Nhìn lại chương trình làm văn THCS và THPT hiện hành

THPT Hùng Vƣơng, TP.  
Hồ Chí Minh  
NHÌN  
LẠI  
CHƢƠNG TRÌNH  
LÀM VĂN THCS  
VÀ THPT HIỆN  
HÀNH  
Điện thoại liên lạc:  
0918888974  
Email:  
ThS. LÊ LINH CHI  
TÓM TẮT  
Báo cáo nhìn lại một số vấn đề về tính hệ thống, tính khoa học, tính vừa sức và  
cách thức hình thành kiến thức của chƣơng trình Làm văn trong SGK Ngữ văn THCS  
và THPT hiện hành. Bên cạnh việc khẳng định những ƣu điểm cơ bản của chƣơng trình  
Làm văn, báo cáo đã chỉ ra và phân tích một số vấn đề còn tồn tại nhằm mục đích rút  
kinh nghiệm cho việc xây dựng chƣơng trình, biên soạn SGK Ngữ văn sau 2015.  
Từ khoá: sách giáo khoa, làm văn, tích hợp, lập luận  
ABSTRACT  
A Look Back at the Composition Writing Skills in Current Literature Textbooks  
for High School Education  
The report presents a look back at several matters in teaching of composition  
writing skills in current Literature textbooks for high school education, including  
systematic approach, scientific approach, effective approach and ways of gaining  
knowledge. Besides confirming the basic advantages in teaching of composition writing  
skills, the report tries to figure out some arising problems with the aim of drawing on  
experience for building the programs and compiling Literature and Langauge arts  
textbooks after the year 2015.  
Key words: textbook, composition, integration, argumentation.  
1. Đặt vấn đề  
Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện hành, môn Ngữ văn đƣợc xây dựng  
tích hợp từ ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Làm văn. Tuy nhiên vì “giảng dạy theo quan  
điểm tích hợp không phủ định việc dạy các tri thức, kĩ năng riêng của từng phân môn”  
[2, tr.6], cho nên trong SGK Ngữ văn hiện nay, các kiến thức Văn, Tiếng Việt, Làm văn  
206  
vẫn đƣợc trình bày thành những phần riêng biệt trong cấu trúc của một bài học cụ thể.  
Thực tế đó phần nào cho thấy tính tích hợp ở đây còn nhiều vấn đề cần trao đổi thêm  
nhƣng mặt khác cũng cho phép chúng ta có thể nhìn nhận, đánh giá riêng chƣơng trình  
của từng phân môn để rút kinh nghiệm cho việc biên soạn SGK Ngữ văn sau 2015 theo  
tinh thần đổi mới. Trong báo cáo này, chúng tôi xin phát biểu một số suy nghĩ về  
chƣơng trình Làm văn trong SGK Ngữ văn THCS và THPT hiện hành.  
2. Một số nhận xét về chƣơng trình Làm văn trong SGK Ngữ văn THCS và THPT  
hiện hành  
“Phân môn Làm văn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tri thức cơ bản  
về các kiểu văn bản, hình thành các kĩ năng nói (kể chuyện, tóm tắt), hiểu khái quát về  
văn bản và bố cục chung của nó. Bản thân hoạt động tập làm văn là một hoạt động tích  
hợp, tích hợp tri thức văn bản đọc – hiểu và tiếng Việt vào việc tạo lập các văn bản  
mới” [2, tr.31]. Trong quá trình biên soạn SGK, tập thể tác giả nhìn chung đã cố gắng ở  
mức cao nhất để xây dựng một chƣơng trình Làm văn theo mô hình hàng ngang – đồng  
tâm, cung cấp các kiến thức cơ bản, cần thiết về cả sáu kiểu văn bản trên cả hai phƣơng  
diện lí thuyết và thực hành, gắn bó phân môn Làm văn với các phân môn Văn và Tiếng  
Việt trong một chỉnh thể tƣơng đối thống nhất.  
