Sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
SỰ ĐA DẠNG TRONG GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT  
CỦA TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU  
Đoàn Thị Huệ1  
TÓM TẮT  
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn có phong cách khá đặc biệt. Quá trình sáng  
tác của ông không tách rời quá trình trăn trở tìm tòi một hệ thống giọng điệu đa  
dạng, thích hợp với tác phẩm. Bài viết là một hướng nghiên cứu của tác giả trong  
việc tìm hiểu các sắc thái đa dạng trong giọng điệu trần thuật của truyện ngắn  
Nguyễn Minh Châu. Đây cũng là một trong những yếu tố chính góp phần làm nên  
phong cách trần thuật rất ấn tượng của nhà văn.  
Từ khóa: Truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu, giọng điệu trần thuật  
1. Mở đầu  
tình, ấm áp, thân thương; giọng triết lý,  
suy ngẫm, phẩm bình; giọng bình thản,  
bàng quan mà đằm sâu, se sắt; giọng hài  
hước, dí dỏm, bông đùa. Đó cũng là bốn  
giọng điệu trần thuật chính góp phần  
tạo nên một phong cách trần thuật rất ấn  
tượng của Nguyễn Minh Châu mà trước  
hết là “cái duyên” kể chuyện của một  
nhà văn vốn rất nặng nợ với đời.  
Bàn về giọng điệu trần thuật trong  
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Tôn  
Phương Lan đã viết: “Có một giọng  
điệu trữ tình xuyên suốt nhiều sáng tác  
của Nguyễn Minh Châu” [1, tr. 161].  
Cùng quan tâm đến vấn đề này, Phong  
Lê nhận định: “Đúng là Nguyễn Minh  
Châu là người có giọng điệu riêng mà  
nói đúng hơn anh là người đa giọng  
điệu” [2, tr. 299].  
Có thể nói, một trong những nét đặc  
sắc của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu  
chính là sự đa dạng ở các sắc thái trong  
giọng điệu trần thuật. Ứng với mỗi tác  
phẩm, mỗi vấn đề của truyện, mỗi nhân  
vật mà tác giả lựa chọn một giọng điệu  
trần thuật thích hợp. Giọng điệu đó  
được thể hiện ở điểm nhìn của tác giả, ở  
mối quan hệ giữa tác giả đối với vấn đề  
được thuật kể. Đây cũng là phương tiện  
trực tiếp thể hiện thái độ, cảm xúc của  
nhà văn đối với cuộc sống. Đọc truyện  
ngắn Nguyễn Minh Châu, ở cả hai giai  
đoạn trước và sau 1975, người đọc  
không khó để nhận ra hành trình trăn  
trở tìm tòi một hệ thống giọng điệu trần  
thuật thích hợp cho tác phẩm của tác  
giả. Đã có sự góp mặt của bốn sắc điệu  
trần thuật đậm nét trong truyện ngắn  
Nguyễn Minh Châu. Đó là giọng tâm  
2. Nội dung  
2.1. Truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu ngọt ngào giọng điệu trữ tình, ấm  
áp, hồn hậu  
Ở giai đoạn sáng tác trước 1975,  
chịu sự chi phối của “khuynh hướng sử  
thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng  
anh hùng”, truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu đi về giọng điệu trần thuật trữ tình  
ấm áp, hồn hậu thể hiện ở thái độ trân  
trọng, niềm tin tưởng và tình cảm yêu  
thương của tác giả trước vẻ đẹp của quê  
hương xứ sở, vẻ đẹp của tình người  
trong hoàn cảnh đất nước có chiến  
tranh. Đó là chất giọng gắn liền với cảm  
xúc ngợi ca khi viết về những người  
lính cao xạ (Mùa hè năm ấy, Câu  
chuyện trên trận địa, Những vùng trời  
khác nhau), về những nam nữ thanh  
niên xung phong, những anh cán bộ  
cách mạng, những cá nhân tích cực yêu  
nước, giàu tinh thần trách nhiệm, nhiệt  
1Trường Đại học Đồng Nai  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
tình trong tăng gia sản xuất, anh dũng  
trong chiến đấu (Buổi tập cuối năm,  
Gốc sắn, Đất rừng, Chuyện đại đội,  
Mảnh trăng cuối rừng…).  
thử phỏng đoán những giấc mơ và cuộc  
đời khác nhau trên các khuôn mặt các  
chiến sĩ của mình như mới gặp họ lần  
đầu, trong lòng có muôn cánh bướm  
đập nhè nhẹ mà náo nức” (Sau một buổi  
tập) [5, tr. 542]. “Trước nòng pháo của  
Doãn là những cồn cát trắng tinh tưởng  
đi không bao giờ hết. Khi trời sáng hẳn,  
người pháo thủ chính thức đưa mắt lên  
quan sát bầu trời, mà sao bầu trời cũng  
xanh một màu xanh của vịnh biển?”  
(Câu chuyện trên trận địa) [5, tr. 783].  
Hình thức câu văn dài, nhịp điệu dàn  
trải, dấu chấm hỏi kết thúc câu đã phát  
huy tác dụng trong việc diễn tả tình cảm  
dạt dào tha thiết của người kể chuyện.  
Là tình yêu thương, lòng tự hào khi  
hướng đến vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh sắc  
quê hương, đến vẻ đẹp của tình quân dân  
trong lao động và chiến đấu; là tâm thế  
ngợi ca và ngưỡng vọng khi hướng đến  
cuộc kháng chiến của toàn dân, có thể  
nói nguồn cảm hứng chủ đạo ấy đã có  
những ảnh hưởng trực tiếp, chi phối sự  
hình thành và xuất hiện gần như xuyên  
suốt của giọng điệu trần thuật này trong  
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, đặc  
biệt ở giai đoạn trước 1975.  
