Cơ sở hình thành tính mơ hồ đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
21  
CƠ SỞ HÌNH THꢀNH TÍNH MƠ HỒ ĐA NGHĨA  
TRONG NGÔN NGỮ THƠ  
Nguyễn Hồng Hạnh1  
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội  
Tóm tắt: Giới nghiên cứu và phê bình văn học ngày nay đã xác nhận hiện tượng mơ hồ  
đa nghĩa như là một đặc tính hữu cơ của văn học nói chung và của ngôn ngữ thơ ca nói  
riêng. Tính mơ hồ đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ là hiện tượng ngôn từ mang nhiều giá trị,  
nhiều ý nghĩa không xác định, thiếu minh xác, cho phép người đọc giải thích theo nhiều  
cách khác nhau với những liên tưởng và giả định thẩm mỹ khác nhau. Cơ sở hình thành  
của hiện tượng này là một quá trình bị chi phối bởi các yếu tố: từ quá trình tư duy nghệ  
thuật đến quá trình phản ánh, kết tinh thành ngôn từ nghệ thuật nhằm thỏa mãn đặc  
trưng bản chất của nghệ thuật thơ ca để từ đó tác phẩm đi vào thế giới tiếp nhận của  
người đọc. Con đường khám phá và sáng tạo cái đẹp khiến cho ngôn từ thơ ca không  
ngừng được hoàn thiện, ngày càng mơ hồ, lung linh, đa sắc với trường ngữ nghĩa được  
mở ra vô tận.  
Từ khóa: mơ hồ, đa nghĩa, nghệ thuật thơ ca...  
1. MỞ ĐẦU  
Trong thực tế đời sống văn học nước ta những năm gần đây, việc hiểu, cắt nghĩa và  
đánh giá khác nhau đối với các tác phẩm văn học đặc biệt là với thơ ca đã và đang trở  
thành một hiện tượng thời sự. Trên bình diện lý thuyết, người ta cũng đã bắt đầu nói nhiều  
đến vấn đề tính đa nghĩa, mơ hồ của tác phẩm văn chương. Mặc dù chỗ này hay chỗ khác  
vẫn còn có những ý kiến chưa đồng tình, nhưng nhìn chung, phần lớn giới nghiên cứu và  
phê bình văn học ngày nay đã xác nhận hiện tượng mơ hồ đa nghĩa như là một đặc tính hữu  
cơ của nghệ thuật nói chung và của văn học nói riêng. Nó xuất hiện khi một kí hiệu hay  
một hình tượng, trong cùng một lúc, một ngữ cảnh, có nhiều cách giải thích khác nhau, tạo  
nên sự hấp dẫn, khơi gợi sự chú ý, tồn tại lâu dài. Sự xác nhận này đồng nghĩa với việc phủ  
nhận chủ nghĩa duy thực trong văn học, nếu nghệ thuật mà giản đơn, thật thà, đọc đoạn đầu  
biết ngay đoạn kết thì tác phẩm còn được mấy phần hứng thú?  
1
Nhận bài ngày 06.07.2016; gửi phản biện và duyệt đăng ngày 20.08.2016  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Hồng Hạnh; Email: [email protected]  
22  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
2. NỘI DUNG  
2.1. Lịch sử hình thành khái niệm  
Thực ra, tính mơ hồ, đa nghĩa của các hình tượng và tác phẩm nghệ thuật đã được  
nhận biết từ lâu trong lịch sử nghệ thuật của thế giới. Các nghệ sĩ bậc thầy trong quá khứ  
đã nhiều lần lưu ý đến tính chất mơ hồ, đa nghĩa đầy thú vị của văn chương và nghệ thuật  
trong sự tiếp nhận của người đọc, người nghe, người thưởng thức. L. Tolstoy thích nhắc  
đến câu châm ngôn nổi tiếng: “Những cuốn sách có số phận của riêng mình trong đầu bạn  
đọc”. Còn Anatole France thì khẳng định một cách chắc chắn rằng: “... không một câu thơ  
nào của Iliade và Thần khúc trong cách hiểu của chúng ta lại còn giữ nguyên được cái ý  
nghĩa mà thoạt đầu người ta gán cho nó” [1].  
