Văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông trước yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam

VĂN HỌC NƢỚC  
NGOÀI  
TRƢỜNG TRUNG  
HỌC PHỔ  
Ở
Khoa Sƣ phạm Ngữ văn, Đại  
học Vinh  
THÔNG TRƢỚC  
YÊU CẦU ĐỔI  
MỚI GIÁO DỤC  
VIỆT NAM  
Điện thoại: 0912286549  
Email:  
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH  
TÓM TẮT  
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của  
thực tiễn, đƣợc xã hội đồng tình, hƣởng ứng. Song đổi mới nhƣ thế nào? Nguyên tắc cơ  
bản để đổi mới là gì? Đổi mới những gì?... Từ cách nhìn đó, bài viết phân tích, lý giải  
một số vấn đề, nhƣ: mục tiêu dạy, học văn học nƣớc ngoài ở trƣờng THPT; thực trạng  
của việc dạy học văn học nƣớc ngoài ở trƣờng THPT và nguyên nhân của nó. Từ đó, đề  
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lƣợng dạy, học văn học nƣớc  
ngoài ở trƣờng THPT, nhƣ: cấu trúc chƣơng trình, đào tạo bồi dƣỡng giáo viên, kiểm tra  
đánh giá kết quả học tập của học sinh.  
Từ khóa: văn học nƣớc ngoài, đổi mới, chƣơng trình  
ABSTRACT  
Foreign Literature Curriculum in High Schools in the Request  
of Innovation School Education in Vietnam  
Basic and total innovation school eduaction in Vietnam nowadays has become  
an urgent requirement of practical that is socially agreed and responded. However, how  
will we innovate? What is the basic principle of the innovation? What will we innovate?  
... Based on that view, this article analyzes as well as explains some issues such as the  
objective of teaching foreign literature, the status of teaching foreign literature and its  
causes. From that, this article suggests some proposed solutions to fundamental  
innovation, improvement the quality of teaching foreign literature in high schools, such  
as designing curriculum, training teacher and assessment.  
Key words: foreign literature, innovation, curriculum  
260  
Ở nƣớc ta, mục tiêu giáo dục phổ thông đã đƣợc xác định rõ trong Luật giáo dục  
(2005). Đó là đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức  
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa  
xã hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp  
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với mục tiêu đó, môn văn  
trong nhà trƣờng, trong đó có văn học nƣớc ngoài, có một vị trí đặc biệt quan trọng, góp  
phần trang bị cho học sinh một tƣ duy năng động, sáng tạo, có khả năng liên kết và giải  
quyết vấn đề, đề xuất các ý tƣởng độc đáo, giao tiếp và làm việc trong môi trƣờng rộng  
lớn, đa quốc gia.  
Từ rất sớm, trong chƣơng trình trung học ban hành lần đầu tiên (1956), áp dụng  
cho hệ thống giáo dục ở miền Bắc, văn học nƣớc ngoài đƣợc đƣa vào với tƣ cách là một  
phân môn bắt buộc. Điều này là hết sức cần thiết. Việc đƣợc tiếp xúc với nhiều nền văn  
hoá, tích luỹ đƣợc tri thức mới lạ sẽ giúp học sinh tự tin hơn khi tiếp xúc, giao lƣu, gia  
nhập vào một không gian sống mang tính toàn cầu trong tƣơng lai. Các tác phẩm nhƣ sử  
thi Ramamayana của Valmiky, thơ của Đỗ Phủ, M. Basho, kịch của W. Shakespeare,  
tiểu thuyết của V. Huygo, H. Balzac, E. Hemingway, truyện ngắn của M. Sholokhov…  
không chỉ mang lại cho các em những rung cảm thẩm mỹ trƣớc những áng thơ, văn bất  
hủ mà còn trang bị cho các em những tri thức văn hoá về đất nƣớc Ấn Độ, Trung Quốc,  
Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ, Nga,… Tầm hiểu biết, sự tự tin, tính năng động của các em,  
vì vậy cũng sẽ đƣợc tăng lên. Bên cạnh đó, nhiều vấn đề về lý luận văn học, mỹ học sẽ  
đƣợc nhận thức, bổ sung thông qua những tác giả, tác phẩm đặc sắc của văn chƣơng  
nhân loại. Đây có thể xem là một thế mạnh, một khả năng riêng của văn học nƣớc  
ngoài, chỉ có ở văn học nƣớc ngoài. Mặt khác, việc đƣợc học các hiện tƣợng văn học  
nƣớc ngoài bên cạnh văn học Việt Nam sẽ giúp các em nhận thức đƣợc những tƣơng  
đồng, khác biệt giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới. Từ đó các em có thêm lòng  
tự tôn dân tộc, tự tin hơn khi bƣớc vào giao lƣu hội nhập với bạn bè trên thế giới. Trong  
xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày nay, tính biệt lập, khép kín của các nền văn hóa,  
văn học đã bị phá vỡ. Thay vào đó là tiếp xúc, hội nhập. Trong bối cảnh đó, văn học  
nƣớc ngoài ở trƣờng THPT góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng tâm thế, tri thức  
cho những công dân toàn cầu trong tƣơng lai. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay ở  
trƣờng THPT, văn học nƣớc ngoài đang mất dần vị thế, ít nhận đƣợc sự quan tâm của  
ngƣời dạy, ngƣời học. Đó là một thực trạng đáng buồn.  
Kể từ ngày đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ  
của kinh tế, văn hoá xã hội, nhiều chuẩn mực giá trị đã thay đổi. Con ngƣời sống mạnh  
mẽ, năng động và cũng gấp gáp, thực dụng hơn. Lối sống coi trọng giá trị vật chất, xem  
nhẹ đời sống tinh thần vốn xa lạ với truyền thống phƣơng Đông, giờ đây có nguy cơ lan  
rộng, phổ biến trong xã hội, nhất là giới trẻ học sinh, sinh viên. Sự phát triển mạnh mẽ  
của khoa học kỹ thuật tạo ra những thay đổi nhanh chóng, đáp ứng nhiều nhu cầu trƣớc  
261  
mắt cho con ngƣời. Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội nhân văn không đƣợc coi trọng  
trong đời sống xã hội. Hậu quả của nó là môn văn trong nhà trƣờng ngày càng mất dần  
vị thế. Số lƣợng học sinh say mê học văn ngày một giảm, mặc dầu tình yêu văn chƣơng,  
khả năng văn chƣơng ở các em là rất lớn. Áp lực công việc khi vào đời, lối sống thực  
dụng, tâm lý đám đông đã lấn lƣớt niềm hứng thú văn chƣơng. Thực trạng này với văn  
học nƣớc ngoài còn tồi tệ hơn, mặc dù vẫn còn đó nhiều em học sinh yêu thích văn học  
nƣớc ngoài, nhận ra sự sâu sắc, mới lạ của văn học nƣớc ngoài. Với văn học Việt Nam,  
dù không muốn, các em cũng phải học, cho dù chỉ là đối phó. Học để làm bài kiểm tra,  
để vƣợt qua các kỳ thi. Văn học nƣớc ngoài không có đƣợc cái "may mắn" đó. Học sinh  
không cần học văn học nƣớc ngoài vẫn có thể ra trƣờng, vào đại học. Sự xem nhẹ môn  
văn, không quan tâm đến văn học nƣớc ngoài có nguyên nhân ở đó. Không thi, không  
học. Đó là lối hành xử phổ biến trong tuyệt đại bộ phần học sinh THPT hiện nay. Bên  
cạnh đó, sự giảm sút tình cảm nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của giáo viên cũng là  
một nguyên nhân không nhỏ dẫn tới tình trạng dạy, học văn nhƣ hiện nay. Những giáo  
viên say nghề, tâm huyết với nghề dạy văn dƣờng nhƣ càng ngày càng hiếm. Đó là một  
thực trạng đáng báo động cho nền giáo dục, và xa hơn là cho xã hội. Quay lƣng với văn  
học là quay lƣng với các giá trị làm ngƣời.  
