Tích hợp văn hóa - phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học sáng tạo
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
CULTURAL INTEGRATION – THE CREATIVE
APPROACH TO LITERARY WORKS
Nguyen Huu Tinha
Le Minh Khab
a Graduate Academy of Social Sciences
Email: [email protected]
b Quy Nhon University
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
12/9/2021
19/9/2021
23/9/2021
27/9/2021
30/9/2021
he article discusses some basic issues about approaching literary works from a cultural perspective.
T
Through explanations of the approach in the aspect of cultural integration, the article analyzes a
number of typical examples to clarify the issue. From that results, we draw some comments and prospects
of this approach in the journey to discover the artistic world of literary works.
Keywords: Literary; Approaching literary works; Culture; Cultural integration.
1. Đặt vấn đề
văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và “vượt mặt” văn
hóa liên hệ trực tiếp với các nhân tố chính trị, kinh
tế, xã hội. Những nhân tố ấy tác động trực tiếp đến
văn hóa trong chỉnh thể của nó và chỉ thông qua nó
mà ảnh hưởng đến văn học” (Cu, 2004, tr.182).
Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn
học, có thể xem mã văn hóa như một gợi mở quan
trọng cho việc đọc hiểu văn bản. Tích hợp văn hóa
trở thành một phương pháp, một yêu cầu không thể
thiếu khi đặt văn bản văn học trong mối liên hệ đa
chiều kích văn hóa về không gian – thời gian – tư
tưởng, triết học. Khám phá tác phẩm văn học thông
qua tri thức cửa sổ văn hóa, có khả năng gợi mở
nhiều điều thú vị, mới mẻ. Ở đây, có thể hiểu văn
hóa như một hệ thống với nhiều yếu tố đan xen vào
nhau: ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục tập quán, tổ
chức xã hội… và văn học là yếu tố nổi bật, vừa tùy
thuộc hệ thống, vừa có khuynh hướng vượt thoát
hệ thống để mở rộng đường biên sáng tạo. Đúng
như M.Bakhtin nhận định: “Cần phải nghiên cứu
văn học và tác phẩm văn học như những hệ thống
chỉnh thể ở hai cấp liên đới. Hệ thống chỉnh thể của
tác phẩm gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn học;
hệ thống chỉnh thể của văn học, đến lượt nó, lại gia
nhập hệ thống chỉnh thể của văn hóa; và chỉ có hệ
thống văn hóa mới quan hệ trực tiếp với những lĩnh
vực khác của đời sống xã hội. Không thể tách rời
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mối
quan hệ giữa bộ phận và tổng thể, giữa từng màu
sắc riêng trong bản pha màu chung, giữa từng lát
cắt và dòng chảy chung… Hướng nghiên cứu này
đã ghi nhận nhiều nhà nghiên cứu với những công
trình như: Đỗ Lai Thúy, “Từ cái nhìn văn hóa”
(Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999), “Hồ Xuân Hương
– hoài niệm phồn thực” (Nxb. Văn hóa thông tin
1999; Văn học 2000); Trần Nho Thìn, “Văn học
trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” (Nxb.
Giáo dục, 2008); Hoàng Thị Huế, “Thơ mới nhìn
từ quan hệ văn hóa văn học” (Nxb. Hội nhà văn,
2014); Nguyễn Văn Dân, “Văn hóa – văn học dưới
góc nhìn liên không gian” (Nxb. Thế giới, 2020)…
Đỗ Lai Thúy được xem là người tiên phong theo
khuynh hướng nghiên cứu này. Xuất phát từ chỗ lấy
110
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
văn bản làm trọng tâm với các phương pháp nghiên học, hai nền văn hóa với những truyền thống, diễn
cứu nội quan (thi pháp học, phong cách học, cấu ngôn khác nhau” (Thin, 2007, tr.50).
trúc luận) tiến đến lý giải bằng tri thức văn hóa –
lịch sử - phương pháp ngoại quan (xã hội học, phân
tâm học)… Hướng đi này ngày càng phổ biến, được
triển khai khá sâu rộng trong nghiên cứu và giảng
dạy trong nhà trường. Ở cấp độ quốc gia và quốc tế,
trong Báo cáo tổng kết Hội thảo quốc tế “Văn học
Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực
và quốc tế” (3,4/11/2006), Trương Đăng Dung đã
nêu “Những khả năng và giới hạn của văn học Việt
Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và
quốc tế”. Trong 4 vấn đề chính: 1. Văn học dịch –
sự đối thoại giữa các nền văn hóa; 2. Văn học như là
yếu tố của hệ thống văn hóa; 3. Văn học và các nghệ
thuật khác. Quan hệ tương tác giữa văn học viết và
văn học truyền miệng; 4. Đổi mới văn học như là
nỗ lực hội nhập của văn học Việt Nam vào tiến trình
văn học thế giới... đều ít nhiều nằm trong tương liên
văn học so sánh ở các cấp độ vi mô và vĩ mô, trước
mắt và dài lâu, thao tác so sánh và tư duy so sánh...
trong khả năng và giới hạn của nó. Đặc biệt, trong
phần II – “Văn học như là yếu tố của hệ thống văn
hóa”, tác giả rút ra 4 nhận định quan trọng trong
mối quan hệ văn học – văn hóa (bộ phận – tổng thể,
đất nước – khu vực, văn hóa cường quốc – tiến trình
hiện đại hóa văn học Việt Nam, khả năng biệt hành
và bảo toàn chân giá trị của văn hóa – truyền thống
văn hóa).
