Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI - nhìn từ xu hướng tương tác thể loại

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI  
– NHÌN TỪ XU HƢỚNG TƢƠNG TÁC THỂ LOẠI  
Lê Thị Thu Trang  
Đại học Đồng Tháp  
TÓM TẮT  
Tiểu thuyết lịch sử hấp thu các thể loại như truyện ngắn, thơ, kịch,… vào trong nó theo  
hình thức tiếp sức, tổng hợp thể loại, là sự tương tác mang tính đồng đại, tạo nên sự dung  
hợp thể loại. Sự tương tác giữa loại với thể tạo nên nhiều tín hiệu mới, khiến cho tiểu thuyết  
lịch sử giai đoạn mười năm đầu thế kỉ XXI trở nên sinh động, đa chiều trong phản ánh hiện  
thực lịch sử và con người.  
Từ khóa: tiểu thuyết lịch sử, tương tác thể loại, xâm nhập thể loại.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo Bakhtin, lịch sử văn học trước hết là sự hình thành, phát triển, tương tác giữa các  
thể loại: “Một vấn đề rất quan trọng và lý thú nữa là sự tác động qua lại giữa các thể loại trong  
tổng thể thống nhất của văn học từng thời kỳ” [1,25]. Với Bakhtin, mỗi thời kỳ trong lịch sử văn  
học được đánh dấu bằng một thể loại chủ đạo, có vai trò chi phối và quán xuyến toàn bộ sự đổi  
thay và những cung bậc cụ thể của tấn kịch văn học. Khi tiểu thuyết thống ngự ở trung tâm, nó  
lôi kéo tất cả các thể loại khác vào vòng biến động. Tiến trình tương tác thể loại thực sự bắt đầu  
diễn ra ngay trong bản thân mỗi thể loại và trong toàn bộ hệ thống thể loại. Bakhtin cho rằng:  
“Tiểu thuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, cả những thể  
loại nghệ thuật (truyện ngắn, thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịch nói…) lẫn những  
thể loại phi nghệ thuật (các thể văn đời sống hằng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo…),  
về nguyên tắc bất cứ thể loại nào cũng có thể được đưa vào cấu trúc tiểu thuyết và trên thực tế  
rất khó tìm được một thể loại nào chưa bao giờ và chưa được ai đưa vào tiểu thuyết” [1,131].  
Kundera có quan niệm đồng nhất với khái niệm liên văn bản của Bakhtin khi đưa ra khái niệm  
cách kể đa âm: là “sự sáp nhập những thể loại phi tiểu thuyết (truyện ngắn, phóng sự, thơ, tiểu  
luận,…) vào tiểu thuyết” [4,79].  
Các nhà hình thức luận Nga, Bakhtin, Genette J.Knisteva xem sự pha trộn thể loại chính  
là những biểu hiện của tính liên văn bản. Tương tác thể loại là “hiện tượng hai hay nhiều thể  
loại của một giai đoạn, một thời kì, một nền văn học, thuộc về một hay nhiều hệ thống thể loại,  
tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, xâm nhập vào nhau, mô phỏng nhau,… để cùng biến đổi hoặc  
111  
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn từ xu hướng tương tác thể loại  
hình thành thể loại mới (với cấu trúc ít nhiều thay đổi về “tố chất thẩm mĩ chủ đạo”, “giọng  
điệu”, “dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm.”” [5,5] Tương tác thể loại diễn ra trên các  
loại quan hệ khác nhau: giữa loại với loại, giữa thể với loại, giữa thể với thể, giữa yếu tố với yếu  
tố. Tương tác thể loại có thể diễn ra theo các hình thức chính: tổng hợp thể loại, đổi ngôi – tiếp  
sức giữa các thể loại, loại bỏ, thay thế thể loại. Với tiểu thuyết lịch sử thập niên đầu thế kỉ XXI,  
chúng ta nhận thấy không chỉ lịch sử trở thành cảm hứng chủ đạo mà nó còn pha trộn cả thơ,  