Sau 1975, giọng điệu trần thuật  
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh  
Châu có nhiều thay đổi. Nhưng vốn  
được bắt nguồn từ niềm cảm xúc chân  
thành của tác giả đối với đất nước, con  
người nên chất giọng trữ tình ấm áp vẫn  
tiếp tục trở về trong nhiều đoạn mạch  
miêu tả cảnh sắc thiên nhiên giàu tính  
biểu cảm, gắn liền với cảm xúc nhiều  
dư vị, dư vang của người kể chuyện.  
Cỏ lau đồi hoang xanh biếc mơn mởn  
với những bông hoa như giát bạc vào nền  
trời mưa giông khiến cho “Chung quanh  
họ, những quả đồi mọc đầy thanh hao cằn  
Dấu ấn của giọng điệu trần thuật  
này được thể hiện ở việc tác giả lựa  
chọn từ ngữ, kiến tạo lời văn, nhịp  
điệu câu văn thích dụng để diễn tả  
cảm xúc chân thành của nhân vật. Là  
cảm xúc sâu lắng yêu thương của  
người kể chuyện khi anh cảm nhận:  
“Đêm nằm nghe tiếng suối chảy róc  
rách, thầm thì nho nhỏ thôi nhưng tôi  
thấy con suối sao mà gan góc và đáng  
kiêu hãnh” [3, tr. 5]. Câu văn dàn trải  
hơn bởi sự xuất hiện của nhiều thanh  
bằng 15/26 và các từ luyến láy tạo âm  
hưởng hài hòa “róc rách”, “thầm thì”,  
“nho nhỏ”, “gan góc”… góp phần tạo  
nên một giọng văn trữ tình tha thiết, thể  
hiện được cái đẹp của sự sống bất diệt  
ẩn mình trong dáng vẻ “gan góc” và  
“đáng kiêu hãnh” của từng con suối,  
dòng sông.  
Giọng điệu trần thuật mang màu sắc  
trữ tình nên lời văn trong truyện ngắn  
Nguyễn Minh Châu thường nhẹ nhàng và  
tuân thủ theo nhịp điệu của cảm xúc của  
người kể chuyện. Nguyễn Minh Châu  
thường dùng dạng câu văn dài, từ ngữ  
giàu hình ảnh tươi sáng thể hiện sự vận  
động theo chiều hướng tích cực của mạch  
truyện, tạo lập một kết thúc có hậu, mở ra  
niềm tin yêu, chứa chan hy vọng : “Tổ  
Quốc đang mặc áo giáp tiễn Phi ra đi  
hôm nay. Sông Hồng hiện ra ngay dưới  
chân, một vùng tiếng động xôn xao trên  
một cái mặt phẳng tối đen mênh mông  
lộng đầy gió. Phà sang bến bờ bên kia  
sông thì thành phố kéo còi báo động…”  
(Mùa hè năm ấy) [4; tr. 840]. “Tôi ngồi  
suốt buổi trưa bên giấc ngủ của tiểu đội,  
49  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
cỗi bỗng nhuốm một màu huyền bí và  
lòng cả hai trở nên phập phồng trong một  
không gian cũng đang phập phồng…”  
(Cơn giông) [3, tr. 231]. Có lúc chất  
giọng trữ tình này lại chan hòa trong bức  
tranh thiên nhiên giàu cảm xúc: “Thế rồi  
trong một đêm đông sáng trăng, cái vừng  
trăng khuyết rồi lại đầy…”, “Trăng sáng  
quá. Thứ ánh sáng vừa bâng quơ lạnh lẽo,  
vừa lai láng tràn đầy đến mức làm não cả  
lòng người” (Một lần đối chứng) [3, tr.  
356-357].  
Ở một trường hợp khác, trong thiên  
truyện cuối cùng của nhà văn - Phiên  
chợ Giát, người đọc cũng cảm nhận  
được chất giọng trữ tình ấm áp này luồn  
sâu trong cảm thức mơ hồ của nhân vật:  
“Lão nhớ lại cánh rừng ở trong giấc mơ  
với tàu lá xanh thẫm, cây lim lẫn thông  
già mọc trên vách đá, những con bò đã  
đi đứng trên vỉa núi đá đầy cheo leo hoặc  
bình yên gặm cỏ giữa những khoảng  
rừng bằng ngập đầy nắng. Trong đàn bò  
kia đã từng có mặt lão, cái dáng dấp  
thong dong và thư thái nhất trần đời của  
lão” [3, tr. 607]. Đoạn văn được cấu tạo  
bởi hai câu phức hợp đầy gợi cảm. Nó  
dựng được cả không gian rộng lớn với  
“cánh rừng” và “vách đá” và gợi tả được  
tâm trạng mơ hồ, vô định của lão Khúng  
khi một mình lọt thỏm giữa vùng không  
gian bao la. Tâm trạng ấy lan tỏa theo  
phức điệu thời gian, qua không gian để  
cuối cùng dừng lại ở giấc mơ hóa thân  
đầy hãi hùng của lão “trong đàn bò kia  
đã từng có mặt lão”.  
Có thể nói, giọng điệu trữ tình ấm  
áp hồn hậu đã là một giọng điệu quen  
thuộc có mặt trong hầu hết các truyện  
ngắn Nguyễn Minh Châu. Với giọng  
điệu trần thuật này, Nguyễn Minh Châu  
đã kiến tạo nên những trang văn dạt dào  
cảm xúc. Đó là những cảm xúc rất thật  
được bắt nguồn từ tấm lòng nhân ái rất  
mực yêu thương con người và cuộc đời  
của nhà văn.  
