Tập bài giảng Kiến trúc máy tính - Nguyễn Thị Thu Hằng

LỜI NÓI ĐẦU  
Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệ cùng với những tiến bộ  
vượt bậc trong lĩnh vực Điện – Điện tử, máy tính ngày càng trở nên quen thuộc và trở  
thành một thiết bị quan trọng với hầu hết mọi người. Đặc biệt, trong lĩnh vực Công  
nghệ thông tin, máy tính là nền tảng và công cụ để phát triển các phần mềm ứng dụng.  
Vì vậy, Kiến trúc máy tính là môn học bắt buộc đối với tất cả sinh viên chuyên ngành  
Công nghệ thông tin ở các trường Cao đẳng, Đại học.  
Tập bài giảng Kiến trúc máy tính được biên soạn cho đối tượng sinh viên Cao  
đẳng và Đại học khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam  
Định. Tập bài giảng được chia làm 5 chương:  
Chương 1: Nhập môn  
Chương 2: Kiến trúc phần mềm  
Chương 3: Tổ chức bộ xử lý trung tâm CPU  
Chương 4: Bộ nhớ và các hệ thống lưu trữ  
Chương 5: Hệ thống BUS và tổ chức vào/ ra  
Nhóm biên soạn xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp khoa Công nghệ thông  
tin, cùng các đồng nghiệp trong trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định đã giúp  
chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này.  
Trong lần biên soạn đầu tiên, tập bài giảng không tránh khỏi những sai sót, rất  
mong người đọc đóng góp ý kiến để tập bài giảng được hoàn thiện hơn. Mọi sự đóng  
góp ý kiến xin gửi về Văn phòng Khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Sư phạm  
kỹ thuật Nam Định.  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!  
Nam Định, tháng 11 năm 2015  
Nhóm biên soạn  
Th.s Nguyễn Thị Thu Hằng  
Th.s Hoàng Thị Hồng Hà  
Th.s Trần Văn Long  
i
 
MỤC LỤC  
ii  
 
iii  
iv  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
v
 
vi  
vii  
viii  
ix  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
x
 
CHƢƠNG 1: NHẬP MÔN  
1.1. Khái niệm và phân loại máy tính  
1.1.1. Khái niệm máy tính và kiến trúc máy tính  
Máy tính (Computer) là thiết bị điện tử thực hiện các công việc sau:  
- Nhận dữ liệu vào (Input).  
-
Xử lý dữ liệu theo chương trình được nhớ sẵn bên trong bộ nhớ (Processing).  
- Đưa dữ liệu ra (Output).  
Máy tính thực hiện được các công việc trên thông qua:  
- Chương trình (Program): là dãy các câu lệnh nằm trong bộ nhớ, nhằm mục  
đích hướng dẫn máy tính thực hiện một công việc cụ thể nào đấy. Máy tính thực hiện  
theo lệnh trong chương trình. Máy tính không tự thực hiện được nếu không có  
chương trình.  
- Phần mềm (Software): bao gồm chương trình và dữ liệu.  
- Phần cứng (Hardware): baao gồm tất cả các thành phần vật lý cấu thành lên hệ  
thống máy tính.  
- Phần dẻo (Firmware): Là thành phần chứa cả hai thành phần trên.  
Kiến trúc máy tính đề cập đến những thuộc tính hệ thống mà lập trình viên  
có thể quan sát được. Nói cách khác, đó là các thuộc tính có ảnh hưởng trực tiếp  
đến việc thực thi một chương trình, ví dụ như tập lệnh của máy tính, số bit được sử  
dụng để biểu diễn số liệu, cơ chế nhập/ xuất, kỹ thuật định địa chỉ bộ nhớ…  
Kiến trúc máy tính bao gồm ba phần: Kiến trúc phần mềm, tổ chức máy tính và  
lắp đặt phần cứng.  
- Kiến trúc phần mềm của máy tính: chủ yếu là kiến trúc phần mềm của bộ xử  
lý, bao gồm: tập lệnh, dạng các lệnh và các kiểu định vị. Trong đó, tập lệnh là tập hợp  
các lệnh mã máy (mã nhị phân) hoàn chỉnh có thể hiểu và được xử lý bởi bộ xử lý trung  
tâm. Thông thường các lệnh trong tập lệnh được trình bày dưới dạng hợp ngữ.. Kiến  
trúc phần mềm là phần mà các lập trình viên hệ thống phải nắm vững để việc lập trình  
hiệu quả.  
- Tổ chức của máy tính (Computer Organization): liên quan đến cấu trúc bên  
trong của bộ xử lý, cấu trúc các bus, các cấp bộ nhớ và các mặt kỹ thuật khác của máy  
tính. Tổ chức máy tính quan tâm đến các đơn vị vận hành và sự kết nối giữa chúng  
nhằm thực hiện hóa những đặc tả về kiến trúc, chẳng hạn như về tín hiệu điều khiển,  
giao diện giữa máy tính với các thiết bị ngoại vi, kỹ thuật bộ nhớ được sử dụng…  
- Lắp đặt phần cứng của máy tính: chính là việc lắp ráp một máy tính dùng các  
linh kiện điện tử và các bộ phận phần cứng cần thiết.  
1
     