truyện ngắn, những đối thoại đầy tính chất kịch, cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại… để mở  
rộng biên độ thể loại.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Sự xâm nhập của truyện ngắn trong tiểu thuyết lịch sử  
Trước khi bàn luận đến sự tương tác giữa truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử, cần đề cập  
đến những vấn đề nòng cốt, đặc trưng của hai thể loại. Truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử đều là  
những hình thức hư cấu tự sự bằng văn xuôi. Hai thể loại này đều nằm trong khu vực tiếp xúc  
với cái hiện thực đang vận động và phát triển, đều huy động kinh nghiệm sống và từng trải của  
chính tác giả, đều sử dụng một thứ ngôn ngữ văn xuôi giàu chất tạo hình và đa thanh. Trong quá  
trình phát triển, tiểu thuyết lịch sử cũng như truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới  
do sự tác động qua lại giữa các thể loại, do sự chi phối của các trào lưu và phương pháp sáng  
tác, của các phương tiện đọc và cách đọc, nghe, nhìn qua các thế kỉ. Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch  
sử là một hình thức tự sự cỡ lớn, hình thức kể chuyện cỡ lớn, khác với truyện ngắn là một hình  
thức tự sự nhỏ, hình thức kể chuyện cỡ nhỏ. Lịch sử xuất hiện trong truyện ngắn không phải là  
những sự kiện có tầm quy mô, hoành tráng với trường độ thời gian mà chỉ là những “khoảnh  
khắc”, “lát cắt” của lịch sử. Nếu nhân vật trong tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật trong  
truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới. Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những  
tính cách điển hình có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật  
truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái  
tồn tại của con người. Trong truyện ngắn, tính cách điển hình chỉ được nêu lên ở một phút sáng  
chói nào đó, nhưng trong tiểu thuyết thì đó là toàn bộ lịch sử của con người được miêu tả trong  
sự vận động và phát triển của nó. Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian và  
không gian, nhưng chức năng của nó là để nhận ra một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình  
người trong cuộc sống. Truyện ngắn thường chọn một sự kiện quan trọng nào đó, còn trong tiểu  
thuyết có nhiều sự kiện, nhiều tuyến cốt truyện đan chéo, chồng chất lên nhau. Trong truyện  
ngắn, hành động cơ bản được bắt đầu ngay một cách mau lẹ chứ không phải được dắt dẫn từ từ  
như trong tiểu thuyết. Kết cấu của truyện ngắn thường gồm nhiều tầng truyện và thường được  
dựng theo kiểu tương phản, liên tưởng. Bút pháp trần thuật thường là chấm phá. Yếu tố có ý  
nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn ẩn ý, tạo  
cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
Với tư duy tiểu thuyết, truyện ngắn có độ nén, tính vấn đề, tính mở, tính đa âm rất cao.  
Do đó, tương tác giữa truyện ngắn và tiểu thuyết lịch sử là sự xâm nhập của hình thức tự sự cỡ  
nhỏ vào trong cấu trúc tự sự cỡ lớn. Nhìn từ góc độ thể loại có thể thấy tiểu thuyết lịch sử giai  
đoạn này có sự nới rộng cấu trúc thể loại, “mở rộng trường nhìn”, góp phần tạo nên nhiều tiếng  
nói khác nhau trong tiểu thuyết. Tính liên thể loại thể hiện qua hai hình thức chính: truyện lồng  
truyện và lắp ghép truyện.  