Trong lịch sử mỹ học, tính đa nghĩa cũng được ý thức từ rất sớm ở cả phương Đông  
lẫn phương Tây. Ở phương Tây, có lẽ I. Kant – nhà triết học và mỹ học cổ điển Đức – là  
người đầu tiên nêu ra ý tưởng về tính đa nghĩa của các hình tượng và biểu tượng nghệ thuật  
mà ông gọi là các “ý niệm thẩm mỹ”. Còn ở phương Đông, người xưa cũng đã không ít lần  
nói đến cái bản chất hàm súc, thâm diệu của văn chương và cùng với đó là sự phức tạp, đa  
dạng của hoạt động tiếp nhận nơi người đọc. Lưu Hiệp – nhà lý luận kiệt xuất của Trung  
Hoa cổ đại – cho rằng: “Tác phẩm văn chương sở dĩ phức tạp là vì nội dung và hình thức  
đều đa dạng, (...). Mỗi người đều chỉ giải thích theo một khía, lấy nó để tìm hiểu [văn  
chương là] cái biến đổi vạn nơi” [2].  
Đối với nghiên cứu và phê bình văn học hiện đại thế giới, mặc dù đã được đề cập đến  
ít nhiều từ trước đó, nhưng phải đợi đến sự xuất hiện của công trình Bảy loại mơ hồ đa  
nghĩa (Seven types of Ambiguity – 1930) của nhà Phê bình Mới William Empson, tính đa  
nghĩa mới được chú ý quan tâm một cách rộng rãi ở phương Tây như là một trong những  
đặc trưng cốt yếu của văn học, đặc biệt là của thơ ca.  
Như vậy, khái niệm mơ hồ hóa trong văn học đã được bàn đến từ rất lâu bởi nó là  
thuộc tính thú vị của nghệ thuật ngôn từ. Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu đi  
trước, chúng ta có thể rút ra một quan niệm về mơ hồ hóa ngôn từ như sau: Ngôn từ mơ hồ  
hóa là ngôn từ mang nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa không xác định, thiếu minh xác, cho phép  
người đọc giải thích theo nhiều cách khác nhau với những liên tưởng và giả định thẩm mỹ  
khác nhau.  
2.2. Cơ sở hình thành tính mơ hồ đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ  
2.2.1. Bản chất của tư duy nghệ thuật  
Văn học là sự phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ.  
Đó là quá trình người nghệ sĩ tiếp xúc với cuộc sống, nảy sinh cảm xúc, vật chất hóa cảm  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
23  
xúc bằng hệ thống ngôn từ biểu đạt các ý niệm và tình cảm đó. Văn học phản ánh thực tại  
cuộc sống trong tính tổng thể bao la, trong chiều sâu thăm thẳm, trong khả năng biến đổi  
thường xuyên, trong sự vận động không ngừng, trong bản chất tinh thần phong phú, đầy  
bất ngờ, bí ẩn. Để có thể làm được điều này, người nghệ sĩ cần một tư duy nghệ thuật chủ  
động, sáng tạo. Mục đích của tư duy nghệ thuật là nhận thức, chiếm lĩnh đời sống, phản  
ánh đời sống bằng hình tượng nghệ thuật. Đặc trưng bản chất của tư duy nghệ thuật là tính  
mơ hồ, không xác định.  
Tư duy nghệ thuật tồn tại trên hai dạng thức cơ bản: tư duy hình tượng, cảm tính và tư  
duy tổng hợp, biện chứng.  
Tư duy hình tượng, cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Loại tư duy này làm sống  
lại trong trí nhớ hình ảnh đối tượng dựa trên sự tiếp xúc của tác giả cũng như người đọc  
với đối tượng. Khi tái tạo sự vật trong ý thức, tư duy hình tượng không chụp ảnh một cách  
máy móc mà còn bao hàm tình cảm, thái độ của con người với chính đối tượng đó.  
Bản thân hình tượng nghệ thuật là sự phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính  
chủ quan của người nghệ sĩ. Nhà thơ dùng kinh nghiệm cá nhân để chiếm lĩnh, lựa chọn,  
cải tạo, kết hợp tái hiện một sinh thể nghệ thuật. Vì thế tư duy nghệ thuật không bao giờ  
phản ánh hình tượng đồng nhất với hiện thực. “Cái thực đi vào nghệ thuật luôn nhằm để  
nói đến một cái khác ngoài nó, luôn bị mơ hồ hóa, nhòe đi, lớn lên, phong phú thêm, vừa  
thực vừa hư, vừa lý tính lại rất tình cảm, vừa phản ảnh hiện thức, vừa thấm đẫm cảm xúc,  
vừa là chính nó vừa là cái khác” [4]. Sự không trùng khít giữa hình tượng với chính nó  
ngoài đời là một đặc điểm tạo nên tính mơ hồ trong tư duy nghệ thuật. Tề Bạch Thạch nói  
“nghệ thuật hay ở chỗ không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời” [4] là để nói đến  
đặc tính thực – hư của tư duy hình tượng cảm tính.  