Ở Người đàn bà trên chuyến tàu tốc  
hành, chất giọng trữ tình thấm trong  
mạch suy tưởng của người kể chuyện về  
một chuyến tàu tốc hành sẽ đưa Quỳ trở  
lại với cuộc sống hôm nay: “Mỗi lá cỏ  
như thầm thì nhắc nhở về một mối tình  
sâu nặng, đẹp đẽ đã qua và lần này mặt  
đất lặng lẽ trao trả lại vào bàn tay chị  
trái tim hồng hào của chị. Chị bước lên  
con tàu sau khi cúi hôn lên một cái nắm  
đất một lần cuối cùng và đoàn tàu đang  
hổn hển băng mình lao vun vút đi giữa  
sông hồ, làng mạc, giữa hơi thở nóng  
hổi của cuộc đời, đem chị ra khỏi cánh  
rừng thiêng liêng để trao trả lại cho  
cuộc đời hiện tại” [3, tr. 202]. Hình thức  
câu văn dài, nhịp điệu câu văn dàn trải  
cùng sự xuất hiện nhiều tính từ, nhất là  
những từ biểu lộ sắc thái tình cảm “sâu  
nặng”, “đẹp đẽ”, “thiêng liêng”… tạo  
nên giọng điệu trữ tình quen thuộc như  
sợi dây xâu chuỗi các sự kiện giữa quá  
khứ, hiện tại và tương lai, nối liền hai  
bờ thực tại và mơ tưởng trong dòng cảm  
xúc của người kể chuyện, để từ đó cùng  
đi sâu vào quá trình khám phá thế giới  
nội tâm vừa đằm thắm vừa xốn xang  
trong dòng suy tưởng nhân vật, cũng là  
thế giới đầy ba động trong cảm thức của  
con người.  
2.2. Truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu thâm trầm, khắc khoải giọng điệu  
triết lý, phẩm bình  
Đặt trong bản hợp xướng anh hùng  
ca của văn học Việt Nam thời chống  
Mỹ cứu nước thì tinh thần trăn trở,  
muốn cắt nghĩa và lý giải là một nét rất  
riêng trong truyện ngắn Nguyễn Minh  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
Châu. Điều đó được thể hiện trong  
giọng điệu triết lý, suy ngẫm, phẩm  
bình vừa thâm trầm lại vừa khắc khoải,  
khi nghiêm khắc trong tiếng nói cảnh  
tỉnh lên án lúc lại nhẹ nhàng trong lời  
bộc bạch riêng tư.  
có thể vô tình dẫn đến tội lỗi (người họa  
sĩ – Bức tranh), sự bất nhẫn đầy hãnh  
tiến và xơ cứng tình người (Toàn – Mùa  
trái cóc ở miền Nam)… Nỗi đau trước  
hiện thực mới đó thêm lần nữa trĩu nặng  
trên từng trang viết, khắc khoải trong  
từng con chữ của Nguyễn Minh Châu.  
Ở Dấu vết nghề nghiệp, chất giọng  
Ở Nhành mai, người đọc nhận ra  
giọng điệu triết lý, suy tư này trong  
mạch cảm xúc chợt đến khi “tôi” nghĩ  
về con suối không tên xuôi hướng chảy  
về Tây Bắc: “Con sông nào mà chẳng  
có nguồn suối nhỏ đầu tiên” [3, tr. 6].  
Trong cuộc đời cũng vậy, có bao điều to  
tát, vĩ đại mà không bắt nguồn từ những  
điều rất giản dị, bình thường. Cũng như  
cuộc chiến vệ quốc vĩ đại mà dân tộc ta  
đang tiến hành, sẽ không là gì cả nếu sự  
ra đi của người chiến sĩ không vì để bảo  
vệ những cái rất quen thuộc thân tình:  
giếng nước, gốc đa, giấc ngủ trẻ thơ, nụ  
cười hạnh phúc trên môi bà môi mẹ…  
Ở Những vùng trời khác nhau, chất  
giọng triết lý ấy ẩn trong mạch suy  
ngẫm của người kể chuyện về giới hạn  
của hai từ “hạnh phúc”: “Hạnh phúc  
người ta trên đời chẳng biết đâu là  
cùng” [3, tr. 45].  
Đó là sự suy ngẫm đầy nghiêm túc  
về vấn đề hạnh phúc mà từ rất sớm  
Nguyễn Minh Châu đã trăn trở và về  
sau nhắc lại trong Bến quê, Chiếc  
thuyền ngoài xa, Cỏ lau… tạo thành  
giọng điệu chủ âm trong mảng sáng tác  
thuộc thể loại truyện ngắn của Nguyễn  
Minh Châu những năm sau 1975.  
Bên cạnh nhiều vấn đề cần nhận  
thức lại, nhất là tình trạng xuống cấp về  
nhân cách, phẩm giá đạo đức cùng tội  
ác nảy sinh ở một bộ phận người đã bị  
chiến tranh làm cho hư đi, nhà văn nhìn  
thấy ở đó có sự phản bội đớn hèn  
(Quang – Cơn giông), sự thờ ơ thất hứa  
triết lý ẩn sâu trong “cái sự nghiệt ngã  
và tình người trong bóng đá” [3, tr.  