Một trong những tìm tòi, sáng tạo nhằm đổi mới tư duy thể loại là việc các tác giả sử  
dụng kĩ thuật “lồng truyện”. Theo đó, các nhà văn đưa một hoặc nhiều truyện ngắn vào tiểu  
thuyết tạo nên hiện tượng truyện ngắn trong tiểu thuyết với ranh giới tác phẩm rõ ràng nhưng  
vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với cấu trúc chỉnh thể tác phẩm. Trong những tác phẩm của mình,  
các nhà văn như Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nam Dao, Nguyễn Thế  
Quang, Bùi Anh Tấn thiết kế một cách linh hoạt, kín đáo khi thể hiện cấu trúc “lồng” truyện  
ngắn vào tiểu thuyết một cách đa dạng, tạo nên sự cộng hưởng giữa hai thể loại, mở rộng đường  
biên cho tiểu thuyết lịch sử đương đại. Trong đó, Võ Thị Hảo đưa vào trường tự sự Giàn thiêu  
những câu chuyện ngắn về cuộc đời của nữ sĩ Lê Thị Đoan, Ngạn La, huyền tích về Dã Nhân,  
Cá Bơn; Hoàng Quốc Hải đưa vào Tám Triều vua Lý những câu chuyện truyền thuyết về Lý  
Công Uẩn, thiền sư Vạn Hạnh, Định Hương, câu chuyện phò trợ vua Lý Thánh Tông của Hai  
Bà Trưng, truyền thuyết về hai vị tướng Trương Hống, Trương Hát, những câu chuyện về cuộc  
sống của dân làng hương Thổ Lỗi, làng Nghi Tầm, cuộc đời của thôn nữ Lê Thị Khiết, cu Sắn;  
Nam Dao lồng vào tác phẩm Đất trời câu chuyện về sự báo oán của rắn mẹ thông qua việc hóa  
thân thành Nguyễn Thị Lộ, câu chuyện về thanh gươm báu của Thần Kim Quy; Hội thề bổ sung  
cho cốt truyện về những tháng ngày mưu sinh của người dân Kẻ Chợ trong thành Đông Đô, về  
cảnh bươn chải của những người cư ngụ quanh doanh trại Bồ Đề,… những câu chuyện ngắn tuy  
tách biệt nhưng lại lặn sâu trong cấu trúc tác phẩm tạo nên sự hòa hợp một cách khéo léo.  
Lồng truyện hay lắp ghép truyện đều là những biểu hiện của tính chất liên văn bản trong  
nỗ lực mở rộng đường viền của thể loại. Đó là “tổng thể các quan hệ với những văn bản khác  
được tìm thấy bên trong văn bản” [3]. Tuy nhiên, xét từ góc nhìn thể loại, kĩ thuật lắp ghép thể  
hiện rõ ý thức nghệ thuật của nhà văn trong việc đưa những câu chuyện do chính mình sáng tạo  
nhằm hướng đến mục đích, ý đồ nghệ thuật nào đó. Nguyễn Viết Thiện gọi đó chính là “trò chơi  
rubic mà sự cố tình đặt bên cạnh nhau những mảng màu khác nhau đã tạo cho tác phẩm một bức  
tranh nhiều màu sắc trong tiểu thuyết đương đại” [6, 60]. Ưu điểm của thể loại tự sự cỡ nhỏ đã  
được các nhà tiểu thuyết lịch sử đương đại sử dụng trong việc lắp ghép những câu chuyện rời  
rạc tạo thành trường tự sự cỡ lớn nhằm đạt tới khả năng bao quát hiện thực lịch sử rộng lớn, phù  
hợp với đặc trưng thể loại. Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu như: Giàn thiêu (Võ Thị  
Hảo), Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Đàn đáy (Trần Thu Hằng), Minh sư (Thái Bá  
Lợi), Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng, Bí mật hậu cung (Bùi Anh Tấn),…  
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo lắp ghép hai câu chuyện: câu chuyện về vua Lý Thần Tông  
(từ chương IX đến chương XV), câu chuyện về Từ Lộ - Từ Đạo Hạnh (từ chương XVI đến  
chương XXI). Mỗi chương là một câu chuyện ngắn nhỏ, có thể tách thành một truyện ngắn hoàn  
113  
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn từ xu hướng tương tác thể loại  
chỉnh về mặt nội dung và hình thức của thể loại. Theo dõi mạch thời gian cốt truyện, người đọc  
dường như bị đánh lừa bởi hai câu chuyện về hai nhân vật hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên, đến  
gần cuối tác phẩm, chỉnh thể tác phẩm hiện rõ, giải thích cho duyên nghiệp của nhân vật: Từ Lộ  
- Từ Đạo Hạnh chính là Dương Hóa - Lý Thần Tông. Tương tự, Bí mật hậu cung của Bùi Anh  
Tấn không chỉ thể hiện sinh động và sâu sắc mối tình trớ trêu giữa hai con người tài hoa lỗi lạc  
vào bậc nhất nhà Lý: Lý Thường Kiệt và Lý Thánh Tông mà còn lắp ghép, đan xen vào tác  
phẩm mối tình éo le và đầy oan trái giữa Gia Tân và Dương Đức Vệ, Gia Tân và Ngô Minh.  
