Tích hợp - một nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa, một định hướng tổ chức dạy học ngữ văn ở trung học phổ thông không bao giờ cũ

TÍCH HỢP – MỘT  
NGUYÊN TẮC  
Khoa Ngữ văn, Trƣờng  
Đại học Sƣ phạm Huế  
BIÊN SOẠN SÁCH  
GIÁO KHOA, MỘT  
ĐỊNH HƢỚNG TỔ  
CHỨC DẠY HỌC  
Điện thoại: 0972323444  
Email:  
NGỮ  
TRUNG HỌC PHỔ  
THÔNG KHÔNG  
BAO GIỜ CŨ  
VĂN  
Ở
ThS. LÊ THỊ NGỌC ANH  
TÓM TẮT  
Tích hợp là một lí thuyết dạy học ra đời trên thế giới từ những năm 60 của thế kỉ  
XX và cho đến nay nó đã trở thành quan điểm, nguyên tắc dạy học quan trọng trong hầu  
hết các môn học, đặc biệt là Ngữ văn. Nguyên tắc này chi phối từ việc biên soạn chƣơng  
trình, sách giáo khoa đến việc xác lập các phƣơng pháp, mục tiêu dạy học cụ thể. Không  
chỉ lí thuyết mà thực tế giảng dạy cũng đã chứng minh rõ những ƣu điểm của nó. Do đó,  
đây vẫn là một định hƣớng còn nguyên tính thời sự, tính giá trị trong việc biên soạn  
sách giáo khoa mới và việc dạy học Ngữ văn trong tƣơng lai.  
Từ khoá: tích hợp, nguyên tắc, định hƣớng, sách giáo khoa, Ngữ văn  
ABSTRACT  
Integration: A Principle of Compiling Textbooks, Orientation for Teaching Language  
and Literature at High Schools  
Integration, a theory of teaching developed in 1960s, has become a point of view  
and an essential principle of teaching in most of subjects, especially in Language and  
Literature Subject. This principle governs the design of curriculums and textbooks as  
well as the establishment of concrete methods and goals in teaching. Not only theory  
but also practice obviously demonstrated its advantages. Therefore, integration has been  
a topical and valued orientation in compiling new textbooks and teaching language arts  
and literature in future.  
Key words: integration, principle, orientation, textbooks, language and literature  
157  
1.  
Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đang gấp rút chuẩn bị cho định kỳ 10 năm  
thay sách giáo khoa trung học phổ thông (THPT) vào năm 2015, trong đó có môn Ngữ  
văn. Đây là một việc làm cần thiết để bắt kịp với sự phát triển của nền văn học và phản  
ánh sự phát triển nội tại của nền giáo dục, đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực cho xã hội. Để  
có thể biên soạn đƣợc một bộ sách giáo khoa trở thành “văn bản có tính pháp lí” trên  
toàn quốc đòi hỏi một quá trình chuẩn bị lâu dài, thấu đáo. Theo đó, các nguyên tắc chỉ  
đạo việc xây dựng chƣơng trình và biên soạn sách giáo khoa cần phải đuợc xác định rõ  
ràng trên cơ sở kế thừa những nguyên tắc cũ và đề xuất những nguyên tắc mới cho phù  
hợp với mục tiêu và thực tiễn dạy học. Thiết nghĩ dạy học Ngữ văn theo định hƣớng  
tích hợp là một nguyên tắc không bao giờ cũ trong cả biên soạn và thực tiễn dạy học.  
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội  
hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự  
nhất thể hoá đƣa tới một đối tƣợng mới nhƣ là một thể thống nhất trên những nét bản chất  
nhất của các thành phần đối tƣợng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những  
thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu nhƣ vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ  
mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo  
thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính  
toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt  
các thành phần bên cạnh nhau.  
Trong lí luận dạy học, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ  
thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau  
hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối  
liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của  
bộ môn đó.  
Trong Chƣơng trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái  
niệm tích hợp cũng đƣợc hiểu là: sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết  
với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm  
tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.  
Cũng có quan niệm nhấn mạnh: tích hợp trong dạy học là phải dạy cách tìm tòi  
sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau. Tức là, GV không  
chỉ dạy tri thức cho HS mà hơn hết phải dạy cho họ biết cách sử dụng kiến thức và kĩ  
năng đó để giải quyết những tình huống cụ thể, nhằm mục đích hình thành, phát triển năng  
lực toàn diện. Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau  
của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động  
có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích  
hợp.  