319]. Một đời bắt bóng, một đời được  
vinh danh trên sân cỏ, người thủ thành  
ấy, trong những giây phút còn lại hiếm  
hoi của cuộc đời đã nghiệm ra rằng:  
“Con người ta thường xuyên không  
hoàn hảo nhưng có những khoảnh khắc  
hoàn hảo” [3, tr. 315]. Hay ở Bến quê,  
chất giọng triết lý được thể hiện đằm  
sâu trong niềm thao thức của Nhĩ về  
một bến đỗ bình an và hạnh phúc của  
đời người. Nhĩ không phủ nhận tất cả  
những gì anh đã đi qua và cống hiến  
nhưng cũng luôn u hoài, pha lẫn nuối  
tiếc, xót xa khi chợt nhận ra những giá  
trị tinh thần đích thực trong những điều  
giản dị, bình thường. Qua mỗi phút giây  
bừng ngộ của nhân vật, giọng điệu trần  
thuật lại trầm xuống với nỗi niềm khắc  
khoải. Nhĩ đã từng đi khắp nơi nhưng  
anh chưa từng đặt chân đến bãi bồi bên  
kia sông Hồng mà nay đối với anh đó  
đã là một điều không thể. Nhĩ đã có gia  
đình bao nhiêu năm nhưng nay chợt  
nhận ra một điều rất lạ: “Lần đầu tiên  
Nhĩ để ý thấy Liên mặc tấm áo vá” [3,  
tr. 322]. Là một phát hiện lại nhưng  
cảm xúc vẫn tươi nguyên trong tâm tình  
của người chồng, người cha thấy hết  
được ý nghĩa của hai tiếng gia đình:  
“Nhĩ đã tìm thấy nơi nương tựa trong  
những ngày này” [3, tr. 326].  
51  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
Đến Người đàn bà trên chuyến tàu  
tốc hành, chất giọng triết lý thấm đẫm  
trong mạch trần thuật đậm chất suy tư  
của Quỳ sau mỗi chuyến tàu tốc hành  
dằng dặc quanh co và phức tạp của đời  
người: “Đến bây giờ tôi mới hiểu được  
trong tất cả mọi sự mất mát, thì mất một  
con người là không có gì bù đắp được,  
không sao lấy lại được” [3, tr. 160].  
Tính triết lý trong câu nói không dừng  
lại ở khái niệm giản đơn về sự sống và  
cái chết theo ý nghĩa sinh học mà nó  
còn có khả năng vượt lên một tầng ý  
nghĩa khác mang tầm khái quát hơn.  
Chiến tranh không chỉ đơn giản là “máu  
và hoa” mà chiến tranh còn là điều  
nghịch lý muôn đời khó giải. Chúng ta  
bước vào cuộc chiến vì muốn bảo vệ  
cuộc sống hạnh phúc của con người  
nhưng chính cuộc kháng chiến đó đã  
cướp mất đi của chúng ta bao nhiêu con  
người quý giá.  
Ở chỗ khác, chất giọng triết lý ấy  
lặng trong giây phút bừng ngộ của Quỳ:  
“Tôi ngạc nhiên đến sững sờ trước sức  
tưởng tượng kỳ diệu của người thợ chạm  
gỗ, bất chợt trong giây phút đã mách bảo  
cho tôi thấy trí tuệ và niềm mơ ước của  
nhân dân là không bao giờ mất được, là  
bất tử” [3, tr. 163-164]. Đó là sự thấu  
hiểu với niềm ngưỡng vọng của tác giả  
về sự sống bất diệt của “trí tuệ và niềm  
mơ ước của nhân dân”. Giữa muôn vàn  
điều rất thật của cuộc đời có thể bị chiến  
tranh phá hủy, kể cả sinh mệnh con  
người là cái quý giá nhất, thì chỉ có “trí  
tuệ và niềm mơ ước của nhân dân” là  
điều không bao giờ mất. Như thế, cái  
mất mát, đau thương chỉ tồn tại như  
phông nền để từ đó sự tin yêu và lòng  
ngưỡng vọng của con người cất lên  
những giai điệu đẹp đẽ nhất.  
Sau Người đàn bà trên chuyến tàu  
tốc hành, giọng điệu triết lý này tiếp tục  
được gặp lại ở Cỏ lau, Chiếc thuyền  
ngoài xa, Phiên chợ Giát… hình thành  
nên chuỗi nhận định, cắt nghĩa và lý  
giải của nhà văn về bao vấn đề hiện tồn  
trong cuộc sống.  
Ở Cỏ lau, thật ý vị trong lời nhận  
định của một lão nông về “người đàn  
bà”: “Đàn bà cũng là đất. Phàm cái gì  
thấm nước, phải có nước mới sống  
được đều thuộc về thổ mộc hết (…).  
Đàn bà phải chứa đầy nước mắt trong  
người mới là đàn bà” [3, tr. 507]. Trong  
suy nghĩ của người nông dân, cuộc sống  
con người không tách rời đất và nước.  
Đàn bà cũng như đất, đàn bà lại chứa  
đầy nước. Vai trò quan trọng của người  
đàn bà đối với cuộc sống con người  
được cảm nhận thật hồn hậu và tự nhiên  
trong cách suy nghĩ của người nông dân  
chân chất. Không chỉ triết lý về hòn đất,  
người nông dân ấy còn triết lý cả về  
cách tạo ra con người và nhu cầu cần có  
con người là cấp thiết như thế nào khi  
muốn biến mảnh đất rừng thành hòn đất  
thuộc “Cái kho người nằm trong bụng  
vợ chứ ở đâu xa? (…) Không có thật  
đông người làm sao dọn hết đá? Mà làm  
ra con người thì khó đếch gì?” [3, tr.  
380-381]. Ở đây giọng điệu triết lý  
thẳng thắn, trơn tuột, giản đơn trong  
cách nói, cách nghĩ của lão Khúng.  