Nhìn vào cấu trúc tác phẩm, mặc dù câu chuyện về Lý Thường Kiệt và Lý Thánh Tông thể hiện  
đầy đủ nhan đề của tác phẩm nhưng chỉ chiếm 112/394 trang (28.4%), trong khi đó, câu chuyện  
về Gia Tân lại chiếm phần lớn dung lượng tác phẩm 282/394 trang (71.6%). Như vậy, trò chơi  
mà tác giả tạo ra khi sáng tạo phần phụ lớn hơn phần chính, chuyện ngoài trung tâm lớn hơn  
chuyện trung tâm. Nhìn vào bề mặt văn bản, người đọc dường như cảm thấy tác phẩm là sự hời  
hợt, lỏng lẻo hay sự lan man, sa đà của tác giả trong việc tạo lập giá trị cho tác phẩm. Tuy  
nhiên, nhìn vào chỉnh thể cấu trúc tác phẩm, chúng ta nhận ra rằng việc xây dựng hai câu  
chuyện hoàn toàn khác nhau, nhưng tác giả lại đặt chúng trong một bối cảnh lịch sử, có sự gắn  
kết về mặt thời gian và không gian thể hiện rõ ý đồ nghệ thuật nhằm làm sáng rõ chủ đề của tác  
phẩm: thân phận con người trong quá khứ khi mang tình yêu nghịch dị.  
Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng với hình thứ tự sự mới lạ, đa chủ thể trần thuật.  
Trong lời kể của 6 nhân vật người kể chuyện là sáu câu chuyện được lắp ghép, kết chặt vào  
nhau tạo nên một chỉnh thể câu chuyện về triều đại nhà Trần: người kể chuyện hàm ẩn (NKC1),  
Trần Thái Tông (NCK2), Trần Thủ Độ (NKC 3), Trần Tung (NKC 4), Thiền sư Bảo Sát (NKC  
5), Trần Nhân Tông (NKC 6). NKC hàm ẩn kể về sự kiện nhà Trần thay nhà Lý và vai trò của  
Trần Thủ Độ, những thịnh suy và hưng vong của hai triều đại cùng thân phận của những người  
phụ nữ trong toan tính chính trị của các triều đại. NKC 2 – vua Trần Thái Tông đã kể về chính  
cuộc đời cùng những đớn đau, dằn vặt trong mối tình chính trị đầy bi kịch với Lý Chiêu Hoàng.  