Cấu trúc máy tính (Computer Structure): là những thành phần của máy tính  
và những liên kết giữa các thành phần.  
Kể từ lúc ngành công nghiệp máy tính ra đời cho đến nay, sự phân biệt giữa  
kiến trúc và tổ chức máy tính là một yếu tố quan trọng. Nhiều hãng sản xuất máy  
tính cho ra đời cả một họ máy chỉ khác nhau về tổ chức còn kiến trúc hoàn toàn  
giống nhau. Kết quả là các kiểu máy trong cùng một họ có giá cả và hiệu suất vận  
hành khác nhau. Hơn thế nữa, một kiến trúc máy có thể tồn tại qua nhiều năm liền  
trong khi tổ chức máy dựa trên đó sẽ thay đổi theo bước tiến của công nghệ.  
Tất cả họ Intel*86 đều có kiến trúc cơ bản giống nhau.  
IBM System/370 đều có kiến trúc cơ bản giống nhau.  
Hình 1. 1. Máy tính  
1.1.2. Phân loại máy tính  
Máy tính là một khái niệm tương đối rộng, tuỳ theo cấu trúc, chức năng,  
hình dáng... mà có thể phân ra nhiều loại khác nhau. Về căn bản máy tính được  
phân làm các loại chính sau:  
Phân loại theo tín hiệu xử lý:  
+ Máy tính tương tự (Analog Computer): xử lý dữ liệu tương tự, dùng trong  
nghiên cứu khoa học, y học, đo lường khí tượng thuỷ văn…  
+ Máy tính số (Digital Computer): xử lý tín hiệu số, dùng rộng rãi trong việc  
lưu trữ dữ liệu, giáo dục, thương mại, giải trí…  
Phân loại theo khả năng xử lý:  
+ SuperComputer: Siêu máy tính, khả năng tính toán, tốc độ xử lý, khả năng  
lưu trữ rất lớn. Dùng để chứa cơ sở dữ liệu trong các mạng an ninh quốc phòng, các  
tập đoàn đa quốc gia…  
+ MiniComputer: máy tính nhỏ, khả năng lưu trữ, tốc độ … kém hơn siêu  
máy tính. Thường dùng để chứa cơ sở dữ liệu trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  
+ MicroComputer: máy vi tính, khả năng xử lý, lưu trữ… phù hợp với cá nhân, nên  
còn được gọi là máy tính cá nhân hay PC (Personal Computer).  
Phân loại theo công dụng:  
+ Mainframe (máy chính) - Terminate (máy trạm): máy chính dùng để chứa  
toàn bộ cơ sở dữ liệu và được cài đặt một hệ điều hành đa xử lý (Multiproccessor  
2
   