Bên cạnh lối tư duy hình tượng cảm tính, tư duy nghệ thuật còn mang bản chất của tư  
duy tổng hợp, biện chứng. Đó là kiểu tư duy nắm bắt sự vật trong cái tổng thế, trong các  
mối quan hệ, trong sự vận động, biến đổi không ngừng. Đây không những là phương thức  
đặc thù của tư duy nghệ thuật mà còn là đặc tính cơ bản của tư duy con người. Nó là một  
trong những nhân tố quan trọng tạo nên tính mơ hồ của hình tượng nghệ thuật. Hegel nói:  
“A không phải là A mơ hồ hơn là A = A hay A = B + C. Nếu diễn đạt một sự vật lúc đầu ở  
điểm A, sau đó ở điểm B thì ở cả hai điểm sự vật đều xác định và đứng yên. Nhưng nếu  
diễn đạt sự vật trong trạng thái vận động thì phải nói sự vật vừa ở A, vừa không ở A” [5].  
Rõ ràng khi tư duy theo phương thức tổng hợp biện chứng, người nghệ sĩ sẽ luôn nhìn sự  
vật và tái tạo thành hình tượng trong thế vận động, biến đổi không ngừng. Sự vật sẽ mơ hồ,  
khó xác định, khó nắm bắt hơn. Hơn nữa, trong văn học, tư duy tổng hợp biện chứng là  
quá trình tìm đến cái tổng thể, toàn vẹn của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, điều mà kiểu tư duy  
24  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
này quan tâm chủ yếu là các quan hệ, tìm ra hệ thống các quan hệ, tư duy này nắm bắt  
những yếu tố bản chất nhất, để từ đó nắm bắt cái thần của sự vật, hơn là miêu tả nó giống  
hệt thực tế. Nó giúp cho việc phản ánh sự vật không bị quá lệ thuộc vào thực tế, thoát khỏi  
cái vỏ bên ngoài để tiếp xúc trực tiếp với mọi bản chất của sự vật.  
Với kiểu tư duy này, sự vật được đặc tả qua vài điểm cơ bản nhất nhưng vẫn toát lên  
được thần khí của hiện tượng, đi vào chiều sâu khái quát. Tư duy tổng hợp biện chứng  
cũng được vận dụng trong bút pháp chấm phá của hội họa hay thủ pháp “vẽ mây nảy  
trăng” trong thơ ca Việt Nam. Tư duy sáng tạo này góp phần làm cho hình tượng thơ trở  
nên mơ hồ, lung linh huyền ảo hơn, vừa thực lại vừa hư.  
Một chữ “hồng” trong bài Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh cũng đủ làm sáng bừng cả  
không gian chiều tối. Nó là nhãn tự gợi lên cái thần của bài thơ, tạo dư ba ý nghĩa rất lớn.  
Hình ảnh thơ vận động từ trong bóng tối ra ánh sáng, giúp xua tan nỗi buồn thăm thẳm của  
thân phận tù đầy, kín đáo bộc lộ ước mơ về một mái ấm... Hình tượng thơ vì thế mà trở nên  
mơ hồ.  
Chỉ bằng vài ba nét phác họa thần tình, Xuân Diệu đã thâu tóm được bản chất, thần  
thái, sinh khí của cảnh vật trong Đây mùa thu tới:  
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang  
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng  
Đây mùa thu tới – mùa thu tới  
Với áo mơ phai dệt lá vàng...  
Hồn thu chan hòa trong từng cảnh vật, hình ảnh thơ gợi rất nhiều liên tưởng và cảm  
nhận: từ dáng đứng của liễu đến màu vàng của lá. Tất cả đã lột tả được bản chất của mùa  
thu: nỗi buồn man mác của sự tàn phai.  
Có thể thấy, tư duy hình tượng cảm tính và tư duy tổng hợp biện chứng góp phần làm  
cho ngôn ngữ thơ ca trở nên mơ hồ, khó xác định, biến đổi không ngừng, nên rất sinh động  
và quyến rũ. Phải có tưởng tượng, có thăng hoa của ý tưởng trên nền cái thực tại mới có  
thể đột phá được sự hạn hẹp và ràng buộc ít nhiều của hiện thực để hướng đến cái khái  
quát, cảm nhận thế giới với nhiều chiều đa dạng, phong phú, mơ hồ hơn.  
2.2.2. Bản chất của ngôn từ  
Tư duy, cảm xúc với việc vật chất hóa nó trên trang giấy là hai việc khác nhau. Tư  
tưởng, tiếng lòng của nhà thơ giống như những sợi tơ óng ánh sẽ theo ngòi bút chảy xuống  
trang giấy bện thành các con chữ. Ngôn ngữ thơ thể hiện tiếng lòng của thi nhân, bởi: “Từ  
nghệ thuật tồn tại không chỉ ở những nghĩa từ điển của nó, không chỉ ở những nghĩa ngoại  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
25  
diện mà còn tồn tại những ngoại vi nào đó, một vùng liên tưởng nào đó được nảy sinh bởi  
nhiều cách thức rất khác nhau” [6]. Bản thân ngôn từ là một thế giới bí mật. Nó là một hệ  
thống kí hiệu mang tính võ đoán và tính nội chỉ.  
Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học: “Tính võ đoán là tính không có nguyên do, tính  
chất ngẫu nhiên của việc lựa chọn cái biểu đạt để biểu hiện cái được biểu đạt với tư cách là  
hai mặt của một tín hiệu ngôn ngữ, tức là hai mặt này trong thực tế không có mối liên  
quan nào” [7].  
Bên cạnh đó, ngôn từ nghệ thuật còn mang tính nội chỉ độc đáo. Đọc Tiếng hát con tàu  
của Chế Lan Viên, người thật thà sẽ ngỡ là còn tàu nhả khói chạy lên miền Tây Bắc. Thực  
ra đó chỉ là hình dung cuộc trở về Tây Bắc của tâm hồn nhà thơ “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở /  
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Đọc bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, hình ảnh “đầu súng  
trăng treo” là biểu tượng cho ý chí, lý tưởng vươn tới hòa bình độc lập, không phải là hình  
ảnh thực trăng treo trên đầu súng.  
Ý nghĩa nội chỉ gắn với nhiệm vụ xây dựng hình tượng bằng tưởng tượng, hư cấu. Tất  
cả những yếu tố tưởng tượng, hư cấu của tính nội chỉ hay sự ngẫu nhiên không có lí do,  
không có sự liên hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của tính võ đoán, làm nên bản  
chất mơ hồ, khó nắm bắt, khó xác định của ngôn ngữ.  
Ngoài ra, trên các cấp độ khác nhau của ngôn từ đều chứa đựng tính mơ hồ.  
Ở cấp độ từ, không phải tất cả nhưng rất nhiều trường hợp từ mang tính mơ hồ hóa, đó  
là những từ phiếm chỉ “ai” rất khó xác định rõ đối tượng, từ phiếm chỉ không gian, thời  
gian, số lượng: (đâu, ngày ấy, những...) hay từ đồng âm, từ ghép chính phụ...  
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó  
Có chở trăng về kịp tối nay?”  
(Đây thôn Vĩ Dạ)  
Từ “ai” trong câu thơ của Hàn Mặc Tử không nhằm chỉ một đối tượng nào, “ai” có thể  
là bất kì ai. Hay trong bài Mùa thu câu cá (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến:  
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được  
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”  
Từ “đâu” phiếm chỉ không gian, vừa có nghĩa là không, vừa có nghĩa là có. Nó đem lại  
cảm giác mơ hồ, biểu hiện tâm trạng u uẩn của nhà thơ và cũng khơi gợi cảm xúc, ý vị  
mênh mang trong suy nghĩ người đọc.  
Hoàng Trung Thông trong Bao giờ trở lại có dùng từ phiếm chỉ thời gian:  
“Các anh đi  
Ngày ấy lâu rồi”  
26  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
“Ngày ấy” không cụ thể ngày nào. Nó có thể là hôm qua, hôm xưa hay một hôm bất  
kì nào đó, mà cũng có thể chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Nó bị mất nét nghĩa biểu đạt  
thời gian để hư hóa cảm giác nhớ nhung, bâng khuâng, đầy kỉ niệm.  
Ở cấp độ cụm từ, bản chất mơ hồ của ngôn ngữ càng được thể hiện rõ. Có những từ  
khi tách riêng từng chữ thì rất thực nhưng khi đặt chúng cạnh nhau thì lại rất mơ hồ. Chính  
cách kết hợp từ ngữ (đồng âm, từ láy, ẩn dụ, hoán dụ...) đã tạo nên những cụm từ mang ý  
nghĩa khó nắm bắt, bị làm nhòe đi, mở ảo hơn.  
Bài Tràng giang của Huy Cận có câu “Nắng xuống trời lên sâu chót vót / Sông dài trời  
rộng bến cô liêu”, trong đó cụm từ sâu chót vót vừa tạo hình, đa nghĩa vừa biểu cảm.  