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong hoạt động đọc hiểu văn bản, tích hợp văn
hóa có thể được triển khai theo một số hướng: tích
hợp thời gian – đặt văn bản văn học trong sự chiếu
ứng với văn hóa thời đại chi phối, ảnh hưởng nó,
thông qua chủ thể sáng tạo; tích hợp không gian –
đặt văn bản trong mối liên hệ với văn hóa một miền
đất, không gian địa lý, tâm thức văn hóa; tích hợp tư
tưởng triết – mỹ – đặt văn bản trong mối tương liên
với mạch nguồn triết học, tư tưởng đã ảnh hưởng,
chi phối hành trình sáng tạo… Cả chiều dài lịch sử
thời đại, chiều rộng không gian vùng miền, chiều
sâu tư tưởng, trong cái nhìn tích hợp đa chiều văn
bản văn học, có thể tạo nên sự sinh động, lý thú cho
giờ học văn; đồng thời, mở rộng kiến văn, tri thức
cửa sổ văn hóa cho người học. Cần lưu ý rằng, giữa
các hướng tích hợp này có mối liên hệ tương hỗ,
không thể tách rời một cách cơ học, máy móc. Và
trong tinh thần đối thoại liên văn hóa, các mối liên
hệ đó còn mở rộng hơn với những nội dung gợi mở:
dân tộc – thế giới, khu vực – quốc tế, bản địa – toàn
cầu… mở rộng từ chân trời của một người đến chân
trời của mọi người…
4. Kết quả nghiên cứu
Có nhiều hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn
văn hóa. Hướng tiếp cận tích hợp thời gian - không
gian văn hóa, dù ý thức hay chưa, đã trở thành
phương cách quen thuộc cho hoạt động đọc hiểu
văn bản. Từ việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử - văn
hóa - xã hội của thời đại chi phối chủ thể sáng tạo,
ảnh hưởng và hình thành những mã văn hóa trong
văn bản… người tiếp nhận bước đầu thể nghiệm tác
phẩm, như những sinh thể tinh thần. Tuy nhiên, cần
hiểu rằng, trung tâm của hoạt động đọc hiểu vẫn là
văn bản, không thể lấy mã văn hóa thay cho mã văn
học, biến việc đọc hiểu thuần túy trở thành việc giải
mã văn hóa.
Công trình “Văn học trung đại Việt Nam dưới
góc nhìn văn hóa” của Trần Nho Thìn cũng “trên
nền tảng văn hóa trong đó tác phẩm ra đời... chẳng
những thích hợp cho văn học trung đại... mà còn có
thể vận dụng phương pháp tiếp cận này để phân tích
sáng tác văn học ở các nền văn học hay các thời đại
văn học khác. Một sự nghiên cứu so sánh văn học
trung đại và văn học hiện đại có thể cho chúng ta
thấy về khả năng này” (Thin, 2007, tr.36). Hướng đi
này được tác giả theo đuổi nhất quán trong những
bài viết sau này. Chẳng hạn “Đối thoại liên văn hóa
trong thời đại toàn cầu hóa và vấn đề tiếp nhận lý
luận văn học phương Tây ở Việt Nam” (Thin, 2014).
Đặc biệt, tác giả nêu ra một thông tin: “Trên tạp chí
Nam Phong năm 1923 có đăng bài nói của một học
giả René Crayssac”. Rồi đánh giá: “Có lẽ ông là
người đầu tiên chọn góc nhìn so sánh văn hóa để
cắt nghĩa đặc điểm của lối tả ước lệ trong “Truyện
Kiều”” (Thin, 2007, tr.49). Đồng thời nhấn mạnh:
“Điều quan trọng là nhà Việt học người Pháp này
cắt nghĩa bằng so sánh đặc trưng văn hóa”, để đi
đến kết luận: “Cách phê bình như vậy của Crayssac
chính là một dạng đối thoại liên văn hóa. Vấn đề có
tính nguyên tắc không phải là lấy một nền văn học,
một hệ thống thi pháp hay hệ thống lý luận làm chủ,
làm hệ quy chiếu đánh giá, so sánh một nền văn học
khác mà là đối thoại bình đẳng giữa hai nền văn
Bên cạnh hướng tiếp cận từ sự tích hợp theo
trục không gian – thời gian, là hướng tiếp cận chiều
sâu: tâm thức – tư tưởng – triết học văn hóa nói
chung, hay đi vào cụ thể, soi chiếu văn bản từ các
biểu tượng – điển mẫu văn hóa – văn học… đều
mang đến nhiều gợi mở đa dạng, phong phú. Về
biểu tượng (symbol), thuật ngữ này có nội hàm khá
phức tạp, được hiểu theo nhiều cách khác nhau,
tùy thuộc vào các trường phái nghiên cứu – phê
bình, các hướng tiếp cận. Theo khảo cứu của Jean