So với văn học Việt Nam, việc dạy học văn học nƣớc ngoài ở trƣờng phổ thông  
có những thuận lợi, khó khăn riêng. Các tác phẩm đƣợc chọn học đều là những tác  
phẩm đỉnh cao của văn chƣơng nhân loại. Ở đó hội tụ nhiều tri thức văn hóa, văn học  
đƣợc chuyển tải trong những hình thức nghệ thuật mới, lạ, độc đáo. Không có tham  
vọng khai thác hết các tầng ý nghĩa của tác phẩm, song chỉ cần những định hƣớng, gợi  
mở của giáo viên, học sinh đã đƣợc tiếp xúc với những tinh hoa văn học thế giới, mà rất  
nhiều giá trị đặc sắc của nó không thể tìm đƣợc ở bất cứ ở nơi nào. Sự tinh tế, trữ tình  
trong thơ Đƣờng, sự thâm trầm đậm màu thiền trong thơ M. Basho; những phân tích  
tâm lý tinh tế, sắc sảo, đa chiều trong kịch W. Shakespeare, tiểu thuyết V. Huygo, H.  
Balzac, H. Hemingway, truyện ngắn M. Sholokhov,… có khả năng mang lại cho các em  
những rung động thẩm mỹ tinh tế, những nhận thức sâu sắc về con ngƣời, cuộc sống.  
Rất nhiều vấn đề, nhiều ý nghĩa không thể tìm thấy trong văn học Việt Nam. Đó vừa là  
ƣu thế, vừa là thách thức đối với ngƣời dạy, ngƣời học. Để hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu  
đƣợc những tác phẩm nhƣ vậy, giáo viên phải đƣợc trang bị một vốn tri thức về lịch sử,  
văn hoá, văn học phong phú, đa dạng. Làm sao giáo viên có thể lý giải đƣợc cho học  
sinh một cách thấu đáo cơn ghen và cách hành xử của nhân vật Rama trong đoạn trích  
Rama buộc tội (Văn 10) nếu không hiểu quan niệm về ngƣời anh hùng trong thời đại sử  
thi? Và cũng nhƣ vậy, làm sao thầy, cô giáo có thể giúp học sinh đọc hiểu thơ Haiku của  
M. Basho khi chƣa có vốn tri thức về văn hoá Nhật Bản truyền thống? Đây là yêu cầu  
mà không phải giáo viên nào cũng đáp ứng đƣợc. Làm thế nào để chiếm lĩnh đƣợc  
những thế giới nghệ thuật đặc sắc, đa dạng ấy? Và làm sao để chuyển tải đƣợc những  
262  
giá trị tƣ tƣởng – nghệ thuật đặc sắc ấy đến đƣợc các em? Hiểu đƣợc đã khó, hƣớng dẫn  
các em khám phá đƣợc càng khó hơn. Đó thực sự là những thách thức không dễ vƣợt  
qua đối với giáo viên THPT. Trong khi đó, công tác đào tạo bồi dƣỡng giáo viên văn  
THPT còn nhiều bất cập.  