Người đọc có thể mỉm cười trước  
những lời phát biểu “thẳng như ruột  
ngựa” và không kém phần ngây ngô,  
buồn cười ấy nhưng có ai dám bảo rằng  
lão Khúng nói sai.  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
Tuy nhiên giọng điệu triết lý với âm  
điệu bỗ bã, hồn nhiên này không xuất  
hiện nhiều trong truyện ngắn Nguyễn  
Minh Châu. Nổi bật ở đây là giọng điệu  
triết lý, suy ngẫm, phẩm bình trong âm  
điệu trầm buồn, khắc khoải, tha thiết và  
lắng sâu. Xuất hiện khắp trang truyện  
ngắn Nguyễn Minh Châu, chất giọng  
này thêm một lần giúp người đọc có  
những cảm nhận sâu sắc, thấm thía về  
nhiều điều còn bộn bề, phức tạp trong  
cuộc sống hôm nay. Đây cũng là nhân tố  
chính để độc giả hiểu hơn về nhà văn.  
2.3. Truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu với giọng điệu bình thản nhưng  
chất chứa bao điều sâu sắc  
Ở truyện ngắn, giọng điệu bình thản  
được hiểu là một biểu hiện tiêu biểu cho  
ý thức cách tân về tư duy nghệ thuật của  
Nguyễn Minh Châu. Giọng điệu này  
xuất hiện không nhiều, chủ yếu tập  
trung ở mảng sáng tác thuộc đề tài đời  
tư thế sự, như Mẹ con chị Hằng, Đứa  
ăn cắp, Lũ trẻ ở dãy K…  
Mẹ con chị Hằng, Lũ trẻ ở dãy K là  
những câu chuyện đời thường giản dị  
được trần thuật lại từ người kể chuyện  
ngôi thứ ba. Là người quan sát, dẫn dắt  
và kể lại, bình thản trong giọng điệu  
trần thuật, người kể rất ít đưa ra những  
lời bình giá, nhận xét về nhân vật, sự  
kiện, tình tiết trong câu chuyện. Ngoài  
lời thoại trực tiếp của nhân vật, lời văn  
trần thuật trong tác phẩm chủ yếu là lời  
gián tiếp một giọng với chức năng miêu  
tả và thuật kể: “Thế là bà cụ Huân đã ra  
ở với chị Hằng được mươi hôm. Chị  
vẫn đi làm. Trong khi chờ con gái sinh  
nở, bà cụ ở nhà với thằng Hùng, trông  
nom cháu. Thằng bé lên ba tuổi rưỡi”  
[3, tr. 237]. “Vậy là dần dần y như lần  
trước bà cụ Huân ra để giúp đỡ hồi chị  
sinh thằng Hùng, lần này chị Hằng lại  
sinh ra hay to tiếng, hay cau có với bà  
cụ” (Mẹ con chị Hằng) [3, tr. 246].  
Cùng với người kể chuyện ngôi ba  
mang điểm nhìn ngoại quan, giọng điệu  
trần thuật này đã góp phần gia tăng tính  
khách quan cho câu chuyện. Độc giả  
trực tiếp quyết định thái độ của mình  
đối với nhân vật và sự kiện.  
Đến với Lũ trẻ ở dãy K, người kể  
chuyện từ tốn kể ra một câu chuyện đời  
thường xoay quanh cuộc sống vốn  
không có gì đặc biệt của nhiều thế hệ  
người trong một khu tập thể. Ở đó có cô  
Hoằng. Cô Hoằng là người miền Nam,  
rất hồn nhiên, vô tư và mới dọn đến ở  
khu này: “Cô Hoằng là người miền  
Nam đã vào trạc xấp xỉ năm mươi, rất  
thích ăn mặc và hay khoe. Nhà ở cùng  
dãy, hai vợ chồng đi làm suốt ngày” (Lũ  
trẻ ở dãy K) [3, tr. 288].  
Theo đó, câu chuyện về cô Hoằng,  
một phụ nữ miền Nam vừa mới dọn  
đến dãy K, cùng những thói quen trong  
sinh hoạt hằng ngày của cô và những  
người trong khu tập thể, việc cô gây  
náo động cả khu tập thể vì tính đểnh  
đoảng của mình, cả việc mọi người  
càng yêu quý cô hơn vì việc cô đứng ra  
bảo lãnh cho thằng Huấn về với gia  
đình… cứ tuần tự diễn ra một cách tự  
nhiên trong mạch trần thuật vô tư của  
người kể chuyện. Không đả kích, phê  
phán, cũng như không hô hào hay lên  
tiếng khẳng định điều gì, vẫn giọng  
điệu trần thuật bình thản, người kể  
chuyện kể việc, nêu vấn đề cùng diễn  
tiến của sự việc. Phần còn lại của độc  
giả. Độc giả tiếp nhận câu chuyện,  
bình giá sự kiện, tự chọn cho mình một  
53  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
cách sống thích hợp. Bài học nhân thế  
trở nên nhẹ nhàng, bình dị và tự nhiên  
hơn trong sự tiếp nhận của bạn đọc.  
Cùng với đó, Đứa ăn cắp là một tác  
phẩm khác được dẫn ra trên cái nền  
chung là giọng trần thuật cố gắng khách  
quan của tác giả, góp phần tạo nên bộ ba  
tác phẩm liên hoàn bàn về tính vô tâm,  
vô tư của con người (đặc biệt là những  
người đàn bà trong khu tập thể). Chỉ là  
một thói quen hồn nhiên của con người,  
chỉ là sự nghi kỵ thường thấy ở những  
người đàn bà trong khu tập thể, cốt  
truyện hầu như không có biến cố gì nổi  
bật, kể cả cái chết của một con người.  
“Tôi” điềm nhiên chứng kiến tất cả, lướt  
qua từng gương mặt với từng thái độ ứng  
xử cụ thể của mỗi người trong khu tập  
thể và kể lại: “Lòng thương cảm của  
những người đàn bà mỗi lúc mỗi dào  
dạt, mỗi lúc một nhân lên mãi mãi, cũng  
y như ngày xưa, chỉ trước đây hơn một  
tháng, cũng vẫn những người đàn bà ấy,  
chị áo bông, chị áo len xanh, chị xách xô  
nước…đã từng kêu lên những lời căm  
phẫn: “tại sao không tống cổ nó đi ngay!  