Operating System) như MAC OS, Unix… Máy trạm đơn giản chỉ là một thiết bị đầu cuối  
(gồm bàn phím để nhập, màn hình hoặc máy in để xuất) nối vào Mainframe dùng làm hệ  
thống nhập xuất. Mọi công việc xử lý đều thuộc về máy chính.  
+ Server (Máy chủ) – Client (Máy khách): Máy chủ và máy khách được dùng  
trong mô hình Client- Server. Máy chủ là máy cung cấp các dịch vụ mạng, cài đặt  
một hệ điều hành chạy được trên nền Server (Windows NT, Windows 2000  
server…). Máy khách có thể hiểu đơn giản là một PC, cài đặt một hệ điều hành  
Client (Win9x, 2000, XP ), sử dụng các dịch vụ do máy chủ cung cấp.  
+ Máy tính nhúng (Embedded Computer): được đặt trong thiết bị khác để điều  
khiển thiết bị đó làm việc và được thiết kế chuyên dụng. Ví dụ: điện thoại di động,  
máy ảnh số, bộ điều khiển trong máy giặt, điều hoà nhiệt độ, router - bộ định tuyến  
trên mạng.  
Theo kiểu thiết kế họ phần cứng máy tính cá nhân IBM, các đặc tính kỹ thuật  
và các chuẩn dành cho PC vào thời gian ban đầu đều do IBM đưa ra. Từ những hệ  
thống đời đầu như IBM PC, XT (eXTended) và AT (Advanced Technology) cùng  
với nhiều chuẩn mà các hệ thống ngày nay sử dụng đều phải phù hợp với chuẩn mà  
IBM đã đưa ra. Bao gồm các nhân tố về bo mạch chủ, cách thiết kế thùng máy và bộ  
nguồn, cấu trúc bus, cách thức sử dụng tài nguyên hệ thống, cấu trúc và cách thức  
ánh xạ bộ nhớ, các giao tiếp hệ thống, bộ nối, chân cắm...  
1.2. Lịch sử phát triển của máy tính  
Sự phát triển của máy tính được mô tả dựa trên sự tiến bộ của các công nghệ  
chế tạo các linh kiện cơ bản của máy tính như: bộ xử lý, bộ nhớ, các ngoại vi…Ta có  
thể nói máy tính điện tử số trải qua bốn thế hệ liên tiếp. Việc chuyển từ thế hệ trước  
sang thế hệ sau được đặc trưng bằng một sự thay đổi cơ bản về công nghệ.  
1.2.1. Thế hệ đầu tiên (1946-1955)  
Hình 1. 2. Máy tính ENIAC  
3
     
Hình 1. 3. Đèn điện tử  
ENIAC (Electronic Numerical Integrator and Computer) là máy tính điện tử số  
đầu tiên do Giáo sư Mauchly và người học trò Eckert tại Đại học Pennsylvania thiết  
kế vào năm 1943 và được hoàn thành vào năm 1946. Đây là một máy tính khổng lồ  
với thể tích dài 20 mét, cao 2,8 mét và rộng vài mét. ENIAC bao gồm: 18.000 đèn  
điện tử, 1.500 công tắc tự động, cân nặng 30 tấn, và tiêu thụ 140KW giờ. Nó có 20  
thanh ghi 10 bit (tính toán trên số thập phân). Có khả năng thực hiện 5.000 phép  
toán cộng trong một giây. Công việc lập trình bằng tay bằng cách đấu nối các đầu  
cắm điện và dùng các ngắt điện.  
Giáo sư toán học John Von Neumann đã đưa ra ý tưởng thiết kế máy tính Von-  
Neumann. Đây là một ý tưởng nền tảng cho các máy tính hiện đại ngày nay.  
Vào những năm đầu của thập niên 50, những máy tính thương mại đầu tiên được  
đưa ra thị trường như 48 hệ máy UNIVAC I và 19 hệ máy IBM 701 đã được bán ra.  
Đặc điểm:  
- Tiêu thụ nhiều điện năng, toả nhiều nhiệt và hệ thống ít tin cậy.  
- Xuất hiện băng giấy và phiếu đục lỗ. Chỉ có 1 loại máy mainframe.  
- Sử dụng ngôn ngữ máy.  
- Các máy điển hình: ENIAC, EDVAC, IAS  
- Tính toán chậm, kích thức lớn.  
- Chế tạo đơn lẻ.  
1.2.2. Thế hệ thứ hai (1955-1965)  
Công ty Bell đã phát minh ra transistor vào năm 1947 và do đó thế hệ thứ hai  
của máy tính được đặc trưng bằng sự thay thế các đèn điện tử bằng các transistor  
lưỡng cực. Tuy nhiên, đến cuối thập niên 50, máy tính thương mại dùng transistor  
mới xuất hiện trên thị trường. Kích thước máy tính giảm, rẻ tiền hơn, tiêu tốn năng  
lượng ít hơn. Vào thời điểm này, mạch in và bộ nhớ bằng xuyến từ được dùng. Ngôn  
ngữ cấp cao xuất hiện (như FORTRAN năm 1956, COBOL năm 1959, ALGOL  
4
   
