày đến đêm, rồi hai bên thề nguyền  
đính ước với nhau, sau đó Kiều  ộ    ở  
buồ      u thì Kim vừa nhận   ư      ớ  
sang, báo tin thúc phụ quy tiên và chàng  
phải về Liêu Dương hộ tang, vì thế chàng  
đã mạnh dạn đánh liều b     ì   sang nhà  
Kiều để nói lời từ giã:  
Mả             ỗ  k     o     
      ì   l n   ướ                ì  .  
Có lẽ lúc này trống ngực của chàng  
Kim đập thình thình, rộn ràng, đầy lo âu;  
hoàn toàn khác với bước chân thoăn thoắt,  
đầy chủ động và tự tin của Thuý Kiều  
trước đó mấy canh giờ: X       b        
 ườ  k uy   ộ   ì  .  
Đó là hành động  ẻ  của chàng Kim  
Trọng. Còn l n của tên Sở Khanh thì sao?  
Sau khi Kiều bán mình, bị tên lưu manh họ  
Mã đưa về nhà chứa của mụ Tú Bà, biết bị  
lừa, quá nhục nhã, nàng rút dao tự vẫn, mụ  
chủ chứa sợ mất vốn nên ngon ngọt dụ dỗ  
Kiều, đưa nàng ra nghỉ ngơi tại lầu Ngưng  
37  
Bích với lời hứa sẽ tìm chỗ tử tế gã chồng  
cho nàng. Nơi đây, theo mưu mẹo của mụ,  
tên Sở Khanh đã đến dụ dỗ Kiều bỏ trốn,  
Kiều quá cả tin nên đã nghe lời hắn. Đúng  
hẹn, tên họ Sở đến đưa nàng chạy trốn vào  
giờ tuất (từ 1  giờ đến 21 giờ) đêm hai  
mươi mốt. Thư của Sở Khanh gởi cho Kiều  
có ghi:  R         t c  việt  ó         
 ề” (câu 10  ); và Kiều đã suy ra:  Lấy  
  o   ý       suy  N  y      ư        uấ  
  ì    ả        ” (câu 10   - 10 0); nếu  
chiết tự hai chữ  í        (昔越) thì sẽ rõ:  
  o    ó (…) Đ   k    ắ   ó         ờ  
k     k      ờ   ó   ủ  Sở K      ấ        
 ờ   ủ   ó   ủ   ộ       k       ư    ẫ  
k ô     ả      ờ       k     (…) S u k   
   e K ều kể  ô    ổ   ầu  uô    ì Sở  
K       ẩ    ẩ   ậ   ầu”  ấ             
   y  ờ   ó   ũ    ó  ẻ k o              
 ỗ    k        ờ   ó       s             
 ủ  Từ Hả  (…) Sở K              o    
qu    o     uy        ườ   ờ  s   ã   ã  
k ô   qu    Xé   ề      ộ b  ổ       â   
   o   ì  ó  ượ      ấ   ả       Sở K     
 ó   ậ     y   ướ        y   y. N ườ   ư  
 ó kẻ k e   ộ  b                  ó :  ừ  
k    ó b         ấy   ì   o          ạ  
k ô    ò   ó  ì                 . T   ũ   
 ó   ể  ó    ư  ậy  ề   â   ậ  Sở  
K    ”4. Tính cách của Sở Khanh thật đểu  
cáng, trâng tráo, bỉ ổi, lén lút, mờ ám nên  
mới có hành động l n như thế. Còn chàng  
quân tử phong lưu tài hoa Kim Trọng thì  
sao, mà cũng lại l n ? Cũng có hành động  
đến nhà Kiều trong đêm hôm khuya khoắt  
không ai hay biết, để tự tình với Kiều? Hai  
hành động của hai người không khác nhau  
là mấy, cũng đều là l n cả, nhưng động cơ  
và mục đích thì khác xa rất nhiều. Đã đành,  
đúng là Kim  ó  é   ú  ấy nhưng không  ờ  
   vì có chủ ý tốt, bởi chàng phải lên  
đường ngay để về Liêu Dương hộ tang chú  
cho kịp theo lời dặn của cha già đã ghi  