Thông thường người ta kết hợp “sâu” với “thăm thẳm”, “cao” với “chót vót”, nhưng như  
thế thì đâu có gì đáng nói. Cách kết hợp mới của Huy Cận tạo hiệu quả thẩm mĩ bất ngờ:  
người đọc vừa cảm nhận được cái cao xa thăm thẳm của bầu trời, luồng nắng trên cao  
chiếu xuống mặt đất, vừa thấy được nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn chủ thể trữ tình trước cái  
mênh mông rợn ngợp của đất trời. Thơ Xuân Diệu cũng vậy, có nhiểu kiểu kết hợp lạ đến  
nỗi, mới đầu người ta kêu thơ ông là Tây quá, cầu kỳ quá, ví như: “Chiều mộng hòa thơ  
trên nhánh duyên / Thu đến nơi nơi động tiếng huyền” (Thơ duyên) hay “Gió lướt thướt  
kéo mình qua cỏ rối / Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành” (Tương tư chiều). Những cụm  
từ “chiều mộng”, “nhánh duyên”, “tiếng huyền”, “gió lướt thướt”, “miếng đêm”... khiến  
cho câu thơ có sức biểu đạt lớn, gây ấn tượng và gợi liên tưởng trong người đọc.  
Có thể thấy, một từ chỉ cần liên kết với một từ khác nó đã thành mơ hồ, phát sinh ý  
nghĩa. Nhìn nắng, nhà thơ không sợ nhức đầu hay đen da mà lại thấy “nắng thuỷ tinh”,  
“vàng bay trong nắng”, “đất thêu nắng”, “nắng lạnh”; nhìn buổi chiều, nhà thơ thấy  
“chiều lỡ thì”, “chiều mồ côi”; nhìn sương, nhà thơ thấy “sương trinh”, “sương âu yếm”;  
nhìn mưa, nhà thơ thấy “mưa ái phi”, “mưa sàng sứ”, “mưa hoa nhài”. Khi lựa chọn  
những nắng, chiều, sương, mưa để kết hợp với các từ khác thì bỗng nhiên tính xác thực của  
ngôn ngữ bị phá vỡ, không còn nét nghĩa “nhất thành bất biến nữa”. Một “thực tại” mới đã  
hiện ra.  
Ở cấp độ câu, những câu thơ lược chủ thể, đánh tráo quan hệ cú pháp, cách kết hợp  
từ ngữ, sử dụng quan hệ đối vị của ngôn ngữ, cách ngắt nhịp thơ, phá vỡ kết cấu câu thơ,  
bài thơ... tất cả là cơ sở hình thành tính mơ hồ.  
Bản thân ngôn ngữ đã là một hệ thống kí hiệu, tín hiệu võ đoán, mơ hồ. Tính mơ hồ  
được tăng lên bội số khi người nghệ sĩ lựa chọn từ ngữ trong tiếng nói hàng ngày, sắp xếp  
chúng cạnh nhau, gia giảm thêm các biện pháp tạo nghĩa, nhào nặn, biến hóa thành câu  
thơ, bài thơ.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
27  
2.2.3. Bản chất của thơ ca  
Nếu văn học thông thường đã là “nghệ thuật ngôn từ” thì thơ ca, xét riêng về khía cạnh  
từ ngữ, phải là thứ nghệ thuật của “siêu ngôn từ”. “Mỗi bài thơ hay là một định nghĩa cho  
thơ. Mỗi tiếng thơ là một “con kỳ nhông” đứng chỗ này thì màu xanh, đứng chỗ kia thì  
màu nâu hoặc vàng úa. Thơ là một thể loại kỳ ảo” [8]. Chính tính mơ hồ đa nghĩa của ngôn  
ngữ thơ ca đã tạo cho nó cái tính biến ảo, kì ảo đó.  
Về phương diện nội dung, thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt. Hegel viết: “Đối  
tượng của thơ không phải là những biểu hiện bên ngoài mà là những hứng thú tinh thần,  
thế giới cảm xúc phong phú, phức tạp, khó nắm bắt của con người” [5]. Cũng chính bởi thơ  
phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm nên có thể khó nhận biết ngay một  
bài thơ hay. Đọc rồi, đọc nữa, suy ngẫm, liên tưởng ta mới nhận ra thứ ánh sáng, màu sắc,  
hương thơm man mác bên trong hình tượng thơ. Vì thế nhà thơ Hoàng Đức Lương đã đề  
cao nàng thơ: “Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trông bằng mắt  
thường được” [5].  
Thơ không những giàu cảm xúc mà còn giàu hình ảnh. Thơ không là thực tại đơn  
thuần, không là tổng số những hình ảnh được xác định một cách rõ ràng. Thơ là thế giới  
của những hình ảnh phi vật chất được xây dựng bằng ngôn ngữ mang tính mơ hồ, có giá trị  
biểu cảm cao, tạo hiệu ứng nghệ thuật, thể hiện tư tưởng, tinh thần, cá tính sáng tạo của  
người nghệ sĩ.  