năm 1960) và hệ điều hành kiểu tuần tự (Batch Processing) được dùng. Trong  
hệ điều hành này, chương trình của người dùng thứ nhất được chạy, xong đến  
chương trình của người dùng thứ hai và cứ thế tiếp tục.  
Máy PDP-1  
IBM 360 -1960s (Transistors)  
Hình 1. 4. Máy tính thế hệ thứ 2  
1.2.3. Thế hệ thứ ba (1966-1980)  
Thế hệ thứ ba được đánh dấu bằng sự xuất hiện của các mạch kết (mạch tích  
hợp - IC: Integrated Circuit). Mạch tích hợp hay còn gọi là vi mạch, là các chip bán  
dẫn trong đó chứa các transistor và các linh kiện khác.  
Hình 1.5. Mạch tích hợp  
Micro VAX  
Siêu máy tính CRAY-1  
Hình 1. 6. Các máy tính thế hệ thứ 3  
5
       
Các mạch kết độ tích hợp mật độ thấp (SSI: Small Scale Integration) có thể  
chứa vài chục linh kiện và kết độ tích hợp mật độ trung bình (MSI: Medium Scale  
Integration) chứa hàng trăm linh kiện trên mạch tích hợp.  
Mạch in nhiều lớp xuất hiện, bộ nhớ bán dẫn bắt đầu thay thế bộ nhớ bằng  
xuyến từ. Máy tính đa chương trình và hệ điều hành chia thời gian được dùng.  
1.2.4. Thế hệ thứ tƣ (1980- đến nay)  
Thế hệ thứ tư được đánh dấu bằng các IC có mật độ tích hợp cao (LSI: Large  
Scale Integration) có thể chứa hàng nghìn linh kiện. Các IC mật độ tích hợp rất cao  
(VLSI: Very Large Scale Integration) có thể chứa hơn 10 ngàn linh kiện trên mạch.  
Hiện nay, các chip VLSI chứa hàng triệu linh kiện.  
Với sự xuất hiện của bộ vi xử lý (microprocessor) chứa cả phần thực hiện và  
phần điều khiển của một bộ xử lý, sự phát triển của công nghệ bán dẫn các máy vi  
tính đã được chế tạo và khởi đầu cho các thế hệ máy tính cá nhân.  
Các bộ nhớ bán dẫn, bộ nhớ cache, bộ nhớ ảo được dùng rộng rãi.  
Các kỹ thuật cải tiến tốc độ xử lý của máy tính không ngừng được phát  
triển: kỹ thuật ống dẫn, kỹ thuật vô hướng, xử lý song song mức độ cao,…  
Vi xử lý 8088 ra đời đánh dấu thời kỳ phát triển máy tính cá nhân PC  
(Personal Computer).  
Bảng 1. 1. Lịch sử phát triển máy tính thế hệ thứ 4 (Intel)  
Năm  
1979  
1978  
1980  
1993  
1997  
1999  
2003  
Vi xử lý  
8088 (Intel)  
8086 (Intel)  
80286 (Intel)  
Pentium (Intel)  
Pentium II (Intel), Celeron  
Pentium III (Intel), Celeron  
Pentium IV (Intel), Celeron  
Các công nghệ mạch tích hợp:  
- SSI (Small scale integration) – từ 1965  
+ Tích hợp tới 100 transistor trên một chip  
- MSI (Medium scale integration) – cho đến 1971  
+ Tích hợp từ 100 đến 3,000 transistor trên một chip  
- LSI (Large scale integration) – từ 1971 đến 1977  
+ Tích hợp từ 3,000 đến 100,000 transistor trên một chip  
- VLSI (Very large scale integration) – từ 1978 đến nay  
+ Tích hợp từ 100,000 đến 100,000,000 transistor trên một chip  
- ULSI (Ultra large scale integration)  
6
   