158  
Tƣ tƣởng tích hợp trong dạy học đã xuất hiện trong sự vận động của lịch sử giáo  
dục thế giới từ những năm 60 của thế kỉ XX với trào lƣu sƣ phạm tích hợp: chủ trƣơng  
hƣớng tới sự tích hợp liên môn, xuyên môn, xóa bỏ tính đơn lẻ của từng môn riêng biệt.  
Ở Việt Nam, từ năm1973, cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh đến  
mục tiêu tích hợp trong dạy học: “dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, “phải  
chú ý dạy từ, dạy câu, phải dạy cho học sinh biết các suy nghĩ, tìm tòi, biết diễn tả cảm  
xúc, phải dạy cho học sinh biết tất cả cái hay cái đẹp”.  
1999 – 2000: Bộ GD&ĐT cũng đƣa vào thí điểm chƣơng trình tích hợp ở  
THCS; 2003 – 2004, chƣơng trình Ngữ văn THPT đƣợc chính thức biên soạn theo tƣ  
tƣởng tích hợp. Trong Chƣơng trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự  
thảo cũng đã xác định rõ “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức  
nội dung chƣơng trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phƣơng pháp giảng dạy.” [tr.  
27]. “Nguyên tắc tích hợp phải đƣợc quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn,  
Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt  
trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chƣơng trình; tích hợp trong  
SGK; tích hợp trong phƣơng pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập  
của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” [tr. 40].  
Lí luận và thực tế dạy Văn theo hƣớng tích hợp đã chứng minh những ƣu điểm  
nhƣ: không những tránh đƣợc những biểu hiện cô lập, tách rời trong từng phƣơng diện  
kiến thức mà còn phát triển đƣợc ở ngƣời đọc tƣ duy biện chứng, khả năng thông hiểu  
và vận dụng kiến thức một cách thực chất, ngƣời học có điều kiện nhìn nhận và khai  
thác vấn đề một cách toàn diện, lập nên mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, dạy HS  
sử dụng kiến thức trong tình huống... từ đó GV có thể hƣớng ngƣời học đến những tri  
thức mang tính chỉnh thể, hệ thống.  
Có thể thấy, tích hợp trở thành một định hƣớng trung tâm của việc biện soạn  
sách giáo khoa hiện hành. Thực tiễn dạy học những năm qua cũng cho thấy tính hiệu  
quả của định hƣớng này trong việc hƣớng tới mục tiêu giáo dục toàn diện, đặc biệt chú  
trọng đến việc hình thành kĩ năng học và kĩ năng sống.  
Hơn nữa, tích hợp là xu thế của thời đại nói chung và khoa học giáo dục nói  
riêng. Đây là một định hƣớng mang tính chiến lƣợc của tƣ duy giáo dục mới, chuyển từ  
giáo dục phân giải, chuyên sâu từng phân môn sang giáo dục phối kết hợp liên môn để  
hƣớng tới một chất lƣợng mới trong dạy học.  
Quán triệt định hƣớng tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy bài đọc  
– hiểu văn bản nói riêng cần phải thƣờng xuyên đặt tri thức trong hệ thống và hƣớng  
tới hệ thống tức là trong mối quan hệ với hệ thống tri thức bộ môn cũng nhƣ liên môn,  
với lịch sử, văn hóa của nhân loại. Việc dạy học Ngữ văn theo hƣớng tích hợp cũng  
phải đƣợc thực hiện trên các nguyên tắc quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả của quá  
159  
trình dạy học. Trƣớc hết, tích hợp phải gắn với việc tích cực hoá việc học tập của HS,  
tích hợp phải đi đôi với tích cực vận dụng nguyên tắc tích hợp không thoát ra ngoài  
phƣơng hƣớng phát huy vai trò chủ thể của HS trong học tập. Mặt khác, tích hợp phải  
quán triệt quan điểm dạy học Ngữ văn gắn với đời sống, vận dụng kiến thức và kĩ năng  
đã học vào cuộc sống.  
Tích hợp rõ ràng cũng không phải là sự liên kết hay sự kết hợp về hình thức mà nó  
có tính toàn diện, đặc biệt nó liên quan trực tiếp đến việc hình thành và phát triển tƣ duy  
- mấu chốt của mọi quá trình phát triển.  