Đội ngũ giáo viên văn đang trực tiếp giảng dạy môn văn ở trƣờng THPT hiện  
nay có nhiều thế hệ. Có những giáo viên đã đứng lớp gần 30 năm, bên cạnh đó là những  
giáo viên tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ. Họ lại đựợc đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều  
trƣờng khác nhau. Có những ngƣời đƣợc học ở những trƣờng có bề dày truyền thống  
trong việc đào tạo giáo viên văn học, nhƣ Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại  
học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sƣ phạm Huế... Song cũng có không ít  
giáo viên đƣợc đào tạo ở những trƣờng mà ngành sƣ phạm văn chƣa có nhiều thành tựu,  
đội ngũ giảng viên văn học nƣớc ngoài còn mỏng. Bên cạnh đó, chất lƣợng đội ngũ  
giảng viên, chƣơng trình đào tạo của các trƣờng đại học cũng rất khác nhau. Một thực tế  
là trong nhiều năm liền, có những trƣờng đại học sƣ phạm chƣa theo kịp sự thay đổi của  
chƣơng trình THPT. Nhiều nội dung có trong chƣơng trình phổ thông nhƣng chƣa đƣợc  
quan tâm nhiều trong chƣơng trình đại học. Văn học Nhật, là một ví dụ. Những kiến  
thức về M. Basho và thơ Haiku, và bao quát hơn là về văn hoá, văn học Nhật rất nhiều  
giáo viên phổ thông chƣa đƣợc trang bị. Tình hình này cũng diễn ra với một số tác giả,  
tác phẩm văn học Mỹ, văn học Ấn Độ. Trƣớc năm 1990, phần văn học Ấn Độ (mà trọng  
tâm là sử thi Ramayana và thơ R. Tagore) chỉ đƣợc giảng dạy ở một số trƣờng đại học  
sƣ phạm. Vì vậy, có một thực tế khá phổ biến hiện nay là rất nhiều giáo viên phải dạy  
những điều mình chƣa đƣợc học, thậm chí là chƣa từng biết. Họ chỉ còn biết dựa vào  
hƣớng dẫn giảng dạy, và chừng nào đó là một ít tài liệu tham khảo. Trong khi đó, công  
tác bồi dƣỡng giáo viên còn nhiều bất cập. Sự thiếu hụt những tri thức cơ bản về văn  
hóa văn học nƣớc ngoài, thêm vào đó là sự sụt giảm tình cảm nghề nghiệp ở giáo viên  
đã ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng dạy, học văn học nƣớc ngoài ở các trƣờng  
THPT. Đó vừa là hệ quả lại vừa là tác nhân dẫn tới việc văn học nƣớc ngoài trong nhà  
trƣờng ngày càng mất dần vị thế nhƣ hiện nay.  
Những phân tích trên đây cho thấy, việc dạy học văn học nƣớc ngoài ở trƣờng  
THPT hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập, cần phải thay đổi. Tuy nhiên, đây là điều  
không dễ, thậm chí là bất khả thi nếu chỉ có sự nỗ lực của riêng ngành giáo dục. Từ  
cách nhìn đó, trƣớc mắt theo chúng tôi, có ba vấn đề cần đƣợc quan tâm, thay đổi. Đó  
là: cấu trúc chƣơng trình, bồi dƣỡng giáo viên, kiểm tra đánh giá.  
Nhìn lại chƣơng trình môn văn ở THPT trong mấy chục năm qua, không khó để  
nhận ra nhiều đổi thay, biến động. Trong đó có những thay đổi thuộc về quan điểm giáo  
dục, cấu trúc chƣơng trình, có thay đổi thuộc về lựa chọn tác giả, tác phẩm. Trong  
chƣơng trình hiện hành, dù là chƣơng trình chuẩn hay chƣơng trình nâng cao, đều gồm  
năm bộ phận hợp thành: văn học Việt Nam, tiếng Việt, làm văn, văn học nƣớc ngoài, lý  
263  
luận văn học. Trong đó, số tiết văn học nƣớc ngoài chiếm một tỷ lệ không lớn, ít hơn rất  
nhiều so với văn học Việt Nam. Điều này là hợp lý. Song khi đặt trong tƣơng quan với  
hai phần tiếng Việt và làm văn thì dƣờng nhƣ ở đây có vấn đề, cần phải đƣợc trao đổi  
thêm1. Nhất là khi nguyên lý tích hợp đã đƣợc xem là nguyên lý căn bản để thiết kế  
chƣơng trình, định hƣớng giảng dạy, kiểm tra đánh giá. Từ chƣơng trình đầu tiên (1956)  
qua chỉnh lý (1979), hợp nhất, phân ban (1979 – 2000), chƣơng trình chuẩn, nâng cao  
(2001 – nay) đã có nhiều thay đổi. Các hiện tƣợng văn học đƣợc chọn học bao quát trên  
một diện rộng, có chiều sâu, gồm nhiều tác giả tác phẩm tiêu biểu của các nƣớc ở các  
châu lục, ở mọi thời đại. Điều đáng tiếc là cho đến nay, văn học Đông Nam Á, một khu  
vực văn học có bề dày truyền thống với nhiều thành tựu đặc sắc, còn chƣa có mặt trong  
chƣơng trình. Trong khi đó, từ thập niên 80 lại nay, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu  
rộng vào Đông Nam Á, khẳng định đƣợc vị trí của mình ở khu vực. Quá trình này đã  
đƣợc nhận thức là tất yếu trong xu thế hội nhập và phát triển đất nƣớc. Việc trang bị cho  
các em học sinh THPT những tri thức về văn hóa, văn học Đông Nam Á, vì vậy là rất  
cần thiết. Ý tƣởng về một chƣơng trình phổ thông linh hoạt đã đƣợc nhiều ngƣời nói  
đến, trong đó có môn văn. Tuy nhiên, dù có linh hoạt, "mở" đến đâu thì đều phải dựa  
trên một nguyên tắc cấu trúc cơ bản là phù hợp với mục tiêu giáo dục đã đƣợc luật định.  