Tuy nhiên, sau nhiều năm trực tiếp sử dụng SGK Ngữ văn, chúng tôi nhận thấy bên  
cạnh những ƣu điểm cơ bản, chƣơng trình Làm văn còn bộc lộ một số bất cập sau đây:  
2.1. Về tính hệ thống  
Thông thƣờng, sau khi học lí thuyết, HS sẽ đƣợc thực hành, luyện tập; và quá trình  
thực hành, luyện tập sẽ đi dần từ đơn giản đến phức tạp, từ bộ phận đến toàn thể, từ dễ  
đến khó. Tuy nhiên, SGK Ngữ văn 7, tập 2 lại xếp tiết Viết bài tập làm văn số 5 – văn  
chứng minh (bài 23) trƣớc tiết Luyện tập viết đoạn văn chứng minh (bài 24) trong khi  
đúng hơn, HS phải đƣợc luyện tập viết đoạn trƣớc khi viết bài.  
Các tiết Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận (Ngữ văn 12, tập  
2, tr.112) và Diễn đạt trong văn nghị luận (Ngữ văn 12, tập 2, tr.136) đều đề cập đến  
những kĩ năng hết sức quan trọng trong lí thuyết và thực hành tạo lập văn bản nghị luận,  
do vậy chúng cần phải đƣợc bố trí dạy học ngay từ đầu và thƣờng xuyên trở đi trở lại  
trong suốt quá trình dạy học Làm văn chứ không nên đến học kì II của lớp 12 mới xếp  
vào dạy nhƣ SGK hiện hành.  
Một số thuật ngữ sử dụng chƣa có tính thống nhất, gây khó khăn nhất định cho việc  
truyền đạt và tiếp thu kiến thức của GV và HS. Ví dụ: cùng là phân tích, tổng hợp  
nhƣng khi đƣợc gọi là phép lập luận (Ngữ văn 9, tập 2, tr.9), khi đƣợc gọi là thao tác  
nghị luận (Ngữ văn 10, tập 2, tr.31), khi đƣợc gọi là thao tác lập luận (Ngữ văn 11, tập  
1, tr.25); tƣơng tự, cùng là giải thích, chứng minh nhƣng khi đƣợc gọi là phép lập luận  
207  
(Ngữ văn 7, tập 2, tr.41, 69), khi đƣợc gọi là phƣơng pháp lập luận (Ngữ văn 7, tập 2,  
tr.67); cùng là quy nạp, diễn dịch nhƣng khi đƣợc gọi là thao tác nghị luận (Ngữ văn  
10, tập 2, tr.31), khi đƣợc gọi là phƣơng pháp lập luận (Ngữ văn 10, tập 2, tr.111),…  
Mục “Thao tác nghị luận” (Ngữ văn 10, tập 2, tr.131) yêu cầu ôn lại các thao tác  
phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, trong khi trƣớc đó, chỉ có hai thao tác phân tích,  
tổng hợp đƣợc đề cập trong Phép lập luận (Ngữ văn 7), còn hai thao tác diễn dịch, quy  
nạp thì HS chƣa đƣợc học nên GV không biết phải hƣớng dẫn HS ôn lại thế nào.  
2.2. Về tính khoa học  
Tính khoa học trong SGK là một vấn đề rất rộng; ở đây chúng tôi chỉ giới hạn  
trong việc nhìn lại cách diễn giải một số khái niệm cơ bản liên quan đến chƣơng trình  
Làm văn.  
Nhìn chung, các khái niệm của chƣơng trình Làm văn trong SGK Ngữ văn THCS  
và THPT đều đƣợc diễn giải tƣơng đối tƣờng minh, chính xác, góp phần tích cực vào  
việc hình thành những kiến thức nền cho HS để từ đó, giúp HS vận dụng cụ thể trong  
quá trình thực hành tạo lập văn bản. Bên cạnh những ƣu điểm đó, SGK Ngữ văn cũng  
còn một vài hạn chế, cụ thể ở những khái niệm sau:  
+ Khái niệm văn nghị luận  
“Văn nghị luận là văn đƣợc viết ra nhằm xác lập cho ngƣời đọc, ngƣời nghe một  
tƣ tƣởng, quan điểm nào đó”, và “Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có  
lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục”, “Những tƣ tƣởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải  
hƣớng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa” (Ngữ văn 7,  
tập 2, tr.9). Cách diễn dịch này có một số vấn đề cần trao đổi thêm:  
Thứ nhất, chƣơng trình Làm văn không chỉ có văn viết mà còn có văn nói; vì vậy  
nên thay cụm từ “viết ra” bằng một cụm từ khác (ví dụ: tạo lập) để HS có thể hiểu một  
cách rõ ràng: văn nghị luận là loại văn đƣợc tạo ra bằng hoạt động viết (hoặc nói) và nó  
tồn tại hoặc dƣới dạng văn bản (viết), hoặc dƣới dạng ngôn bản (nói).  