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tích hợp là một nguyên tắc biên  
soạn sách giáo khoa, là một định hƣớng dạy học và cũng là một mục tiêu giáo dục hết  
sức ý nghĩa .  
2.  
Khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành chúng ta có thể thấy định hƣớng  
tích hợp thể hiện rõ trong cấu trúc, nội dung qua hai trục tích hợp chính:  
- Xét về phƣơng diện kĩ năng: có hai trục tích hợp chính là đọc và viết.  
- Xét từ phƣơng diện nội dung môn học: có hai trục tích hợp chính là tích hợp  
dọc và tích hợp ngang.  
Tích hợp dọc là sự tích hợp giữa các nội dung trong cùng một phân môn.  
Tích hợp ngang: là sự tích hợp giữa các phân môn: đọc văn, làm văn và tiếng  
Việt...  
3.  
Nguyên tắc tích hợp đã đƣợc quán triệt chặt chẽ trong chƣơng trình và chi phối  
mạnh mẽ đến việc biện soạn sách giáo khoa. Tuy nhiên, thực tế dạy học vẫn gặp không  
ít khó khăn dẫn đến hiệu quả tích hợp trong dạy học Ngữ văn vẫn chƣa cao. Qua khảo  
sát, chúng tôi thấy rằng, bản thân giáo viên (GV) vẫn chƣa thực sự chú trọng đến tích  
hợp hoặc có thì cũng mang tính hình thức. Do đó, học sinh (HS) nhiều em không biết  
tích hợp là gì và phải tích hợp nhƣ thế nào, kiến thức và kĩ năng vẫn đƣợc tiếp thu và  
hình thành rời rạc nên chƣa có giá trị cao và bền vững. Chỉ khi nào nguyên tắc này trở  
thành nguyên tắc định hƣớng, chỉ đạo cả việc dạy và việc học, đƣợc ý thức hóa sâu sắc  
bởi cả GV và HS thì khi đó nó mới có thể phát huy tính hiệu quả trong thực tiễn.  
Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ cả phía chủ quan và khách quan. Tuy  
nhiên, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ tập trung trao đổi một số đề xuất từ góc  
độ biên soạn sách giáo khoa để việc thực hiện định hƣớng tích hợp trong thực tiễn dạy  
học trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn:  
160  
- Số lƣợng bài học chính khóa còn nhiều, do đó GV và HS bị áp lực thời gian phải  
hoàn tất nội dung cơ bản, chƣa có điều kiện thực hiện các hoạt động học tập tích hợp  
đặc biệt là tích hợp kiến thức với kĩ năng. Một trong những mục tiêu của tích hợp là có  
thể giảm tải chƣơng trình nhƣng HS vẫn hoàn toàn có thể chủ động tiếp nhận lƣợng kiến  
thức phong phú của nhân loại và tự hình thành kĩ năng, tự phát triển. Sách giáo khoa  
mới nên chăng giảm số lƣợng bài chính khóa, tăng các bài học thêm làm cơ sở cho việc  
tích hợp. Nhƣ vậy, GV và HS sẽ có thời gian và đƣợc trang bị các công cụ cũng nhƣ  
kiến thức nền tảng để thực hiện nguyên tắc tích hợp một cách chặt chẽ. Từ đó, HS  
không chỉ lĩnh hội kiến thức sâu sắc mà hình thành đƣợc kĩ năng bền vững, tích cực,  
chủ động học tập hƣớng tới mục tiêu phát triển toàn diện.  
- Vấn đề sắp xếp thứ tự các bài học thiết nghĩ cần xem xét lại. Cụ thể, nếu xác định  
mục tiêu cơ bản của dạy học Ngữ văn là hình thành kĩ năng đọc văn – làm văn thì có  
nghĩa là xác định trục kĩ năng làm trục trung tâm. Để có thể đọc văn – làm văn, HS cần  
có công cụ. Công cụ đƣợc trang bị qua phân môn Tiếng Việt, Lí luận văn học, Văn học  
sử… Do đó, các cụm bài học đƣợc phân bố theo tuần nên sắp xếp các dạng bài này học  
trƣớc, sau đó là các văn bản đọc hiểu và cuối cùng là làm văn. Hoặc những kiến thức  
công cụ cần đƣợc tích hợp chặt chẽ hơn trong các bài học văn bản qua các phần ngoài  
văn bản nhƣ Tiểu dẫn, Chú thích, Tri thức đọc hiểu...  