Có hơn 100,000,000 transistor trên một chip  
Hình 1. 7. Các công nghệ sản xuất máy tính  
1.2.5. Khuynh hƣớng hiện tại  
Việc chuyển từ thế hệ thứ tư sang thế hệ thứ 5 còn chưa rõ ràng, thế hệ của  
những máy tính thông minh, dựa trên các ngôn ngữ trí tuệ nhân tạo như LISP và  
PROLOG,... và những giao diện người - máy thông minh. Là thời kỳ phát triển máy  
tính “thông minh”, có thể tự động nhận biết những thay đổi của môi trường xung quanh  
như con người. Máy tính Neuron - Neural Network - một kỹ thuật của trí khôn nhân  
tạo, bắt chước cách thức tổ chức các tế bào thần kinh nối với bộ não con người. Người  
ta cung cấp những thông tin cho mạng thần kinh để huấn luyện cho nó nhận biết được  
các sự vật mẫu nhằm có thể đưa ra các dự báo hoặc giải pháp xử lý thích ứng.  
Tuy nhiên cũng nên lưu ý là thế hệ này hiện nay đang trong quá trình nghiên  
cứu, một số mẫu máy tính thử nghiệm đầu tiên đã xuất hiện trong vài năm trở lại đây  
và các khái niệm liên quan đang mới hình thành.  
Theo sự phát triển của công nghệ, các máy tính hiện nay được thiết kế, xây  
dựng theo một xu hướng chung là:  
- Mạnh hơn về tốc độ và khả năng tính toán  
- Nhỏ hơn về kích thước  
- Tiết kiệm hơn về năng lượng  
Các tiến bộ liên tục về mật độ tích hợp trong VLSI đã cho phép thực hiện  
các mạch vi xử lý ngày càng mạnh (8 bit, 16 bit, 32 bit và 64 bit với việc xuất  
hiện các bộ xử lý RISC năm 1986 và các bộ xử lý siêu vô hướng năm 1990).  
Chính các bộ xử lý này giúp thực hiện các máy tính song song với từ vài bộ xử  
lý đến vài ngàn bộ xử lý. Điều này làm các chuyên gia về kiến trúc máy tính tiên  
đoán thế hệ thứ 5 là thế hệ các máy tính xử lý song song. Hiện nay đã có những  
bước đột phá sang thế hệ máy tính “thông minh” trong đó ROBOT Asimo của hãng  
Honda là một ví dụ.  
7
   
Bảng 1. 2. Các thế hệ máy tính  
Hãng sản xuất và máy  
tính  
Thế hệ  
Năm  
1946-  
Kỹ thuật  
Sản phẩm mới  
1
Đèn điện tử Máy tính điện tử  
tung ra thị trường  
IBM 701. UNIVAC  
1957  
2
3
4
5
1958-  
1964  
Transistors Máy tính rẻ tiền  
Burroughs 6500, NCR,  
CDC6600, Neywell  
1965-  
1971  
Mach IC  
Máy tính mini  
50 hãng mới: DEC PDP-  
11, Data general , Nova  
1980-  
Đến nay  
LSI - VLSI Máy tính cá nhân và Apple II, IBM-PC,  
trạm làm việc Apolo DN 300, Sun 2  
Khuynh Xử lý song Máy tính đa xử lý. Sequent, Thinking  
hướng  
song  
Đa máy tính  
Machine Inc, Honda,  
Casio  
hiện tại  
1.3. Máy tính Von-Neumann  
Giáo sư toán học John Von Neumann đã đưa ra ý tưởng thiết kế máy tính IAS  
(Princeton Institute for Advanced Studies) hay còn gọi là máy tính Von-Neumann gồm  
có các đặc điểm:  
- Được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1947, hoàn thành năm 1952.  
- Được xây dựng theo ý tưởng “chương trình được lưu trữ” (Stored-program  
concept) của Von- Neumann/Turing (1945). Sử dụng một bộ nhớ lưu trữ dữ liệu. Bộ  
nhớ chia làm nhiều ô, mỗi ô có 1 địa chỉ (đánh số thứ tự) để có thể chọn lựa ô nhớ  
trong quá trình đọc ghi dữ liệu (nguyên lý định địa chỉ).  
- Chương trình được mã hóa để máy tính hiểu được.  
- Dữ liệu là những thông tin đơn giản được sử dụng bởi chương trình.  
- CPU nhận lệnh và dữ liệu từ bộ nhớ, giải mã và thực hiện tuần tự.  
- Tổ chức của máy tính Von-Neumann hiện đang áp dụng cho các máy tính ngày nay.  
Hình 1. 8. John von Neumann và máy tính IAS  
8
     