Chevalier trong công trình “Từ điển biểu tượng văn
hóa thế giới”, ngay từ khởi thủy, biểu tượng đã là
một dấu hiệu, một cơ sở quy ước của niềm tin. Ở
tầng sâu hơn, nó là sự hội tụ của hai ý tưởng chia ra
và kết lại, phân ly và tái hợp, là dấu hiệu bị đập vỡ,
gãy vỡ và nối kết (Chevalier & Gheerbrant, 2002,
Volume 10, Issue 3
111
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
tr.967-968). Ở đó, cảm xúc luôn luôn nổi trội, biểu
Mở rộng chương trình dạy và học văn, từ phổ
hiện thành nỗi lo sợ hay mừng vui, những cảm xúc thông lên đại học theo trục thời gian và thể loại,
không lời... Còn theo cách hiểu của K. Jaspers, biểu hướng tích hợp văn hóa trong đọc hiểu, dạy và học
tượng nắm giữ những gì vốn vượt chạy khỏi chúng văn, cũng trở thành yêu cầu không thể thiếu. Tìm
ta để bị tiêu tán trong hư vô. Biểu tượng cho ta thấy hiểu và giảng dạy văn học phương Tây, chúng tôi
những gì hoàn toàn bị ẩn dấu đối với chúng ta. Cái chú ý đến nhận xét của GS. Phan Ngọc cho rằng:
được biểu trưng trong biểu tượng là tiềm ẩn. Với Văn hóa Hy Lạp – cội nguồn văn hóa phương Tây –
cách hiểu này, nó bao gồm cả ý thức và vô thức, là một nền văn hóa dựa trên các khái niệm, tức nền
nhuốm màu xúc cảm và tưởng tượng, gắn kết với văn hóa được dựng xây từ những ý niệm phổ quát,
kinh nghiệm của tập thể. Logic của biểu tượng là hướng với cái chung, các quy tắc bất biến... Đó là
logic của tưởng tượng, là “sự phun trào sum suê các nền văn hóa đề cao lý trí, tư duy con người, hướng
hình ảnh, ngay cả trong trường hợp làm rối tinh thần đến cái trừu tượng từ những quan sát thực trong đời
nhất” (Gilbert Durand), là“tập hợp cơ động các mối sống. Nó thể hiện trên các phương diện: ngôn ngữ,
liên hệ giữa nhiều vế” (Jean Chevalier). Điều này văn học, điêu khắc, triết học... Hiểu như vậy mới
tạo ra sự tái sinh nghĩa vô tận trong các kết hợp với thấy được phẩm tính trí tuệ được đề cao trong mọi
các ngữ cảnh khác nhau trong các văn bản văn học phương diện đời sống của người Hy Lạp nói riêng,
qua mọi thời đại.
người phương Tây nói chung. Chẳng hạn, trong lĩnh
vực văn học, sử thi và kịch Hy Lạp cổ đại đều mang
tính khái niệm ở chỗ: có thể thâu tóm nội dung trong
một khái niệm, một mệnh đề nào đó. Nội dung của
“Iliad” là cơn giận của Achilles và toàn bộ sử thi
kể lại quá trình nảy sinh cơn giận của Achilles với
Agamemnon vì đã cướp chiến lợi phẩm của chàng,
điều đó khiến chàng không tham chiến, để mặc cho
quân Troy đánh bại quân Hy Lạp. Chàng chỉ ra trận
khi Agamemnon trả lại các chiến lợi phẩm và bạn
thân của chàng bị Hector giết. Chàng ra trận và giết
Hector, sử thi kết thúc bằng lễ an táng Hector. Cả sử
thidàihàngvạncâulạitậptrungchặtchẽxungquanh
một đề tài nhỏ bé. Còn “Odyseey” có thể tóm tắt
trong khái niệm: những cuộc phiêu lưu của Ulysses
trên đường trở về quê hương… Phép thử trong ngày
đoàn tụ của hai vợ chồng Ulysses là bài toán trí tuệ,
giữa người anh hùng “trí tuệ sánh tựa thần linh”
và “nàng Penelop khôn ngoan, thận trọng”… Trong
tính liên văn bản văn học, từ câu chuyện về Ulysses,
Penelop, có thể mở rộng sang những mã văn hóa đã
được xác lập như “mưu con ngựa gỗ thành Troy”,
“tấm thảm Penelope”… Có thể liên hệ hình tượng
Ulysses trong thần thoại sử thi Hy Lạp với hình
tượng Ulysses của James Joyce thời hiện đại, hay
Ulysses trong “The Odyssey: A Modern Sequel”
(Hậu Odyssey) của Nikos Kazantzakis… với bao
chuyển đổi cảm quan văn hóa, tư duy nghệ thuật,
thủ pháp, lối viết… Hoặc có thể đặt Ulysses trong
mối liên hệ với hình tượng người hùng cuộc phiêu
lưu trên biển trong mối liên hệ văn hóa đại dương
phương Tây: Ulysses – Robinson Crusoe – ông lão
Santiago… để thấy những hằng số chung tâm thức
văn hóa.
Còn đối với khái niệm điển mẫu (archetype).