Xây dựng bằng chất liệu mang tính võ đoán, nội chỉ, hình ảnh trong thơ không thể  
cầm, nắm, nhìn trực tiếp mà chỉ có thể cảm thấy. “Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của  
trí tưởng tượng”, để bước vào khám phá thế giới hình ảnh hư ảo của thơ, người đọc phải  
vận dụng liên tưởng và tưởng tượng rất nhiều để giải mã hình tượng như Trường Chinh  
viết. Đọc bài “Át cơ” trong tập Bóng chữ của Lê Đạt, người đọc phải rất nỗ lực tưởng  
tượng, liên tưởng để giải mã hình ảnh cũng như cảm xúc thơ: “Anh trở về địa chỉ tuổi thơ –  
Nhà số lẻ / phố trò chơi bỏ dở - Mộng anh hường / tim em môi bói đỏ - Giàn trầu già /  
khua những át cơ rơi...”. Hình ảnh lá trầu quả cau rất quen thuộc trong đời sống văn hóa  
của người dân Việt Nam xưa nay, cả trong văn chương lẫn đời sống. Nói đến trầu cau,  
người ta nghĩ ngay đến chuyện nhân duyên, đến sự gắn bó trong tình yêu đôi lứa (Miếng  
trầu nên dâu nhà người – Tục ngữ; Nhà em có một giàn trầu / Nhà anh có một hàng cau  
liên phòng – Nguyễn Bính...). Nhưng trong bài “Át cơ”, hình ảnh lá trầu xuất hiện qua cái  
nhìn rất độc đáo, hiện đại của Lê Đạt: lá trầu được so sánh với những con át cơ trong bộ  
bài Tây. Cách ví von này kết hợp với những từ “trò chơi”, “mộng”, “bói”, “anh”, “em”  
ở những câu trên khiến người đọc liên tưởng đến một trò chơi của lớp trẻ hiện đại: bói  
duyên tú cầu. Theo kinh nghiệm phân tích thơ dựa trên chính văn bản thơ của nhà nghiên  
28  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
cứu Nga B. Gasparov, chúng ta thấy những từ: lẻ, bỏ dở, rơi... nằm trong cùng một hệ  
thống biểu đạt cho sự dở dang, hao hụt. Từ hệ thống từ ngữ đó, ta có thể “đọc” được theo  
cách của mình ý nghĩa hình ảnh: “Giàn trầu già / khua / những át cơ rơi...” biểu hiện cho  
sự rơi rụng, trôi mất của những cơ may tình duyên thuở nhỏ. Lối viết xuống dòng kiểu bậc  
thang cộng với dấu chấm lửng của câu kết góp phần đắc lực thể hiện tâm trạng khắc khoải,  
thất vọng của nhân vật trữ tình.  
Thơ là thể loại “ý tại ngôn ngoại”. Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan  
trọng đối với nhà thơ. “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu thì thơ mới hay... Không phải bất cứ điều gì  
nói ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị.Ý hết mà lời dừng là cái lời hết mực, song lời dừng  
mà ý chưa hết thì lại càng tuyệt hay” [5]. Chính vì vậy, Chế Lan Viên đã ví nhà thơ như  
người thợ làm muối lành nghề “những người thợ ấy vào trong cái bể bao la vô tận của quần  
chúng, tìm thấy cái đẹp vĩ đại của ngôn ngữ đang hòa tan trong ấy để cấu tạo nên ngôn ngữ  
thơ” [8]. V. Maiakovsky đã ví quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng “giống như người  
lọc quặng radium: Lấy một gam phải mất một năm lao động, lấy một chữ phải lọc hàng tấn  
quặng ngôn từ, nhưng trong hàng chục năm dài những chữ ấy sẽ làm rung động hàng triệu  
trái tim” [3]. Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi chọn từ “khô” để đưa vào câu thơ: “Non  
cao những ngóng cùng trông / Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày” (Thề non nước).  
Giả sử thay từ “khô” bằng “tuôn” hay “trôi”, không biết “Thề non nước” sẽ sống được bao  
nhiêu cùng năm tháng?... Tính hàm súc của ngôn từ trong thơ, như thế, đã biểu đạt các nét  
nghĩa rộng mở hơn, gợi nhiều liên tưởng hơn bản thân giá trị biểu đạt tự thân của mỗi từ  
ngữ riêng lẻ.  
Chất thơ cũng được xem là một trong những đặc trưng bản chất làm nên tính mơ hồ  
của thơ. Nhà phê bình Trung Quốc đời Thanh là Diệp Tiếp trong sách Nguyên thi nói: “Cái  
lý có thể nói, ai cũng nói được, có những việc không thể kể, khi gặp thì chỉ hiểu ngầm qua  
hình dáng có ý nghĩa, mà lý và việc cũng đã dường như thế” [5]. Đó chính là cái chất thơ  
của đời sống. Ví dụ chất thơ trong bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu:  
“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh  
Trăng thương, trăng nhớ hỡi trăng ngần  
Đàn vui, đàn lạnh ôi đàn chậm,  
Mỗi giọt rơi tan như lệ ngân...”  