Thứ hai, cách diễn dịch chỉ nêu yêu cầu về mặt nội dung (“xác lập cho ngƣời đọc,  
ngƣời nghe một tƣ tƣởng, quan điểm nào đó”) tuy đúng nhƣng có lẽ chƣa đủ vì muốn  
xác lập một tƣ tƣởng, một quan điểm thì ngƣời nói, ngƣời viết phải trình bày ý kiến của  
mình thành văn bản hoàn chỉnh về mặt nội dung và hình thức, có tính thuyết phục cao.  
Thứ ba, cách nói “xác lập” còn chung chung, chƣa thể hiện đƣợc yêu cầu mục  
đích nghị luận là gì và phải thể hiện mục đích đó nhƣ thế nào.  
+ Khái niệm thao tác lập luận:  
“Thao tác lập luận là những động tác đƣợc thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ  
thuật đƣợc quy định trong hoạt động nghị luận” (Ngữ văn 10, tập 2 tr.13). Có thể thấy  
208  
các từ “động tác” và từ “kĩ thuật” dùng trong việc diễn giải khái niệm này là chƣa thật  
hợp lí vì nó có phần nghiêng về những hoạt động thể chất với những yêu cầu kĩ thuật cụ  
thể, không phù hợp để chỉ thao tác nghị luận (là một hoạt động của tƣ duy).  
+ Khái niệm về phép lập luận phân tích  
“Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, từng phƣơng diện của một vấn  
đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện tƣợng” (Ngữ văn 9, tập 2, tr.10). Nhƣ đã biết,  
mục đích của nghị luận là khám phá và nhận thức các vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực khác  
nhau đặt ra trong cuộc sống xã hội (nghị luận xã hội) và cuộc sống văn học (nghị luận  
văn học). Trong văn nghị luận nói chung, phân tích là một trong những thao tác lập luận  
cơ bản, và đối tƣợng của thao tác này rất đa dạng. Đó có thể là các vấn đề của đời sống  
xã hội, cũng có thể là các vấn đề của đời sống, hoạt động văn học nhƣ tác giả, tác phẩm,  
xu hƣớng, trào lƣu, giai đoạn văn học,… Đối với nghị luận văn học, ngoài việc tìm hiểu  
giá trị nội dung của các hiện tƣợng văn học, chúng ta còn phải đi vào tìm hiểu giá trị  
nghệ thuật của chúng. Nhƣ vậy, nếu nói rằng “Phân tích […] nhằm chỉ ra nội dung của  
sự vật, hiện tƣợng” thì dƣờng nhƣ cách diễn giải này chƣa thật đầy đủ, nhất là đối với  
phân tích trong nghị luận văn học.  
+ Khái niệm về phép lập luận tổng hợp  
“Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã phân tích” (Ngữ văn  
12, tập 2, tr.10). Cách diễn giải này dễ làm HS hiểu mơ hồ về phép tổng hợp. Các em  
không biết nhƣ thế nào là “cái chung” từ những điều đã phân tích và làm cách nào để  
“rút ra cái chung từ những điều đã phân tích” cho đúng.  
+ Khái niệm về phép lập luận bác bỏ :  
“Bác bỏ là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc  
thiếu chính xác,… từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục ngƣời nghe (ngƣời  
đọc)” (Ngữ văn 11, tập 2, tr. 26). Thật ra, muốn bác bỏ những quan điểm, ý kiến sai  
lệch, điều kiện cơ bản không phải là “dùng lí lẽ, dẫn chứng” chung chung mà là “dùng lí  
lẽ, dẫn chứng một cách khoa học, đúng đắn”. Vì vậy, để chính xác hơn, chúng tôi cho  
rằng nên bổ sung cho diễn giải này những tính ngữ cần thiết.  
2.3. Về tính vừa sức  
Nhìn chung, chƣơng trình Làm văn trong SGK Ngữ văn trung học đã đảm bảo tính  
vừa sức về nội dung kiến thức và cách truyền tải nội dung kiến thức cho HS theo ba  
bƣớc: 1. Hƣớng dẫn thực hành kiến thức lí thuyết; 2. Hƣớng dẫn thực hành kiến thức  
quy trình; 3. Luyện tập.  