Đây là thuật ngữ được C. G. Jung (1875 - 1961),
nhà tâm lý học phân tích người Thụy Sỹ xác lập
năm 1912, khi xuất bản cuốn “Tâm lý học vô thức”.
Sau đó, đến năm 1919, ông mới mở rộng nó sang
lĩnh vực văn hóa – văn học. Ông đưa ra khái niệm
vô thức tập thể và mở ra hướng tiếp cận văn chương
bằng điển mẫu. Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm
điển mẫu theo nghĩa là các mô thức trần thuật, các
hình tượng, chi tiết… ra đời từ xa xưa - gắn với ký
ức cộng đồng nguyên thủy, làm cơ sở cho các dạng
thức văn chương về sau tồn tại và phát triển. Khái
niệm điển mẫu ở đây không chỉ khu biệt ở những
“mô thức cổ” trong đời sống tâm linh, chuyện kể
dân gian mà còn mở rộng đến các cổ mẫu “hiện
đại”, khi một mô hình, một hình tượng nào đó trở
thành điểm hội tụ nghĩa trong khả năng kí hiệu hóa
và biểu đạt thẩm mĩ mà các thế hệ sau tiếp biến và
sáng tạo để xây dựng hình tượng nhân vật hay lối kể,
lối biểu đạt cảm xúc của riêng mình. Liên quan đến
điển mẫu còn có cả trường phái phê bình văn học.
Theo các nhà phê bình thần thoại (myth criticism),
thì bất cứ một hình thức kể chuyện hay văn chương
nào nói chung cũng đều xuất phát từ các điển mẫu
đã tồn tại và được thừa nhận như những chuẩn mực.
Những điển mẫu này không chỉ là mô hình kí hiệu
để nghệ sĩ dựa vào sáng tạo, mà còn là mô hình định
hướng tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Văn học là yếu tố trội bật của văn hóa. Tâm thức
văn hóa luôn chi phối sáng tạo nghệ thuật, đây là
điều không khó nhận ra khi ta xem xét mối quan
hệ văn hóa – văn học. “Truyện Kiều” được đọc từ
quan điểm Phật giáo, thơ Hồ Xuân Hương được lý
giải dưới góc nhìn tín ngưỡng phồn thực, thơ Trần
Dần, Lê Đạt được khám phá dưới cảm quan hậu
hiện đại, lý thuyết trò chơi… Đó đều là hướng tiếp
cận văn bản văn học trong sự chiếu ứng với những
cảm quan, triết - mỹ văn hóa.
Mở rộng ra, trong chiều sâu tư tưởng – triết học,
phương Tây có những nét khu biệt, nếu đặt trong thế
đối sánh với phương Đông, phần nào có thể được
sử dụng như một mã văn hóa soi chiếu, đọc – hiểu
tác phẩm. Trong hành trình nhận thức, khám phá thế
112
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
giới, tư tưởng phương Tây thường đề cao, coi trọng trị đỉnh Olympus quanh năm chan hòa ánh nắng,
lý tính, khả năng tư duy của con người; Phương long lanh tuyết phủ; thần Gaia – Đất mẹ và thần
Đông chú trọng cảm tính, sự thấu cảm nội tâm. Với
quá trình nhận thức, Phương Tây thường bắt nguồn
từ việc khám phá thế giới để quay lại tìm hiểu bản
thân con người, trong khi đó, phương Đông thường
bắt nguồn từ sự thấu hiểu bản thân, thế giới nội tâm
sau đó mới khám phá thế giới. Trong mối quan hệ
giữa con người và thiên nhiên, tư tưởng phương Tây
có khuynh hướng chinh phục tự nhiên, thể hiện khát
vọng làm chủ tự nhiên. Ngược lại, tư tưởng phương
Đông thường thể hiện một sự hài hòa với thế giới
tự nhiên trong quan niệm “thiên nhân hợp nhất”.