Hình 1. 9. Kiến trúc máy tính Von-Neumann  
Máy tính của Von-Neumann bao gồm 4 thành phần cơ bản:  
- Main Memory (bộ nhớ chính): chứa chương trình và dữ liệu. Bộ nhớ chính  
gồm 4096 từ, mỗi từ chứa được 40 bit.  
Hình 1. 10. Sơ đồ máy tính Von Neumann  
- CPU gồm hai khối:  
+ Khối logic và toán học (CA) hoạt động trên dữ liệu nhị phân, thực hiện các  
phép toán số học và logic.  
+ Khối điều khiển (CC): giải mã các lệnh từ bộ nhớ và thực hiện chúng tuần tự  
- Thiết bị vào/ra (I.O) hoạt động do khối CC điều khiển.  
- Đường truyền dữ liệu BUS: trao đổi dữ liệu giữa các khối trong máy tính  
Nguyên lý :  
- Nguyên lý điều khiển bằng chương trình: máy tính thực hiện một công việc  
theo chương trình được đưa vào bộ nhớ. Nguyên lý này đảm bảo khả năng thực hiện tự  
động để giải quyết một bài toán của máy tính điện tử  
- Nguyên lý truy cập qua địa chỉ: dữ liệu trong chương trình không chỉ định  
bằng giá trị mà thông qua địa chỉ trong bộ nhớ. Nguyên lý đảm bảo tính mềm dẻo của  
chương trình, có thể thể hiện thuật toán không phụ thuộc vào các giá trị phát sinh trong  
chương trình.  
9
   
1.4. Cấu trúc và chức năng của máy tính  
Máy tính là một hệ thống phức tạp với hàng triệu thành phần điện tử cơ sở. Ở  
đây, có hai yếu tố được quan tâm đến là cấu trúc và chức năng.  
Cấu trúc là cách thức các thành phần hệ thống liên hệ với nhau.  
Chức năng là hoạt động của mỗi thành phần riêng lẻ với tư cách là một phần  
của cấu trúc.  
1.4.1. Các thành phần cơ bản trong máy tính  
Cấu trúc chung của máy tính điện tử  
Máy tính điện tử từ khi ra đời cho tới nay mặc dù đã trải qua 4 thế hệ, liên tục  
được cải tiến, nhưng nhìn chung vẫn bao gồm 5 đơn vị chức năng chính sau:  
- Bộ nhớ trong (Central Memory hoặc Main memory): có nhiệm vụ chứa các  
chương trình và dữ liệu trước khi chương trình được thi hành.  
- Đơn vị điều khiển (Control Unit, thường được viết tắt là CU): có nhiệm vụ  
điều khiển sự hoạt động của tất cả các thành phần hệ thống máy tính mà chương trình  
nó được giao thi hành.  
- Đơn vị số học và logic (Arthmetic and Logical Unit, thường được viết tắt là  
bộ ALU): có nhiệm vụ thực hiện các thao tác tính toán theo sự điều khiển của CU.  
- Thiết bị vào (Input Device): có nhiệm vụ nhận thông tin từ thế giới bên ngoài  
biến đổi sang dạng thích hợp rồi đưa vào bộ nhớ trong.  
- Thiết bị ra (Output Device): có nhiệm vụ đưa thông tin từ bộ nhớ trong ra  
ngoài dưới dạng mà con người yêu cầu.  
Hình 1. 11. Cấu trúc chung của máy tính  
Tuy nhiên, theo quan điểm lắp ráp máy tính, thì máy tính gồm các thành phần  
chính sau:  
10  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 227 trang baolam 25200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tập bài giảng Kiến trúc máy tính - Nguyễn Thị Thu Hằng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_kien_truc_may_tinh_nguyen_thi_thu_hang.pdf