Ở THCS, các em đƣợc học những kiến thức khái quát nhƣ khái niệm, đặc điểm, bố  
cục…; những phép lập luận cơ bản nhƣ chứng minh, giải thích, phân tích, tổng hợp; các  
kiểu bài nghị luận đƣợc đƣa vào chƣơng trình năm cuối cấp THCS. Song song với  
209  
những nội dung kiến thức đó là phần rèn luyện những kĩ năng tƣơng ứng: phân tích đề,  
lập dàn ý, viết đoạn văn nghị luận. Các yêu cầu thực hành đa số phù hợp với trình độ  
tiếp nhận và tâm lí tiếp nhận của HS; chẳng hạn: Chứng minh chân lí trong một bài thơ  
thể hiện lòng kiên trì, nhẫn nại (Ngữ văn 9, tập 2, tr. 51), Lập dàn ý với đề bài: “Hãy  
viết một bài báo tƣờng để khuyên một số bạn trong lớp cần học tập chăm chỉ hơn”  
(Ngữ văn 8, tập 2, tr.82) v.v.  
Lên THPT, vấn đề đƣợc trình bày có phần rộng và sâu hơn, đáp ứng nguyên tắc  
đồng tâm. Những thao tác lập luận khó hơn đƣợc triển khai, kiểu bài nghị luận cũng  
đƣợc bổ sung thêm dạng đề mới: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Nội dung thực  
hành cũng gần gũi, phù hợp với nhận thức, tƣ tƣởng, tình cảm của các em và có phần  
hình tƣợng hơn trong cách nêu vấn đề; ví dụ: “Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tƣợng  
nghiện ka-ra-ô-kê và in-tơ-net trong nhiều bạn trẻ hiện nay?” (Ngữ văn 12, tập 2, tr.  
69), “Học cũng có ích nhƣ trồng cây, mùa xuân đƣợc hoa, mùa thu đƣợc quả” (Ngữ  
văn 12, tập 2, tr.116).  
Bên cạnh những ƣu điểm cơ bản đó, chƣơng trình Làm văn THCS và THPT vẫn  
còn một số vấn đề liên quan đến tính vừa sức cần trao đổi thêm:  
– Bài Luyện tập viết đoạn văn chứng minh (Ngữ văn 7, tập 2, tr.65), trong phần  
“Chuẩn bị ở nhà” có hai đề sau :  
Đề 2: Chứng minh rằng “Văn chƣơng gây cho ta những tình cảm ta không có”.  
Đề 3: Chứng minh rằng “Văn chƣơng luyện những tình cảm ta có sẵn”.  
Với hai đề này, dù HS đã đƣợc học bài Ý nghĩa văn chƣơng nhƣng những kiến  
thức về văn học của các em vẫn chƣa đủ để bàn về ý nghĩa, tác dụng của văn chƣơng  
trong việc xây dựng, bồi dƣỡng tình cảm của con ngƣời. Vì vậy, chúng tôi cho rằng đây  
là một bài tập thực hành quá sức.  
– Bài Viết bài tập làm văn số 6 – Văn nghị luận (làm tại lớp) (Ngữ văn 8, tập 2,  
tr.85) có một đề gợi ý kiểm tra: “Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tƣớng sĩ,  
hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những ngƣời lãnh đạo anh minh nhƣ Lý Công  
Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nƣớc”.  
Ở đây, đề bài dù chỉ mang tính chất tham khảo và HS đã đƣợc học Chiếu dời đô  
của Lý Công Uẩn, Hịch tƣớng sĩ của Trần Quốc Tuấn nhƣng theo chúng tôi, trình độ  
nhận thức của các em chƣa đủ để hiểu đƣợc “vận mệnh của đất nƣớc” và “vai trò của  
những nhà lãnh đạo anh minh” thời bấy giờ là nhƣ thế nào. Nếu phải thực hành, có lẽ  
các em sẽ dùng phần lớn những suy nghĩ, tƣ tƣởng của GV, của những ngƣời viết sách  
để thể hiện trong bài viết. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng đây là một đề bài khó đối  
với HS.  