Nếu tinh thần nhị nguyên nổi trội ở phương Tây
thì ở phương Đông, nó đã chuyển hóa thành nhất
nguyên luận. Trong mối quan hệ giữa con người và
xã hội, tư tưởng phương Tây thường đề cao cá nhân,
các phẩm chất, ý thức cá nhân. Phương Đông lại
đề cao cộng đồng, các giá trị của cộng đồng (tam
cương, ngũ thường…). Tuy nhiên, cần nhận thấy,
đây là những nét chung, nhìn trên toàn thể. Vì tư
tưởng phương Tây và phương Đông vẫn có những
điểm gặp gỡ, giao thoa trong mạch nguồn tư tưởng
nhân loại. Tính chất cảm tính hay lý tính, kiểu tư
duy hướng nội hay hướng ngoại đều có thể gặp ở
cả phương Đông lẫn phương Tây... Nhà văn, nhà
thơ, nhà tư tưởng lớn thường là người thấm nhuần
nguồn mạch tư tưởng đã nuôi sống mình, nhưng
cũng tiếp thu, hội tụ những nguồn mạch tư tưởng
khác. Trong sáng tạo nghệ thuật, vấn đề giao lưu
văn hóa – văn học – tư tưởng Đông – Tây là một
hiện thực tất yếu…
biển Poisedon cai trị biển cả và mặt đất; thần Hades
cai quản âm phủ - nơi trừng phạt những linh hồn
tội lỗi... Quan niệm này bắt nguồn từ thế giới quan
thần linh chủ nghĩa. Dĩ nhiên, vào lúc này, thần học
chưa ra đời. Sang thời Trung cổ, trong tư tưởng Kito
giáo thời này, vì Thiên Chúa ngự ở trên cao nên nơi
nào gần Chúa nhất là thiên đàng, nơi nào xa Chúa
nhất là địa ngục, miền không gian ở giữa là cõi trần
thế, nơi sinh sống của con người. Tác phẩm “Thần
khúc” của Dante – nhà thơ cuối cùng của thời Trung
cổ, thi sĩ đầu tiên của thời kỳ Phục hưng - mang
đậm dấu ấn tư tưởng Kito giáo, đặc biệt là việc sử
dụng motif con số 3 thần bí theo quan niệm Kito
giáo (theo Kito giáo, 3 là con số toàn thiện, toàn mỹ,
thể hiện tinh thần tam vị nhất thể, phản ánh trật tự
vĩnh hằng của vũ trụ). Tác phẩm gồm 100 khúc ca
với 14.226 câu thơ, chia làm ba phần, mỗi phần có
33 khúc ca (trừ khúc ca mở đầu). Tác phẩm là hành
trình của nhà thơ Dante qua 3 miền không gian: Địa
ngục, Tĩnh thổ và Thiên đường. Địa ngục có hình
thù một cái phễu lớn gồm chín tầng, càng xuống
những tầng dưới thì hình phạt càng khủng khiếp...
Phần thứ hai là Tĩnh thổ - mang hình thù ngọn núi
ở tận cực Nam trái đất, gồm 7 bậc, là nơi yên tĩnh
để giúp linh hồn hối lỗi, tẩy sạch lỗi lầm trước khi
lên thiên đàng. Phần tiếp theo là Thiên đàng, đây là
chốn cực lạc, quanh năm chan hòa ánh sáng. “Thần
khúc” mang đậm màu sắc tôn giáo, nhất là trong
motif 3 miền không gian, cấu trúc tác phẩm. Đó là
một tác phẩm mang đầy biểu tượng, thể hiện những
quan niệm của Kito giáo về nhận thức luận như: số
phận con người sau cái chết, sự trừng phạt ở thế
giới bên kia... Nhưng “Thần khúc” không phải là
tác phẩm rao giảng giáo lý, nhà thơ được dẫn dắt
qua ba miền không gian bởi Virgil – nhà thơ La Mã
– hiện thân cho sự khôn ngoan, trí tuệ, và Beatrice
– hiện thân cho tình yêu, đó đều là những phẩm
chất của chính con người. Và trong suốt tác phẩm,
Dante hết sức coi trọng hạnh phúc trần thế và hầu
như không hề ảo tưởng vào thế giới mai sau. Những
điều này khác hẳn về nguyên tắc so với giáo lý của
Kito giáo. Nổi lên trong tác phẩm là tinh thần nhân
văn, ngợi ca con người và hạnh phúc trần thế. Sang
thời Phục hưng, với chủ nghĩa nhân văn, đề cao
con người, motif ba tầng không gian – đề tài quen
thuộc và được khuyến khích trong thời kỳ Trung
cổ mờ dần, nhường chỗ cho không gian mặt đất,
thiên đường có ngay trên mặt đất, con người sống
trong vẻ đẹp của tình yêu và tuổi trẻ (“Gargantua
và Pantagruel” của Rabelais, “Romeo và Juliet” của
Shakespeare...). Sang đến thời kỳ Cổ điển và thời
Khai sáng, vai trò của khoa học và lý trí khiến motif
không gian đó không được nhắc đến nhiều trong
các sáng tác. Nhà thơ Pháp Voltaire cho rằng: “Với
Đi sâu vào các biểu tượng – điển mẫu văn hóa
– văn học, nghĩa là ta chạm sâu vào các mã văn
hóa giăng mắc trong sinh thể tác phẩm. Ở đây, biểu
tượng – điển mẫu có thể được xem như một kí hiệu
mà người đọc cần giải mã để thâm nhập vào thế
giới nghệ thuật của tác phẩm. Đặc biệt là những
biểu tượng - điển mẫu được lặp đi lặp lại, trở thành
những motif nghệ thuật. “Trong tác phẩm có những
mã văn học ẩn sâu trong hệ thống hình tượng, cần
có cách mô hình hóa mới phát hiện ra. Việc này đòi
hỏi phân tích các motif, sự lặp lại có tính quy luật
của chúng. Đó là mã của tác phẩm văn học” (Su,
2021). Ở đây, chúng tôi thử khảo sát một biểu tượng
– điển mẫu – trong tư cách motif nghệ thuật hiện
hữu trong văn học phương Tây, có khả năng gợi
mở những liên tưởng, đối thoại đa chiều: mô thức
không gian ba cõi thiên đàng – mặt đất – địa ngục.