Với cách nhìn ấy, chƣơng trình môn văn, trong đó có văn học nƣớc ngoài, cần giảm bớt  
những tri thức mang tính hàn lâm. Điều này vừa đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông  
vừa phù hợp với tâm lý, khả năng tiếp nhận của học sinh THPT.  
Để nâng cao chất lƣợng dạy học văn học nƣớc ngoài ở trƣờng phổ thông, việc  
bồi dƣỡng, đào tạo lại giáo viên là hết sức cần thiết. Nhận rõ điều này, nhiều năm qua  
bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức những đợt tập huấn, chuyên đề nhằm bồi dƣỡng và  
bổ túc kiến thức và phƣơng pháp giảng dạy cho giáo viên. Tuy nhiên, trên thực tế hiệu  
quả chƣa cao, còn rơi vào hình thức. Để có đƣợc kết quả, thiết nghĩ bộ Giáo dục và Đào  
tạo phải xem đây là một hoạt động thƣờng xuyên, bắt buộc hàng năm đối với giáo viên.  
Bên cạnh đó, chƣơng trình, nội dung bồi dƣỡng phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn  
trải. Ƣu tiên trƣớc hết là những tác giả mới, khó trong chƣơng trình văn học nƣớc ngoài.  
Sau mỗi đợt bồi dƣỡng phải có kiểm tra đánh giá cụ thể bằng những bài thi. Nếu giáo  
viên nào không đạt yêu cầu bắt buộc phải bồi dƣỡng lại. Để hỗ trợ cho giáo viên hoàn  
thành nội dung bổ túc, bồi dƣỡng kiến thức, bộ Giáo dục và Đào tạo nên hỗ trợ về kinh  
phí và có chế tài bắt buộc, xem đó là nhiệm vụ hàng năm của giáo viên. Một trong  
những vấn đề cốt lõi làm nên chất lƣợng cho những đợt bồi dƣỡng chuyên môn văn học  
nƣớc ngoài là đội ngũ giáo viên làm công tác bồi dƣỡng. Những đợt bồi dƣỡng thay  
sách, chuyên đề thƣờng niên do chuyên viên sở hoặc giáo viên các trƣờng (thƣờng là tổ  
trƣởng văn) tiếp thu ở bộ về bồi dƣỡng lại cho đồng nghiệp. Cách làm này có ƣu điểm là  
nhanh, đỡ tốn kém, tiết kiệm đƣợc thời gian, song kết quả không cao vì sự dễ dãi và cả  
sự bất cập về chuyên môn của những ngƣời lên lớp. Vì lẽ đó, thay vì cử chuyên viên của  
264  
sở, giáo viên THPT, bộ Giáo dục và Đào tạo nên yêu cầu các trƣờng đại học có đội ngũ  
giảng viên chuyên ngành văn học nƣớc ngoài có trình độ cao, có kinh nghiệm sƣ phạm  
trực tiếp lên lớp, bồi dƣỡng bổ túc kiến thức cho giáo viên, trƣớc hết là những phần  
mới, khó trong chƣơng trình. Xem đây không chỉ là bổ túc, bồi dƣỡng kiến thức mà là  
đạo tạo lại hàng năm theo một kế hoạch tổng thế, mang tính chiến lƣợc. Chỉ có nhƣ vậy,  
chúng ta mới có đƣợc một đội ngũ giáo viên THPT đủ sức đáp ứng yêu cầu về chuyên  
môn, nhất là ở một phân môn đòi hỏi một vốn kiến thức phong phú, đa dạng với tầm  
bao quát rộng nhƣ văn học nƣớc ngoài.  