210  
– Bài Thao tác lập luận so sánh có dẫn một đoạn trích của nhà văn Nguyễn Tuân  
để hƣớng dẫn HS hình thành cách so sánh. Đây là một đoạn ngữ liệu hay nhƣng không  
phù hợp với năng lực của HS. Với đoạn ngữ liệu này và trong thời gian cho phép của  
tiết học, GV khó có thể hƣớng dẫn HS hình thành cách so sánh hiệu quả. Bởi vì kiến  
thức của các em chƣa đủ sâu, rộng để hiểu hết ý nghĩa những câu nhƣ: “Làm sao trong  
đêm tối ngày xƣa đó, Ngô Tất Tố đã mò ra đƣợc những thực tế đó và trong đêm tối, ông  
lụi hụi thắp đƣợc bó hƣơng mà tự soi đƣờng cho nhân vật mình đi? […] ngƣời ta bàn cải  
hƣơng ẩm, ngƣời ta xoa xoa mà ngƣ ngƣ tiều tiều canh canh mục mục” (Ngữ văn 11,  
tập 1, tr. 80).  
2.4. Về con đường hình thành kiến thức làm văn  
Ƣu điểm nổi bật trong cách hình thành kiến thức làm văn nghị luận trong SGK  
Ngữ văn THCS và THPT là không cung cấp kiến thức có sẵn mà thông qua các bƣớc  
dẫn dắt (phân tích ngữ liệu, khái quát hoá ngữ liệu), từ đó hình thành các đơn vị kiến  
thức. Chẳng hạn, để hình thành khái niệm lập luận, đầu tiên SGK dẫn đoạn trích trong  
Lại dụ Vƣơng Thông của Nguyễn Trãi (Ngữ văn 11, tập 1, tr.109), tiếp đó là đặt ra  
những câu hỏi nhằm hƣớng dẫn HS phân tích cách lập luận trong ngữ liệu, phát hiện  
mục đích của lập luận và các luận cứ đƣợc dùng trong lập luận đó. Dựa vào kết quả  
phân tích, các em có thể tự rút ra, hoặc thảo luận theo yêu cầu đặt ra trong SGK dƣới sự  
hƣớng dẫn của GV để rút ra khái niệm lập luận.  
Cách hình thành kiến thức trong SGK cũng khá đa dạng, phong phú, tuỳ thuộc vào  
nội dung từng bài học mà có những cách hình thành khác nhau. Có khi nhiều cách hình  
thành kiến thức đƣợc sử dụng kết hợp trong cùng một bài. Chẳng hạn, bài Thao tác lập  
luận bình luận (Ngữ văn 11, tập 1) đã dùng hai cách để dẫn dắt HS tìm hiểu kiến thức:  
1) ví dụ từ thực tế cuộc sống (bình luận bóng đá) và 2) phân tích cách bình luận trong  
đoạn trích Xin lập khoa luật của Nguyễn Trƣờng Tộ. Hai cách dẫn dắt này giúp HS  
nhận diện những điểm giống và khác nhau cơ bản trong bình luận nói và bình luận viết,  
cũng nhƣ sự khác nhau cơ bản giữa bình luận và các thao tác lập luận khác.  
“Trong dạy tiếng Việt và tập làm văn, việc phân tích mẫu và học theo mẫu đóng  
vai trò quan trọng” [2, tr.13]. Bám sát quan điểm này, chƣơng trình Làm văn trong SGK  
Ngữ văn đã đƣa ra đƣợc nhiều mẫu hay và phù hợp, góp phần tích cực vào việc hình  
thành kiến thức, phát triển kĩ năng làm văn cho HS; ví dụ mẫu Đừng sợ vấp ngã (Ngữ  
văn 8, tập 2, tr.4)…  
Tuy vậy, ở một số bài, quy trình, cách thức hình thành kiến thức còn có phần đơn  
giản, sơ lƣợc. Ví dụ: bài Thao tác lập luận phân tích (Ngữ văn Ngữ văn 11, tập 1, tr.26)  
có “cách phân tích” nhƣng sau khi đƣa ra hai đoạn ngữ liệu, SGK chỉ có vài dòng nêu  
khái niệm phân tích và yêu cầu: “phân tích và phân chia đối tƣợng trong mỗi đoạn  
trích”, “chỉ ra mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp đƣợc thể hiện”. Hoặc bài Đề văn  
211  
nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận, ở mục “Tìm hiểu đề văn nghị luận”, sau  
khi dẫn một số đề văn, SGK nêu câu hỏi: “Các đề văn nêu trên có thể xem là đề bài, đầu  
bài đƣợc không? Nếu dùng làm đề bài cho bài văn sắp viết có đƣợc không ?” (Ngữ văn  
9, tập 2, tr.21). Với câu hỏi này, có thể HS sẽ lúng túng vì không phân biệt đƣợc thế nào  
là “đề văn”, “đề bài”, “đầu bài”.  