Ngôn ngữ thơ không phải ngôn từ tuyến tính mà là phức hợp. Nhà thơ cùng một lúc  
nói về trăng, đàn, cảm xúc cơ thể của chính mình. Chữ và lời thơ có thể khó hiểu, không  
tuân theo logic. Nhưng khi thả hồn theo cảm xúc, ta cảm nhận mỗi âm thanh buông ra vừa  
như ánh sáng, vừa như nước mắt ngân vang, vừa như rung động thân thể. Chất thơ toát ra  
từ đó, điều mà ta chỉ có thể cảm nhận được qua khoảng trống giữa các chữ, rất mơ hồ. Nhà  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
29  
thơ Tố Hữu cũng nói: “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái  
im lặng đó thì có những tiếng dội vang rất đa dạng và tinh tế. Thơ phải chăng là điều ấy,  
mơ ở trong thực, cái vô hình trong cái hữu hình, những màu sắc trong màu trắng. Điều đó  
người ta gọi là sự tinh diệu của ngôn ngữ và tâm hồn” [5].  
Cái ý nghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh, do chính lời và hình ảnh  
gợi lên nhưng không phải ai cũng cảm được, và nếu đã cảm được rồi thì không phải ai  
cũng chung một đáp số giống nhau, mà mỗi người hiểu một cách. Vì vậy mới nói, bài thơ  
là một thực thể kì ảo, mơ hồ từ hình thức đến nội dung.  
Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ thơ ca hòa quyện như xác với hồn, như hình với bóng.  
Thơ không phải là một mớ lý thuyết mà là một thực thể ngôn ngữ. Và phải chăng thơ ca  
ám ảnh người đọc cũng vì vẻ đẹp toát ra từ thực thể ngôn ngữ ấy. Ngôn ngữ thơ bao giờ  
cũng là hóa công của người nghệ sĩ. Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi  
nhân: “Thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng. Làm văn xuôi,  
chữ không có đủ sức mạnh ma quái như vậy (...), thi nhân là một thần linh nói một thứ chữ  
riêng mà thế nhân phải diễn tả dài dòng thô lậu” [3, tr.6].  
Có thể thấy, những thuộc tính đặc trưng của thơ như giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, tính  
hàm súc, chất thơ... tất cả đã làm nên sự lung linh, mơ hồ cho ngôn ngữ thơ.  
2.2.4. Bản chất của quá trình tiếp nhận  
Tác phẩm thơ ca là đứa con tinh thần của nhà thơ. Nhờ hoạt động tích cực của các  
năng lực tư duy, bằng vốn hiểu biết và những tri thức sẵn có, tác giả bước chân vào quá  
trình lao động ngôn từ, dùng ngôn ngữ làm chất liệu, tổ chức sắp xếp, tìm kiếm các phương  
diện biểu hiện, liên kết để xây dựng nên một thực thể sinh động – bài thơ (trực tiếp và gián  
tiếp phản ánh quan niệm về thế giới). Bản thân bài thơ là một cấu trúc mở, mơ hồ, đa tầng  
ý nghĩa, chứa đựng nhiều “điểm không xác định” (R.Ingarden), một “mã nghệ thuật”  
(M.Markov). Từ đây, tác phẩm bước vào cuộc phiêu lưu đầy thú vị trong sự tiếp nhận của  
người đọc, bất chấp ý muốn, vượt ngoài tầm, kiểm soát của tác giả.  
Theo R. Jakobson “có sự khác biệt giữa mã của người phát ngôn và mã của người tiếp  
nhận...”. Sự “đọc” của độc giả dao động giữa kiến tạo và phá vỡ, tổ chức và tái tổ chức  
những dữ liệu được văn bản cung cấp. Người đọc với những hiểu biết về văn hóa vốn có ở  
trên cơ sở liên kết tri thức về mã văn hóa với người sáng tạo sẽ làm sống dậy sản phẩm tinh  
thần của nhà văn. Trường hợp người tiếp nhận theo phương án “thử và sai” cố gắng tìm ra  
mã mới lạ thì thường xảy ra tình trạng ngộ nhận mã của tác giả, làm biến đổi nghĩa của  
ngôn từ thơ. Cứ như vậy, qua sự tiếp nhận khác nhau của người đọc tính mơ hồ của ngôn  
ngữ thơ được nhân lên rất nhiều.  