Tại sao ông Quân không giải quyết cho  
con Thoan về nhà quê ngay, mà cứ để  
cho nó nán lại đây thêm một ngày, một  
giờ làm cái gì, hở?” [3, tr. 252], và  
“Những người đàn bà trong khu gia đình  
lấy làm khổ sở, như phải chịu đựng một  
thứ tai họa, việc con Thoan vẫn còn  
được ở lại, vẫn còn được nấn ná trong  
khu gia đình (…). Những người đàn bà  
lại kêu lên” [3, tr. 254].  
bình dị lại càng bình dị như vẫn có  
ngoài đời. Tính hư cấu nghệ thuật trong  
câu chuyện được giảm thiểu, khoảng  
cách giữa độc giả và câu chuyện được  
rút ngắn. Bình thản trong giọng điệu  
trần thuật nhưng không có nghĩa là  
người kể chuyện hoàn toàn dửng dưng  
vô cảm trước những con người trong  
Mẹ con chị Hằng, Lũ trẻ ở dãy K, Đứa  
ăn cắp. Họ vốn không là người xấu, độc  
ác. Nhưng do nông cạn và vô tâm họ đã  
vội vàng hành động mà không hề nghĩ  
đến những hệ lụy sau đó. Như vậy, nếu  
như giọng triết lý, suy ngẫm phẩm bình  
tỏ ra phù hợp với kiểu nhân vật suy tư,  
sám hối, luôn băn khoăn trăn trở về sự  
hay dở, đúng sai của đời mình thì ở đây,  
giọng điệu bình thản, tự nhiên cũng đã  
rất phù hợp với hệ thống nhân vật là  
những con người bình thường, có cách  
sống hồn nhiên ngây thơ và tin vững  
chắc vào cách sống của người (chị  
Hằng, cô Hoằng, những người đàn bà  
trong khu tập thể). Dư luận xã hội và  
thậm chí lương tâm có thể bỏ qua cho  
họ vì cho rằng đó là chuyện nhỏ nhặt  
không đáng quan tâm. Nhưng người  
nghe, với tư cách là người sống có trách  
nhiệm và công tâm, sẽ phải quan sát,  
lắng nghe thật tỉ mỉ để nhận thức sâu  
sắc tính chất bi hài, đau xót của thói tục  
trong con người họ.  
Vô tư chứng kiến, vô tư kể chuyện  
nhưng nghiêm khắc và sắc sảo trong  
cách nhìn, Nguyễn Minh Châu đã thông  
qua câu chuyện kể của mình, thông qua  
nhân vật đời tư thế sự, mượn giọng điệu  
trần thuật bình thản làm chất xúc tác để  
lật giở hai mặt phải trái của cuộc đời, để  
mọi người kể cả những người vô tâm và  
thờ ơ nhất cũng phải bàng hoàng nhận  
Tính chủ quan vốn có của người kể  
chuyện ngôi thứ nhất không được phát  
huy. Giọng điệu trần thuật bình thản đã  
giấu đi thái độ của người kể chuyện,  
góp phần làm cho câu chuyện vốn đã  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
lão Khúng. Đấy đích thực là một lão  
nông chân chất, chỉ quen bầu bạn với  
đất, đá với nắng và gió của xứ biển  
miền Trung. Ngay trong giọng điệu hài  
hước, hóm hỉnh ấy, tính vô thần ở con  
người lão Khúng cũng được thể hiện.  
Xuất phát từ việc phát hiện mâu  
ra hậu quả nặng nề và dai dẳng của thói  
tục đời thường, tự soát xét và tìm ra cho  
mình một hướng đi đúng với một lẽ đời  
tích cực.  
2.4. Truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu hài hước, dí dỏm với giọng điệu  
trần thuật nhiều kịch tính  
thuẫn bên ngoài của sự vật, hiện tượng,  
giọng điệu trần thuật hài hước còn góp  
phần tạo nên tiếng cười thoải mái, nhẹ  
nhàng cho câu chuyện kể, đưa vấn đề  
của truyện đến gần hơn với sự tiếp nhận  
của người học. Người đọc có thể bắt gặp  
tiếng cười này ở Hương và Phai, một  
trong những sáng tác thuộc mảng đề tài  
thế sự của nhà văn. Ngay từ đầu câu  
chuyện, cái hóm hỉnh, hài hước trong  
giọng điệu trần thuật đã được thể hiện  
qua những dòng trữ tình ngoại đề: “Nói  
cho thật khách quan và công bằng, anh  
Định và chị Phấn của chúng nó sắp trở  
thành vợ chồng như sắp tới đây, té ra là  
do sự sắp đặt của chúng nó, hai đứa trẻ  
nhỏ này, chứ cũng chẳng phải ông tơ, bà  
nguyệt nào sất ráo!” [3, tr. 274].  
Đôi khi, giọng điệu trần thuật này  
thể hiện rõ ở lời nói và ngữ điệu của hai  
đứa nhóc khi chúng cùng bàn bạc  
chuyện trọng đại của đời người: “Vậy là  
chúng nó sang bàn với nhau: Phải làm  
sao đưa được chị Phấn sang bên nhà cái  
Hương, để chị Phấn biết nhà cửa và mặt  
mũi anh Định cái đã” [3, tr. 275] hay  
khi đưa ra lý do chính đáng cho xu  
hướng chọn sách của chúng: “Không  
bao giờ chúng thèm đọc những cuốn  
sách người ta cố ý viết cho trẻ con bởi  
đọc những cuốn ấy chúng thấy gần như  
bị người lớn nhại, thật khó chịu!” [3, tr.  