Ở trên chúng tôi đã nói tới một thực trạng đáng buồn là lối sống thực dụng nhƣ  
một thứ bệnh dịch lây nhiễm vào nhà trƣờng và có xu hƣớng ngày càng trầm trọng.  
Không học, không thi; thậm chí với giáo viên không thi, không dạy, hoặc có dạy cũng  
chỉ là đối phó. Văn học nƣớc ngoài đang phải hứng chịu lối ứng xử ấy. Sự buông lỏng  
quản lý chuyên môn của các cấp quản lý giáo dục, vô hình trung đã hỗ trợ cho thứ bệnh  
dịch ấy phát triển, lây lan. Nhìn lại cấu trúc chƣơng trình môn văn THPT, một thực tế là  
hầu hết các bài học văn học nƣớc ngoài đều đƣợc bố trí vào cuối mỗi học kỳ, khi mà  
việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của các em về cơ bản đã hoàn tất. Điều  
đó cũng có nghĩa là, phần văn học nƣớc ngoài mặc nhiên đã bị loại ra khỏi nội dung  
kiểm tra đánh giá. Thêm vào đó, trong 24 bài làm văn (bao gồm cả trên lớp và ở nhà)  
không có một quy định bắt buộc nào dành riêng cho văn học nƣớc ngoài. Vì lẽ đó, tâm  
lý ngại khó, dễ dãi của giáo viên đã dẫn tới việc không có một bài tập làm văn nào của  
học sinh làm về văn học nƣớc ngoài. Thêm vào đó đề thi tốt nghiệp chỉ có một câu 2  
điểm (nhiều năm thuộc phần tự chọn) về văn học nƣớc ngoài dƣới hình thức kiểm tra  
kiến thức cơ bản (đúng hơn là sơ đẳng) về tác giả, tác phẩm. Học sinh không cần học  
văn học nƣớc ngoài cũng hoàn thành tốt bài thi. Là một phần khó học, khó nhớ, lại  
không phải kiểm tra, thi cử suốt trong ba năm THPT, học sinh không học cũng là điều  
dễ hiểu. Khi học sinh không học, và không ảnh hƣởng đến kết quả thi cử, đánh giá cuối  
cùng của học sinh, thầy cô sẽ không dạy, hoặc chỉ dạy cho xong. Đây là một thực trạng  
phổ biến trong các trƣờng THPT hiện nay. Làm thế nào để kéo các em trở lại với phần  
văn học nƣớc ngoài trong chƣơng trình, tạo hứng thú và áp lực cho giáo viên trong  
giảng dạy? Lời giải cho bài toán đó nằm ở chủ trƣơng, cách điều hành quản lý chuyên  
môn từ bộ Giáo dục và Đào tạo đến các trƣờng THPT. Việc sắp xếp lại hợp lý hơn cấu  
trúc chƣơng trình môn văn chúng tôi đã đề cập đến ở trên. Ở đây chỉ nói thêm về phần  
kiểm tra đánh giá. Thiết nghĩ việc cần làm và phải làm, trƣớc hết là trong phần kiểm tra  
đánh giá thƣờng xuyên nên có quy định bắt buộc phải có nội dung kiểm tra thuộc phần  
văn học nƣớc ngoài. Thi kiểm tra cuối kỳ bắt buộc phải có nội dung văn học nƣớc ngoài  
theo một tỷ lệ tƣơng ứng với các nội dung khác trong chƣơng trình môn học. Điều này  
là hợp lý. Để đảm bảo tính khách quan và tránh học trò học tủ, giáo viên dạy đối phó,  
các trƣờng nên xây dựng ngân hàng đề thi cho môn học. Trong đó, các phân môn đều có  
265  
nội dung kiểm tra đánh giá. Với phần tiếng Việt nội dung đánh giá là ở khả năng thực  