Có thể nói, ở phương Tây, mô thức không gian
này có thể bắt gặp trước tiên trong những truyện
thần thoại Hy Lạp. Thần thoại Hy Lạp mang kiểu
tư duy nguyên hợp tôn giáo – văn học, nó thể hiện
quan niệm của con người trong vấn đề nhận thức thế
giới. Quan niệm không gian 3 cõi ra đời với tư duy
hồn nhiên nguyên sơ. Thần Zeus và các vị thần ngự
Volume 10, Issue 3
113
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
câu chuyện Thiên đàng, Địa ngục, Dante chỉ như đàng – địa ngục vẫn hiển hiện trong suy tư của
một anh tâm thần nhưng “Thần khúc” chứa đựng nhà văn, nhất là với những tác phẩm của L.Tolstoi,
nhiều đoạn thơ tuyệt diệu’’. Tuy nhiên, cũng phải F.Dostoievski – vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Kito
thấy, motif đó đã trở thành một ký ức chi phối quá
trình sáng tạo tác phẩm. Cho nên, thế kỷ 17 vẫn
có sử thi bằng thơ “Thiên đàng đã mất” của nhà
thơ anh J. Milton viết về thiên đàng của Chúa và
địa ngục của quỷ Satan, về việc Adam và Eva bị
đuổi khỏi vườn Địa đàng vì đã ăn trái cấm; ngay
cả với nhà triết học – nhà văn thời Khai sáng như
Voltaire, trong tác phẩm của mình, ông vẫn tái hiện
hình ảnh của thiên đàng trong xứ Eldorado kỳ lạ
ở Nam Mỹ (Candide hay chủ nghĩa lạc quan), đây
là hình ảnh biểu tượng của sự giàu có với những
viên đá ngoài đường toàn bằng ngọc ngà, đá quý,
cư dân sống hạnh phúc, được giáo dục tốt, không
chiến tranh, không hận thù, không có cả nhà thờ...
Đó là hình ảnh của một vương quốc lý tưởng, chỉ
có trong huyền thoại, truyền thuyết và niềm tin tôn
giáo (Eldorado là một hòn đảo cách xa đất liền,
cũng giống như miền Utopia của Thomas More).
Cuối thời Khai sáng, vở kịch thơ đồ sộ “Faust” của
Goethe vẫn sử dụng motif không gian huyền thoại
này để phản ánh những vấn đề xã hội, và cuộc sống
con người. Nhất là cuộc đấu tranh giữa cái Thiện
và cái Ác, thiên đàng – địa ngục trong tâm hồn mỗi
người. Vở kịch mở đầu bằng màn “Giáo đầu trên
thiên đường”, rồi sau đó là là việc Faust ký giao kèo
với Mephisto, cả hai đều tin mình sẽ thắng. Quỷ
tin rằng có thể dễ dàng làm cho Faust thỏa mãn tất
cả những ham muốn và bắt được linh hồn Faust.
Faust tin rằng ý chí vươn lên của ông sẽ chẳng bao
giờ dừng lại. Bao nhiêu cám dỗ của quỷ đưa ra đều
không lung lạc được Faust, cuối cùng, Faust cũng
hài lòng, nhưng không phải do những dục vọng tầm
thường, mà bằng chính khả năng, kết quả lao động
của mình. Các thiên thần đã đón linh hồn của Faust
lên thiên đàng. Câu chuyện được diễn ra trong ba
tầng không gian: thiên đàng – mặt đất – địa ngục...
giáo... Ý niệm về tội lỗi, về việc bị đày xuống địa
ngục, và phục sinh, cứu rỗi bàng bạc trong nhiều tác
phẩm (“Tội ác và hình phạt”, “Phục sinh”...)
5. Thảo luận
Bàn về văn học dưới góc nhìn văn hóa, có thể
nói thêm về sự trỗi dậy của huyền thoại xưa trong
văn học hiện đại. Trong sự lên ngôi của những
motif, mẫu gốc huyền thoại, văn chương hiện đại
và đương đại luôn hướng tới những vấn đề có ý
nghĩa trong đời sống và sự hiện hữu của con người.
Mở rộng vấn đề, khi bàn về Chủ nghĩa huyền
thoại trong văn học thế kỷ XX, công trình mang tính
kinh điển E.M.Meletinsky: “Thi pháp huyền thoại”,
cũng đã nói rõ về sự chi phối của các huyền thoại
trong văn học viết: “Về nguồn gốc, văn học viết gắn
bó với huyền thoại qua văn học dân gian; ví dụ, nền
văn học tự sự mà chúng ta quan tâm trước hết gắn với
huyền thoại thông qua truyện cổ tích và sử thi anh
hùng ca vốn dĩ đã xuất hiện trong lòng văn hóa dân
gian (dĩ nhiên nhiều chứng tích của sử thi và truyện
cổ tích đã tiếp tục phát triển và thậm chí được tái tạo
với tư cách là những tác phẩm văn học viết). Cũng
vậy, kịch và một phần thơ trữ tình thoạt kỳ thủy tiếp
nhận những yếu tố của huyền thoại một cách trực
tiếp thông qua nghi lễ, các lễ hội dân gian, các nghi
lễ tôn giáo bí truyền” (Meletinsky, 2004, tr.377). Tuy
nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa huyền
thoại mới trở thành “một hiện tượng đặc trưng của
văn học”, “cả với tư cách một thủ pháp nghệ thuật lẫn
tư cách một biện pháp cảm thụ thế giới đằng sau thủ
pháp đó” (Meletinsky, 2004, tr.403).