trong thư. Làm sao chàng ra đi mà không  
có lời từ tạ người yêu? Hơn nữa, chàng và  
nàng vừa mới thề nguyền với nhau có chị  
Hằng làm chứng kia mà! Cho nên, nếu trên  
góc độ ngôn ngữ hiểu theo trường nghĩa  
như nhau mà thoát ra ngoài văn cảnh cụ thể  
thì thiết nghĩ có chỗ khiên cưỡng, máy móc  
 í   (昔) gồm 3 chữ   ấ  /   ấ  (廾): hai  
mươi;   ấ  (一): một;   ậ  (日): ngày;      
(越) gồm 2 chữ  ẩu (走): chạy;  uấ  (戌) ở  
đây phải hiểu là giờ tuất – tuất thì), tức  
ngày 21 vào giờ tuất3 chạy trốn, lúc này thì  
Tườ    ô     y  ộ   bó         / R  so   
 ã   ấy Sở K     l n   o. Đây là câu thứ  
10 3 - 10 4 của T uy   K ều. Rồi sau đó,  
khi đưa Kiều đi trốn, Tú bà cho người đuổi  
theo bắt thì hắn lại quấ         uy   o  ,  
còn Kiều thì mắc bẫy! Lẻ  là một hành  
động đi vào nhà, vào cửa, lách thân mình  
một cách nhẹ nhàng, không gây tiếng động.  
Đây là hành động lén lút, mờ ám, không ai  
hay biết. Nhà phê bình tài hoa Hoài Thanh  
đã có lời bình rất đắc, rất hay về tên này:  
Sở K      ì   ề          ậ   ư     â  
(…); Sở K      ó      ẻ    ả    u   d u  
d   ”  ủ   ộ      N o. N ư      y  
  o    ì   d      ả    u   d u d     ã  ó  
 ộ       ì  ó  ỏ     ằ   Sở K     k ô   
  ả         N o   â    í  . Sở K      ó  
 ớ  K ều        ờ                  o   ư   
 ũ   k ó         ó  ộ    ú   ì      ĩ  
3 Giờ Tuất: tức từ 1  đến 21 giờ (7 đến   giờ tối).  
38  
và tội nghiệp cho chàng Kim quá!  
tôi chỉ tản mạn đề xuất một cách hiểu khác  
Về chữ nghĩa trong T uy   K ều thì  
còn nhiều điều thú vị để bàn nữa. Ở đây,  
ở vài chi tiết, thế thôi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Quan hải tùng thư xuất bản, Huế, 1943;  
khi tái bản có tên là Khảo luận về truy n Thuý Kiều, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1959.  
2. Đào Duy Anh, Từ   ển truy n Kiều, (viết xong 1965), Nxb KHXH, Hà Nội, 1974.  
3. Nguyễn Du, Truy n Kiều, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Văn học, Hà Nội, 1973.  
4. Nguyễn Du, Truy n Kiều, Đặng Thanh Lê giới thiệu và chú thích, Nxb Giáo dục, HN,  
1972.  
5. Nguyễn Du, Truy n Kiều, Hà Huy Giáp giới thiệu, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và  
chú thích, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973. *  
6. Hoài Thanh (1982)  uy n tập H ài   an , tập 2, NXB Văn học, HN, 1  2, tr. 101, 112,  
113.  
* Ngày nhận bài: 26/11/2014. Biên tập xong:  /1/201 . Duyệt đăng: 10/1/201 .  
39  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 21920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tản mạn về chữ và nghĩa của Truyện Kiều qua một vài trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftan_man_ve_chu_va_nghia_cua_truyen_kieu_qua_mot_vai_truong_h.pdf