277]. Từ đó, tác giả tái hiện trước mắt  
người đọc đã tái hiện sinh động thế giới  
trẻ con tinh nghịch, dí dỏm và thật đáng  
Quan tâm đến việc phản ánh một  
phương diện khác của hiện thực, phát  
hiện ra những bất ổn trong cách nghĩ,  
cách sống của một bộ phận con người  
Việt Nam giai đoạn sau 1975, truyện  
ngắn Nguyễn Minh Châu bấy giờ cũng  
đa dạng hơn với giọng điệu trần thuật  
hài hước, dí dỏm mang nhiều kịch tính.  
Nó xuất hiện trong một vài đoạn mạch  
trần thuật, trong dòng suy nghĩ của nhân  
vật: “Lúc tỉnh dậy, anh chỉ thấy cái bờ  
đất của con đường tàu bỏ hoang, kéo  
dài một vệt sau lưng. Anh chỉ kịp nghĩ  
“Nếu bây giờ muốn bắn anh, chúng  
phải sử dụng hỏa lực cầu vồng chứ súng  
bắn thẳng chẳng làm gì được nữa” (Cơn  
giông) [3, tr. 229]. Ở đây, giọng điệu  
hài hước được đặt trong lời độc thoại  
nội tâm của Thăng khi anh vừa tỉnh dậy  
sau cơn mưa đạn rượt đuổi điên cuồng  
của kẻ thù. Trong tình huống “thập tử  
nhất sinh”, Thăng còn hài hước như  
vậy. Đó là cách thể hiện linh hoạt của  
nhà văn về tinh thần thép của người  
chiến sĩ cách mạng.  
Ở Phiên chợ Giát, giọng điệu trần  
thuật hài hước nhập vào dòng suy nghĩ  
mơ hồ mà chất phát, ngây thơ của lão  
Khúng: “Vậy mà khổ chưa kìa, không  
biết cơ man nào là sao, có ít ỏi đâu, các  
chư vị đang thi nhau nhấp nháy, đang  
toát mồ hôi hột ra để rặn ra thứ ánh  
sáng như đàn bà rặn đẻ” [3, tr. 594].  
Giọng điệu trần thuật này phù hợp với  
tính cách bỗ bã, quen nghĩ gì nói đó của  
55  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
yêu, Đôi lúc, từ cách nghĩ và cách nói  
thành thật của con trẻ mà người lớn  
chúng ta lại trở thành đối tượng gây  
cười cho chính mình.  
góp phần làm sáng tỏ thêm nội dung tư  
tưởng của tác phẩm, tạo nên một cách  
hiểu tập trung và sâu sắc hơn ở phía  
người tiếp nhận.  
Nhìn sự vật, hiện tượng từ cái buồn  
cười, sử dụng giọng điệu trần thuật hài  
hước, hóm hỉnh, Nguyễn Minh Châu đã  
tạo nên không khí vui nhộn, đem lại cho  
độc giả nụ cười nhẹ nhàng, vô thưởng,  
vô phạt. Điều này cũng thật phù hợp với  
tấm chân tình nhẹ nhàng và dịu dàng  
của tác giả khi viết về những con người  
chân chất, hiền lành.  
Bên cạnh đó, tiếng cười trong  
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng  
gắn với những thói hư tật xấu của con  
người. Đó là chất giọng hài hước mang  
phong vị trào tếu, hoạt kê, đả kích, phê  
phán. Đọc Mùa trái cóc ở miền Nam,  
người đọc cảm nhận được bao điều phải  
nghĩ về một sự thật bất thường đang  
diễn ra trước mắt. Thời bình mà thủ  
trưởng và ký giả muốn ghé thăm một  
doanh trại lại khó khăn đến mức: “Lối  
ra vào cổng cả lối cho xe ra vào ở giữa  
cũng như lối hai bên đã bi bịt kín bằng  
những chiếc cự mã làm bằng những  
cuộn dây thép gai, y như một bầy nhím  
khổng lồ đang giương lông lên trước  
mũi xe chúng tôi” [3, tr. 526] trong khi  
“thời thằng Mỹ ngày xưa, cái cổng này  
ban ngày vẫn mở” [3, tr. 526].  
Ở Sắm vai, giọng điệu trần thuật  
này nổi lên như một âm chủ chi phối  
mạch trần thuật: “Từ ngày rắp tâm tập  
tễnh thử viết một cái truyện ngắn đầu  
tiên…” [3, tr. 258] đến khi quan sát  
thấy người ở đối diện nhà mình với  
những thói quen trong sinh hoạt đã  
thành công thức: “Ví dụ, vào khoảng  
sáu giờ sáng hoặc trễ hơn mấy phút,  
ngay trên đầu anh ở tầng ba, có một ông  
đầu hói bóng không còn một sợi tóc  
nào, vậy mà đến cái giờ đó, cũng cầm  
một cái lược chải lật những sợi tóc  
tưởng tượng từ đàng trước trán ra sau  
gáy, bàn tay cầm lược chải đến đâu thì  
bàn tay kia miết tóc đến đấy, như sợ có  
một sợi tóc bướng bỉnh không chịu ốp  
sát vào bộ tóc” [3, tr. 259].  
Có thể nói, dù xuất hiện không  
nhiều nhưng giọng điệu trần thuật này  
đã có một vai trò không nhỏ trong việc  
góp phần hình thành nên một phong  
cách trần thuật Nguyễn Minh Châu  
phong phú, đa dạng và đặc sắc. Hướng  
đến nhiều đối tượng gây cười khác nhau  
nhưng nhìn chung tiếng cười trong  
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thường  
có giá trị mua vui, nhận thức, xây dựng  
hơn là châm biếm, đả kích và phê phán.  