Nhìn chung, trong sự vận dụng một cách linh
hoạt và phù hợp, tích hợp văn hóa sẽ mở ra những
khả thể tiếp nhận, làm tăng hứng thú cho hành trình
đọc và học văn. Chẳng hạn, đọc hiểu những bài thơ
trong phong trào Thơ mới, cần đặt văn bản trong
luồng gió ảnh hưởng phương Tây như cách đọc của
Hoài Thanh. Và cụ thể hơn, đặt nó trong loại hình
văn hóa thành thị hiện đại để nhìn thấy những đặc
trưng khu biệt về không gian – thời gian nghệ thuật,
con người và ý thức về cái tôi Thơ mới… làm nên
“một thời đại trong thi ca” với những gương mặt
riêng, không trộn lẫn. Nhìn sang trời Tây, đọc “Giấc
mộng đêm hè”, “Romeo và Juliet” của Shakespeare
(1564-1616), phải đặt trong không khí thời đại Phục
hưng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản, sự phát
triển đời sống đô thị và mở rộng thông thương, ý
thức về tự do như ngọn cờ nhân văn chống phong
kiến và thần quyền… Đọc “Robinson Crusoe” của
Daniel Defoe (1660 – 1731), hay đọc “Emile hay
về giáo dục” của J.Rousseau (1712 – 1778), cần
đặt trong bối cảnh thời đại Khai sáng với những
Thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn, motif này gắn liền
với lý tưởng, khát vọng thoát ly thực tại khổ đau,
nhàm chán và hành trình tìm kiếm lý tưởng của con
người. Tương tranh giữa ánh sáng và bóng tối, địa
ngục và thiên đàng hiển hiện trong tâm hồn của
mỗi cá nhân con người, không gian bên ngoài được
chuyển hóa thành không gian bên trong – không
gian nội tâm, gắn liền với các yếu tố huyền ảo, mơ
hồ. Hình bóng thiên đàng trong tiểu thuyết “Những
người khốn khổ” của V.Hugo được hiện lên trong
ánh sáng của tình thương, đó là thứ ánh sáng huyền
diệu, bắt nguồn từ Chúa và triết lý sống: trong đời
chỉ có một điều ấy thôi là yêu thương nhau. Bước
sang chủ nghĩa hiện thực, với việc chú trọng việc
phản ánh đời sống, nhà văn trở thành “người thư
kí trung thành của thời đại”(Balzac), motif này
hầu như ít được sử dụng. Nhưng hình bóng thiên
114
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
biến chuyển trong nhận thức về hình ảnh con người, để đọc hiểu văn bản văn học, nhất là những văn bản
trong mối quan hệ với không gian và thời gian, với mang màu sắc xứ lạ như vậy.
xã hội xung quanh và tự nhiên – vũ trụ…
6. Kết luận
Như vậy, không thể đọc hiểu văn bản trong sự
tách rời không gian – thời gian văn hóa đã chi phối,
ảnh hưởng văn bản đó. Tuy nhiên, tiếp nhận là một
hành trình, bản chất của đọc văn là “đọc lại”, lịch
sử của văn học có khi là lịch sử của những cách đọc.
Những cách đọc làm nên đời sống của tác phẩm,
hình thành sinh mệnh, thành cuộc đời… Những
không gian văn hóa, thời đại văn hóa khác lạ, vừa
là rào cản, vừa là sự gợi ý. Cái mới vừa thách thức,
vừa thâu chứa sức hấp dẫn tự thân… Tiểu thuyết
“Trăm năm cô đơn” của nhà văn đoạt giải Nobel
Văn chương năm 1982 G.Marquez (1927 – 2014) –
cũng được đưa vào Chương trình Ngữ văn mới như
một gợi ý chọn lựa độc đáo. “Trăm năm cô đơn”
(1967) mở rộng không gian – thời gian văn hóa của
miền đất Mỹ Latinh – nơi “có những thiên thần bay
lượn trong buổi rạng đông”. Ẩn hiện khắp tác phẩm
là những biểu tượng, ẩn dụ đầy ám gợi, là sắc thái
hiện thực huyền ảo xóa nhòa ranh giới giữa thực –
hư, phi lý – hữu lý, hiện tại – ảo giác, có thể - không
thể… Cuốn tiểu thuyết thể hiện vòng xoay bất tận
của thời gian với nỗi cô đơn của kiếp người. Đó là
câu chuyện về một dòng họ tồn tại bảy thế hệ, tự
lưu đày vào cõi cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.
Đoạn kết truyện, chàng Aureliano trẻ tuổi ý thức
được rằng, tấm da thuộc huyền bí mà chàng đang cố
gắng giải thích lại chính là câu chuyện về cuộc đời
mình, về gia tộc và quê hương Macondo của mình.