3. Kết luận  
Trở lên trên là suy nghĩ của chúng tôi về ƣu điểm và một số bất cập trong chƣơng  
trình Làm văn THCS và THPT hiện hành. Điều cần nói thêm ở đây là: tiếp cận quan điểm  
của Dự thảo Đề án Xây dựng, triển khai chƣơng trình và SGK giáo dục phổ thông sau  
2015 [1], trên cơ sở tham chiếu Khung 8 năng lực chính cần hình thành cho học sinh do  
Hội đồng Liên minh châu Âu về chƣơng trình giáo dục và đào tạo xây dựng năm 2010  
(bao gồm: 1) năng lực giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; 2) năng lực giao tiếp bằng tiếng  
nƣớc ngoài; 3) năng lực Toán học và năng lực cơ bản về khoa học, công nghệ; 4) năng  
lực kĩ thuật số; 5) học cách học; 6) năng lực liên cá nhân, liên văn hóa và xã hội, và  
năng lực công dân; 7) năng lực làm chủ doanh nghiệp; 8) năng lực biểu hiện văn hóa)  
[3], SGK Ngữ văn sau 2015 phải thực sự là SGK thể hiện nguyên tắc tích hợp trên cả hai  
trục: 1) tích hợp nội môn, tức là tích hợp các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong  
từng đơn vị bài học nhằm hƣớng đến mục tiêu phát triển các năng lực chuyên biệt (nghe –  
nói – đọc – viết) và 2) tích hợp lồng ghép, tức là tích hợp bài học Ngữ văn với các nội  
dung giáo dục khác, trƣớc hết là nội dung giáo dục phát triển bền vững (biến đổi khí hậu,  
giảm thiểu rủi ro thảm họa, bảo tồn đa đạng sinh học, giảm nghèo…) nhằm hƣớng đến  
mục tiêu phát triển các năng lực chung cho HS. Trong chƣơng trình tích hợp đó, văn bản  
văn học vừa là ngữ liệu của phân môn Tiếng Việt, vừa là mẫu của phân môn Làm văn,  
kiến thức tiếng Việt vừa giúp cho việc đọc – hiểu văn bản văn học, vừa giúp cho việc tạo  
lập các bài làm văn, còn kĩ năng làm văn sẽ là kết quả của sự vận dụng tổng hợp các kiến  
thức văn học và tiếng Việt. Nhƣ vậy, hoàn thiện chƣơng trình Làm văn, đáp ứng yêu cầu  
phát triển năng lực Ngữ văn cho HS sẽ là một thách thức rất lớn đối với giới nghiên cứu  
khoa học giáo dục nói chung, giới nghiên cứu lí luận và phƣơng pháp dạy học Ngữ văn  
nói riêng trong thời gian tới.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Đề án Xây dựng, triển khai chƣơng trình và SGK giáo  
dục phổ thông sau 2015 (Dự thảo).  
2. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) (2005), Ngữ văn 6 - sách giáo viên, tập 1, Nxb Giáo  
dục, Hà Nội.  
212  
3. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) (2010), Ngữ văn 6 (tập 1, 2), Ngữ văn 7 (tập 1, 2),  
Ngữ văn 8 (tập 1, 2), Ngữ văn 9 (tập 1, 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
4. Nguyễn Minh Đức (2013), “Xu hƣớng đánh giá học tập dựa trên năng lực học sinh”,  
5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2010), Ngữ văn 10 (tập 1, 2), Ngữ văn 11 (tập 1, 2),  
Ngữ văn 12 (tập 1, 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
213  
pdf 8 trang baolam 22680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhìn lại chương trình làm văn THCS và THPT hiện hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhin_lai_chuong_trinh_lam_van_thcs_va_thpt_hien_hanh.pdf