Ứng với tạng văn Nguyễn Minh Châu  
thì ẩn trong chất giọng hài hước mang  
tính kịch này, phía sau nụ cười thường  
vẫn là bao điều suy ngẫm về cái sự thật  
rồi nó sẽ vào tận ngõ mỗi nhà.  
Khác với tiếng cười vỗ mặt sâu cay  
thường thấy trong sáng tác của Nguyễn  
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, tiếng  
cuời ở đây tuy mang màu sắc châm  
biếm, phê phán nhưng còn nhẹ nhàng,  
hướng đến sự nhận thức và mang tính  
xây dựng hơn là sự thù địch, đả kích.  
Kết hợp với giọng triết lý, suy ngẫm,  
phẩm bình – giọng chủ âm trong câu  
chuyện kể, giọng điệu trần thuật này  
3. Kết luận  
Trước 1975, chịu ảnh hưởng của  
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng  
mạn cách mạng anh hùng, truyện ngắn  
56  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
Nguyễn Minh Châu luôn ấn tượng  
người đọc ở giọng điệu trữ tình ấm áp,  
hồn hậu thiên về khẳng định, ngợi ca là  
chính. Sau 1975, chiến tranh đi qua, văn  
học Việt Nam cũng dần thay đổi. Khi  
đó, giọng điệu triết lý, suy ngẫm, phẩm  
bình được xem là dấu hiệu của sự kết  
tinh, lắng lọc những cảm xúc, trải  
nghiệm của tác giả về bao điều thật nhất  
giữa cuộc sống đời thường. Đi qua  
chiến tranh, số phận con người chịu  
nhiều thay đổi giữa hai điều bình ổn và  
bất ổn. Cái bình ổn tiếp tục trở lại trên  
trang viết Nguyễn Minh Châu với niềm  
xúc cảm chân thành, tin yêu và ngưỡng  
vọng thì cái bất ổn lại thức dậy trong  
câu chuyện kể của tác giả với niềm băn  
khoăn, trăn trở khôn nguôi về tình  
người, tình đời và một lẽ sống tích cực.  
Niềm trăn trở, băn khoăn đó, bên  
lời nói, cử chỉ, việc làm, từ đó trở thành  
đối tượng để người đọc phân tích, tìm  
hiểu và đánh giá trong sự quy chiếu của  
những chuẩn mực về giá trị nhân bản,  
nhân văn đã được xã hội thừa nhận.  
Ngoài ra, góp phần làm nên sự  
phong phú, đa dạng cho giọng điệu trần  
thuật của truyện ngắn Nguyễn Minh  
Châu còn phải kể đến giọng điệu trần  
thuật hài hước, dí dỏm mang tính kịch.  
Sự có mặt của giọng điệu trần thuật này  
đã góp thêm một nét vẽ làm đầy đặn hơn  
sự phong phú đa dạng và hấp dẫn trong  
nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn  
Nguyễn Minh Châu. Kết hợp với các  
giọng điệu trần thuật khác, nó tạo nên sự  
đa thanh, nhiều bè, nhiều giọng điệu cho  
trang truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,  
đánh dấu một bước trưởng thành trong  
tư duy nghệ thuật của tác giả.  
cạnh việc được thể hiện cụ thể, trực tiếp  
trong sự khắc khoải, đau đáu của giọng  
điệu trần thuật đậm tính triết lý, suy  
ngẫm, phẩm bình thì nó còn được thể  
hiện một cách gián tiếp và xuất hiện  
tương đối nhiều trong giọng điệu trần  
thuật bình thản nhẹ nhàng nhưng chất  
chứa bao điều sâu sắc. Với giọng điệu  
trần thuật này, tác giả đã cố ý tạo lập  
nên quyền bình đẳng giữa hình tượng  
tác giả trong tác phẩm với nhân vật và  
độc giả. Nhân vật tự thể hiện mình qua  
Xét đến cùng thì truyện ngắn  
Nguyễn Minh Châu là sự phức hợp đa  
âm, đa thanh về giọng điệu trần thuật  
nhưng chất giọng thâm trầm, suy ngẫm  
triết lý vẫn được xem là giọng chủ âm  
nổi bật nhất và phù hợp nhất đối với  
tạng người tạng văn của ông. Đó cũng  
là chất giọng góp phần đem lại hiệu quả  
nghệ thuật cao nhất, làm nên sức hấp  
dẫn riêng của truyện ngắn Nguyễn  
Minh Châu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb.  
Khoa học Xã hội, Hà Nội  
2. Nguyễn Trọng Hoàn (2007), Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm,  
Nxb. Giáo dục, Hà Nội  
3. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb.  
Văn học, Hà Nội  
4. Nguyễn Minh Châu (2007), Tác phẩm văn học đạt giải thưởng Hồ Chí Minh,  
Nxb. Văn học, Hà Nội  
57  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 20 - 2021  
ISSN 2354-1482  
5. Nguyễn Minh Châu (2001), Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 2, Nxb. Văn  
học, Hà Nội  
THE DIVERSITY OF NARRATIVE TONE  
USED IN THE SHORT STORIES BY NGUYEN MINH CHAU  
ABSTRACT  
Nguyen Minh Chau is a writer with quite a special style. His writing process  
does not separate the process of thinking about finding a system of diverse tones,  
suitable for the work. The article is a research direction of the author in  
understanding the diverse nuances of the narrative tone of the Nguyen Minh Chau  
short stories. This is also one of the main factors contributing to the writer's  
impressive narrative style.  
Keywords: Short stories, Nguyen Minh Chau, narrative tone  
(Received: 28/9/2020, Revised: 29/10/2020, Accepted for publication: 8/3/2021)  
58  
pdf 11 trang baolam 23720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_da_dang_trong_giong_dieu_tran_thuat_cua_truyen_ngan_nguye.pdf