30  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
Trong giao tiếp thông thường, độ dư của ngôn ngữ đảm bảo cho người tiếp nhận dễ  
dàng nắm bắt ý nghĩa. Trong nghệ thuật thơ ca, ngôn ngữ được lựa chọn, tổ chức chặt chẽ,  
đòi hỏi phải đọc nhiều lần. Mỗi lần đọc, người tiếp nhận sẽ tái sáng tạo ngôn ngữ  
(recreation). Dựa trên vốn kinh nghiệm đã có, người đọc có thể bổ sung, lấp đầy những  
khoảng trống, cụ thể hóa những mã văn hóa trong tác phẩm theo những hướng khác nhau.  
Các biểu tượng, ngôn ngữ trong thơ mơ hồ, phát sinh ý nghĩa một phần cũng nhờ vào  
trường liên tưởng, sự tưởng tượng, sức sáng tạo mạnh mẽ của người tiếp nhận.  
Ngoài những yếu tố như vốn kinh nghiệm, khả năng tưởng tượng liên kết tri thức,  
đồng sáng tạo của người đọc, bản thân sự vận động của ngôn ngữ trong thời gian và không  
gian cũng góp phần tạo nên tính mơ hồ. Nói cách khác, tính mơ hồ của ngôn ngữ thơ còn  
phụ thuộc vào sự thay đổi của ngữ cảnh tiếp nhận. Ngữ cảnh là môi trường giao tiếp (thời  
gian, không gian, con người, tính cách, sự kiện thời đại, truyền thống văn hóa...), trong đó  
từ ngữ, bài thơ xuất hiện và có ý nghĩa. Có nhiều trường hợp sự vận động của từ ngữ trong  
không gian và thời gian làm cho ý nghĩa của từ bị bào mòn, khó hiểu, câu thơ vì thế trở nên  
mơ hồ, khó nắm bắt. Một số trường hợp, theo không gian và thời gian, ngữ cảnh thay đổi,  
ý nghĩa của từ ngữ được mở rộng, sự cảm nhận về đối tượng miêu tả ở các thời đại khác  
nhau, ý nghĩa của từ ngữ phát sinh ngày càng phong phú và cũng vì thế trở nên mơ hồ.  
3. KẾT LUẬN  
Có thể nói, cơ sở hình thành tính mơ hồ đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ ca là sự tổng hợp  
của những quá trình: từ quá trình tư duy (tìm kiếm, thu nạp, nắm lấy cái thần, cái bản chất  
của sự vật), để rồi thông qua lựa chọn, mài giũa, kết tinh thành ngôn từ nghệ thuật (chất  
liệu có khả năng gợi cảm, võ đoán, nội chỉ) nhằm thỏa mãn mọi yêu cầu riêng của phong  
cách thơ ca (giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, hàm súc và đầy chất thơ), để từ đó tác phẩm đi  
vào thế giới tiếp nhận của người đọc (tái sáng tạo). Con đường khám phá và sáng tạo cái  
đẹp khiến cho ngôn từ thơ ca không ngừng được hoàn thiện, ngày càng mơ hồ, lung linh,  
đa sắc với trường ngữ nghĩa được mở ra vô tận.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. A.Lukin, V.C.Xcacherơsicốp (1984), Nguyên lý mỹ học Mác- Lênin, Nxb Sách giáo khoa  
Mác – Lênin, Hà Nội.  
2. Aristote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca – Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội.  
3. Lê Xuân, Sự thần diệu của ngôn ngữ thơ (nguồn dẫn từ vanchuongnet.org).  
4. Trần Đình Sử (2006), Giáo trình Lý luận văn học tập 1, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
5. Trần Đình Sử (1998), Tuyển tập, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
31  
6. Đào Thản (1988), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội,  
Hà Nội.  
7. Nhiều tác giả (1997), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
8. Đào Thái Tôn (1996), Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
THE FORMATION OF AMBIGUITY  
IN THE LANGUAGE OF POETRY  
Abstract: Today, the researchers and literary critics confirmed ambiguity as an organic  
feature of literature in general and language of poetry in particular. Ambiguity in  
language of poetry is a language phenomenon containing many values, unknown  
meanings and lack of verifiability which allows readers to interpret it into various ways.  
The formation of this phenomenon is dominated by the following factors: from the  
thinking to art reflects creating artistic language to meet the requirement of poetic art,  
then to transfer to readers. Seeking and creating the beauty help poetic language to  
improve constantly, to increase ambiguity, to sparkle and multi-color with the endless  
of language.  
Keywords: ambiguity, multi-meanings, poetic art.  
pdf 11 trang baolam 22540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ sở hình thành tính mơ hồ đa nghĩa trong ngôn ngữ thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_so_hinh_thanh_tinh_mo_ho_da_nghia_trong_ngon_ngu_tho.pdf