- Việc lựa chọn các bài học, các đơn vị kiến thức cũng cần kĩ càng hơn để chúng có  
mối quan hệ gần gũi và trực tiếp hơn. Tích hợp là một định hƣớng do đó sách giáo khoa  
biên soạn cho thấy rõ định hƣớng này bao nhiêu thì quá trình thực thi dễ dàng và hiệu  
quả bấy nhiêu.  
- Cần có sự tƣơng thích về cả số lƣợng và nội dung giữa các loại kiến thức và kĩ  
năng cho phù hợp với định hƣớng cũng nhƣ mục tiêu dạy học tích hợp. Ví dụ nhƣ sự  
tƣơng thích giữa lí luận văn học và văn bản tác phẩm… (Vấn đề này chúng tôi đã đề cập  
trong bài viết “Sự tƣơng thích giữa tri thức lí luận văn học và yêu cầu khai thác các văn  
bản tự sự trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông”, Kỉ yếu Hội thảo Khoa  
học Quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông Việt Nam (5 - 6/01/2013).  
4. Một số phƣơng pháp dạy học Ngữ văn theo định hƣớng tích hợp  
Cần phải khẳng định rằng, phƣơng pháp dạy học tự bản thân nó không tích cực  
hay tiêu cực, không chủ động hay thụ động, không hƣớng vào ngƣời dạy hay hƣớng vào  
ngƣời học. Nó hiệu quả hay không là ở ngƣời sử dụng với mục tiêu và cách thức sử  
dụng riêng. Do đó, không có phƣơng pháp dạy học nào tự thân nó có thể tích hợp hay  
cũng không có phƣơng pháp nào là hoàn toàn không thể tích hợp. Xuất phát từ quan  
điểm này, chúng tôi xin đề xuất một số phƣơng pháp dạy học có thể sử dụng hiệu quả để  
tổ chức dạy học Ngữ văn theo định hƣớng tích hợp.  
161  
4.1. Thuyết trình (presenting): đây là phƣơng pháp dạy học mà chủ thể dùng lời để  
trình bày kiến thức, có thể tái tạo kiến thức cũ hoặc thông báo kiến thức mới. Do đó,  
chúng vẫn đƣợc “gán mác” là phƣơng pháp thụ động, thiếu tích cực. Tuy nhiên, thiết  
nghĩ sẽ khó có thể dạy học đƣợc nếu thiếu phƣơng pháp này, đặc biệt đối với Ngữ văn.  
Thực hiện định hƣớng tích hợp, phƣơng pháp này càng trở nên cần thiết. Đây là phƣơng  
pháp mà GV và HS có thể sử dụng để củng cố kiến thức đã có, làm cơ sở để tiếp nhận  
kiến thức mới và hình thành kĩ năng mới, cung cấp, lí giải các kiến thức mới, khó;  
ngƣời dạy và ngƣời học cũng dễ dàng liên hệ mở rộng, so sánh đối chiếu liên môn hoặc  
xuyên môn để hiểu bài học thêm sâu sắc, thấu triệt. Ví dụ: thuyết trình về tiểu sử nhà  
văn, mở rộng liên hệ đến những vấn đề lí luận để từ đó có thể lí giải sâu sắc những nét  
phong cách nghệ thuật của tác giả, làm nền tảng cho việc tiếp nhận văn bản văn học  
trong mối quan hệ với cuộc sống lớn, cuộc sống nhỏ của tác phẩm… Để đạt mục tiêu  
tích hợp một cách tích cực, khi sử dụng thuyết trình cần chú ý lựa chọn nội dung và chú  
ý cách thức thuyết trình, đặc biệt là thuyết trình nêu vấn đề để qua đó, HS không chỉ  
nắm đƣợc kiến thức phong phú, tinh chọn mà còn hình thành đƣợc kĩ năng thuyết trình,  
kĩ năng giải quyết vấn đề.  