Như vậy, phần cuối tiểu thuyết ẩn giấu những mầm
mống của lúc khởi đầu tác phẩm, đầu và cuối tương
ứng, thời gian lại tuần hoàn trong những bi kịch
nhân sinh, thấm đẫm màu sắc triết lý… Dĩ nhiên,
trong chương trình dạy và học với giới hạn dung
lượng, thời gian, nếu lựa chọn cần dẫn trích chi tiết
tiêu biểu để thấy cả ý nghĩa tổng quát… Hướng tích
hợp văn hóa là con đường hữu hiệu, cần vận dụng
Trong thực trạng hiện nay, văn học đang mất dần
vị thế trong sân chơi văn hóa, mối quan hệ giữa
văn học với cuộc sống dần xa cách, lằn ranh giữa
các loại hình nghệ thuật thị giác – thính giác, không
gian – thời gian trong tính xâm thực mơ hồ... các
nhà nghiên cứu dần đi vào xu hướng nghiên cứu
liên ngành, so sánh văn hóa, xuyên văn hóa... trong
xu thế toàn cầu hóa. Sự tác động của toàn cầu hóa
đối với bản sắc văn hóa các dân tộc ngày một lớn,
nhiều giá trị văn hóa phương Tây bổ sung làm giàu
thành giá trị nội tại văn hóa phương Đông và ngược
lại mặt trái của nó làm cho nhiều giá trị văn hóa
truyền thống bị xáo trộn, liệu có còn những bản sắc
văn hóa độc đáo riêng hay chỉ còn một văn hóa đại
chúng, văn hóa tiêu dùng đang dần thống trị? Những
giá trị được nhìn lại, đặt ra trong từng thời kỳ, từng
đất nước – dân tộc, từng khu vực... trong cái nhìn
so sánh, nhận thức qua tư duy so sánh. Hướng đi
này cũng dần vào nhà trường, khai thác những góc
độ văn hóa khác biệt trong sự đa dạng qua cái nhìn
so sánh để hy vọng học sinh hứng thú học văn hơn,
mở ra cho các em nhiều định hướng khám phá văn
hóa hơn... chuẩn bị bước vào cuộc đời với tư thế có
văn hóa, từ công dân một nước ra công dân thế giới.
Sự chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn
học không còn thuần túy là định hướng, phương
pháp nghiên cứu mới mà là nhu cầu nội tại tất yếu
trong cuộc sống, là nỗ lực mở rộng diện, đưa văn
học ra khỏi khung cấu trúc văn học thuần túy vốn
quen mặc định ở nội dung và hình thức. Hướng tiếp
cận văn học theo sự tích hợp văn hóa có khả năng
liên kết văn học với các hình thái văn hóa, liên kết
văn học và không gian văn hóa. Đó là hướng đi đầy
gợi mở, nhiều triển vọng trong hành trình tiếp cận
thế giới nghệ thuật phong phú, đa diện của tác phẩm
văn học.
Tai lieu tham khao
Chevalier, J., & Gheerbrant, A. (Chu bien,
2002). Tu dien bieu tuong van hoa the gioi
(Nhieu tac gia dich). Ha Noi: Nxb. Da Nang
& Truong Viet van Nguyen Du.
Su, T. D. (2021). Ma va giai ma trong
van
hoc.
com/2015/01/12/ma-va-giai-ma-trong-van-
hoc, truy cap 02/8.
Cu, P. V. (2004). Sang tao va giao luu. Ha Noi:
Thin, T N. (2007). Van hoc trung dai Viet Nam
duoi goc nhin van hoa. Ha Noi: Nxb. Giao duc.
Nxb. Hoi Nha van.
Meletinsky, E. M. (2004). Thi phap cua huyen
thoai (Tran Nho Thin & Song Moc dịch). Ha
Noi: Nxb. Dai hoc Quoc gia Ha Noi.
Thin, T N. (2014). Doi thoai lien van hoa trong
thoi dai toan cau hoa va van de tiep nhan ly
luan van hoc phuong Tay o Viet Nam. Tap
chi Nghien cuu Van hoc, so 10.
Volume 10, Issue 3
115
KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ
TÍCH HỢP VĂN HÓA – PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
TÁC PHẨM VĂN HỌC SÁNG TẠO
Nguyễn Hữu Tìnha
Lê Minh Khab
a Nghiên cứu sinh, Học viện Khoa học Xã hội
Email: [email protected]
b Đại học Quy Nhơn
Email: [email protected]
Ngày nhận bài:
12/9/2021
Ngày phản biện: 19/9/2021
Ngày tác giả sửa: 23/9/2021
Ngày duyệt đăng: 27/9/2021
Ngày phát hành: 30/9/2021
ài viết trình bày một số vấn đề cơ bản về tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa. Thông qua
B
những diễn giải về phương hướng tiếp cận tác phẩm trên bình diện tích hợp văn hóa, bài viết đi sâu
phân tích một số dẫn chứng tiêu biểu để làm rõ vấn đề. Từ đó, nhóm nghiên cứu rút ra một số nhận xét và
triển vọng của hướng tiếp cận này trong hành trình khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Từ khóa: Văn học; Tiếp cận tác phẩm văn học; Văn hóa; Tích hợp văn hóa.
116
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Tích hợp văn hóa - phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học sáng tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tich_hop_van_hoa_phuong_phap_tiep_can_tac_pham_van_hoc_sang.pdf