hành tiếng Việt (tổ chức văn bản, dùng từ, diễn đạt,…); với phần tập làm văn nội dung  
đánh giá là ở kỹ năng xử lý đề bài, cấu trúc bài viết; với phần lý luận văn học, nội dung  
đánh giá là khả năng vận dụng kiến thức lý luận trong phân tích tác phẩm. Theo hƣớng  
đó, cấu trúc đề thi sẽ toàn diện, theo đúng tinh thần mọi nội dung học đều đƣợc kiểm tra  
đánh giá. Kiến thức của các em theo đó cũng đầy đủ, toàn diện hơn. Đề thi học kỳ sẽ  
đƣợc thực hiện theo hình thức tổ hợp nhiều phần, bắt thăm ngẫu nhiên. Cách làm này sẽ  
có tác động tích cực đến ý thức học tập của học sinh và trách nhiệm giảng dạy của giáo  
viên, dễ làm, dễ thực hiện. Trong chƣơng trình thi quốc gia ở môn văn nên có nội dung  
thi bắt buộc phần văn học nƣớc ngoài. Điều này là phù hợp với lý luận và thực tiễn, góp  
phần vào quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ.  
Tình trạng lạc hậu, yếu kém của ngành giáo dục Việt Nam đã đƣợc nói đến  
nhiều trong các hội thảo khoa học, trên các diễn đàn xã hội. Đổi mới căn bản, toàn diện  
nền giáo dục trở thành một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn cuộc sống, đƣợc xã hội đồng  
tình, hƣởng ứng. Song hiện thực hóa quan điểm, chủ trƣơng ấy là điều không dễ. Nó đòi  
hỏi một sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, mà trƣớc hết là ngành giáo dục.  
Đổi mới dạy học văn ở trƣờng THPT, trong đó có văn học nƣớc ngoài, phải đƣợc nhìn  
nhận từ quan điểm ấy.  
Chú thích:  
1
Số tiết của các phân môn trong cấu trúc chƣơng trình môn Văn THPT (10, 11, 12) hiện nay nhƣ sau:  
Chƣơng trình chuẩn: 145 (VHVN), 114 (TLV), 42 (TV), 28 (VHNN), 4 (LLVH); Chƣơng trình nâng  
cao: 179 (VHVN), 105 (TLV), 45 (TV), 33 (VHNN), 8 (LLVH).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Nguyên Cẩn (chủ biên) (2006), Tác gia tác phẩm văn học nƣớc ngoài trong nhà  
trƣờng, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội.  
2. Nguyễn Văn Hạnh (2011), Giảng dạy văn học nƣớc ngoài ở trƣờng trung học phổ  
thông - Thực trạng và giải pháp (Khảo sát trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà  
Tĩnh), Mã số: B 2010 - 27 - 93.  
3. Tạ Đức Hiền (1998), Thơ văn nƣớc ngoài trên trang sách phổ thông trung học,  
Nxb Hải Phòng.  
4. Nguyễn Thị Lan (2010), Văn học nƣớc ngoài trong nhà trƣờng, Nxb Hội nhà văn,  
Hà Nội.  
5. Nhiều tác giả (2000), Những chân trời văn chƣơng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.  
6. Phùng Văn Tửu (2008), Cảm thụ giảng dạy văn học nƣớc ngoài, Nxb Giáo dục, Hà  
Nội.  
266  
pdf 7 trang baolam 21360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông trước yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoc_nuoc_ngoai_o_truong_trung_hoc_pho_thong_truoc_yeu_ca.pdf