4.2. Nêu vấn đề (problem identifying and solving): Đây là một phƣơng pháp dạy học  
khó nhƣng nếu thực hiện đƣợc sẽ mang lại hiệu quả dạy học hay, đặc biệt rất đắc dụng  
trong việc phát triển tƣ duy biện chứng và hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho  
HS. Mấu chốt của phƣơng pháp này là phát hiện đƣợc vấn đề, tạo tình huống có vấn đề  
và vật chất hóa thành câu hỏi nêu vấn đề để HS phải động nảo tƣ duy lựa chọn, giải  
thích, phản biện… và từ đó khám phá đƣợc tầng lớp ý nghĩa ngầm ẩn của tác phẩm  
cũng nhƣ hình thành đƣợc nhiều năng lực tƣ duy tƣơng ứng, cụ thể hóa thành năng lực  
đọc văn và hƣớng tới hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng sống.  
4.3. Thảo luận nhóm (group discussion), Semina: Nhóm phƣơng pháp này cũng trực  
tiếp hƣớng tới mục tiêu tích hợp kiến thức và kĩ năng. Để sử dụng thành công phƣơng  
pháp này, GV cần chú ý từ khâu lựa chọn vấn đề để tìm hiểu, thảo luận cũng nhƣ tổ  
chức HS làm việc chặt chẽ, đảm bảo mọi thành viên đều tham gia giải quyết vấn đề  
đƣợc giao. Có nhƣ vậy, HS không những tự thu nhận đƣợc kiến thức phong phú mà còn  
hình thành đƣợc nhiều kĩ năng tƣơng ứng nhƣ kĩ năng giải quyết vấn đề, trình bày vấn  
đề, giao tiếp, hợp tác…  
4.4. Vấn đáp (questioning and answering): là phƣơng pháp mà sự tƣơng tác giữa HS –  
HS, GV – HS đƣợc thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi. Để có thể sử dụng hệ thống  
câu hỏi theo định hƣớng tích hợp trong giờ dạy học Ngữ văn, GV cần chú ý xây dựng  
hệ thống câu hỏi theo hƣớng phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, chú ý  
tính logic, tính hệ thống, tính liên tục; đa dạng hóa các dạng câu hỏi từ câu hỏi tái hiện  
kiến thức, câu hỏi liên hệ, so sánh, câu hỏi vận dụng giải quyết vấn đề, câu hỏi sáng  
tạo… Qua đó, HS vừa tái hiện kiến thức, tiếp nhận kiến thức, vận dụng kiến thức…  
162  
Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy học theo định hƣớng tích hợp, giờ dạy học Ngữ  
văn cần đặc biệt chú ý khâu luyện tập, củng cố (practicing and consolidating). Đây là  
giai đoạn tổng hợp và vận dụng kiến thức một cách cao độ. GV cần dành khoảng thời  
gian hợp lí và có thiết kế cụ thể các dạng câu hỏi, bài tập luyện tập, củng cố để hoạt  
động này thực sự có hiệu quả chứ không phải mang tính hình thức, chỉ cho đủ bƣớc.  
5.  
Trên đây là những phân tích ban đầu, những đề xuất mang tính gợi ý cho những  
công trình nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về sau. Trong phạm vi một bài viết ngắn  
chúng tôi không tham vọng có thể trình bày trọn vẹn một lí thuyết dạy học nhƣng bài  
viết mong muốn khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của tích hợp trong việc biên soạn  
chƣơng trình, sách giáo khoa mới cũng nhƣ việc dạy học Ngữ văn ở THPT.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chƣơng trình giáo dục phổ thông cấp THPT, Nxb Giáo dục,  
2006.  
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hƣớng dẫn thực hiện chƣơng trình, sách giáo khoa môn  
Ngữ văn, Lớp 10 (Nxb Giáo dục, 2006), lớp 11 (NXB Giáo dục, 2007), lớp 12 (Nxb  
Giáo dục, 2008).  
3. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (bộ  
Cơ bản), Nxb Giáo dục, 2010.  
4. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 10, 11, 12 (bộ Nâng  
cao), Nxb Giáo dục, 2010.  
5. Đỗ Ngọc Thống, Tìm hiểu chƣơng trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ  
thông, Nxb Giáo dục, 2006.  
163  
pdf 7 trang baolam 21860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tích hợp - một nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa, một định hướng tổ chức dạy học ngữ văn ở trung học phổ thông không bao giờ cũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftich_hop_mot_nguyen_tac_bien_soan_sach_giao_khoa_mot_dinh_hu.pdf