NKC 3 – Trần Thủ Độ trong cơn hấp hối với những biện minh, sám hối của một con người  
nhuốm đầy máu và nước mắt vì sự nghiệp dòng họ, đất nước. Bên cạnh đó, tác phẩm mang đến  
cho người đọc những phần khuất lấp trong cuộc đời bi thương của Trần Liễu qua lời kể của  
Trần Tung (NKC 4). Thiền sư Bảo Sát lí giải nhiều vấn đề quốc gia dân tộc khi trực tiếp luận  
bàn, đàm đạo với Điều Ngự Giác Hoàng. Trần Nhân Tông xuất hiện trong vai trò NKC 6, đồng  
thời cũng là chứng nhân trong các câu chuyện của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ. Câu chuyện  
về những cuộc chiến chống giặc Mông – Nguyên đầy khốc liệt và vinh quang, những trăn trở,  
khoắc khoải về Đạo – Đời trong việc trị nước an dân cùng những khát khao hòa hợp dân tộc đều  
hiển hiện trong từng câu chuyện của nhà vua. Nhìn chung, tiểu thuyết lịch sử thập niên đầu thế  
kỉ XXI tận dụng triệt để ưu thế lớn nhất của mình trong việc thu nhận và dung chứa tất cả các  
thể loại: thơ, kịch, truyện ngắn… để mở rộng trường nhìn, biên độ sáng tạo và khả năng tiếp cận  
hiện thực lịch sử, từ đó, tiếp cận được cuộc sống đa tầng bậc, đa sắc màu của con người đương  
đại.  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
2.2. Sự xâm nhập của thơ trong tiểu thuyết lịch sử  
Thơ trong tiểu thuyết lịch sử không phải là hiện tượng mới, đó là sự thể hiện cho tính  
chất liên thể loại, sự xếp chồng các lớp văn bản. Thơ xuất hiện dày đặt trong tiểu thuyết lịch sử,  
theo kết quả khảo sát, hầu hết tác phẩm nào cũng có sự thâm nhập của thơ vào trong cấu trúc tự  
sự. Thơ xuất hiện trong tác phẩm thực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong đó, thơ được dùng  
làm đề từ nhằm định hướng tư tưởng của tác phẩm hoặc gợi nguồn cảm hứng sáng tạo cho tác  
giả. Chẳng hạn, trong ba tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh đều sử dụng câu thơ đề từ: Hồ Quý Ly  
(Thường độc hành, thường độc bộ/Đạt giả đồng du niết bàn lộ (Thiền sư Huyền Giác); Thiên  
giang hữu thủy, thiên giang nguyệt/Vạn lý vô vân, vạn lý thiên (Trần Thái Tông)); Mẫu Thượng  
Ngàn (Cô Chín ngự đồng dệt gấm thêu hoa/Thêu non, thêu nước, cô thêu ra đôi rồng chầu;  
Người đâu đẹp lạ đẹp lùng…/Rõ ràng cô Chín đền Sòng giá lâm (Văn Cô Chín)); Đội gạo lên  
chùa (Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/Cơ tắc san, hề khốn tắc miên/Gia trung hữu bảo, hưu tầm  
mịch/Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền (Trần Nhân Tông)). Trong nhiều tác phẩm, thơ không chỉ  
thể hiện chức năng minh họa cho hoạt động sáng tác, đối đáp, ngâm vịnh, truyền dạy giáo lý  
giữa các nhân vật, mà nó còn là phương tiện để cấu thành cốt truyện, mở rộng đề tài, thể hiện  
chủ đề, nới rộng biên độ thể loại, thực hiện sự kết nối liên văn bản. Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) là  
trường hợp tiêu biểu. Tác phẩm có bốn phần thì mở đầu ba phần đều là những bài thơ độc đáo:  
phần 2 (Ru cá bơn), phần 3 (Bài ca đầu lâu dã nhân), phần 4 (Bài ca chu sa đỗ tễ). Dưới đây là  
bài thơ Ru cá bơn:  
Trơn  
Lạnh  
Những chiếc vẩy biết khóc  
À ơi…  
Lời ru cá bơn  
mồ côi  
Lời ru cá bơn  
À ơi  
Ai chôn chữ trinh ba vạn  
À ơi…  
Ai chém chữ rinh chín ngàn  
Ru nào  
Mỹ nhân đọa xoáy nước  
Ngơ ngẩn đường tu  
Ru nào  
Cá bơn  
Phơi thân cỏ rạp.  
115  
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn từ xu hướng tương tác thể loại  
Xét về mặt kết cấu, có thể xem mỗi bài thơ như một chương văn bản khi xem xét dấu  
hiệu văn bản của mỗi bài thơ được sắp xếp như một chương mặc dù không có tên chương.  
Ngoài ra, trong Giàn thiêu rất nhiều lời trong kinh Phật xen kẽ trong văn bản, có những đoạn lời  
kinh Phật rất dài có chức năng như một chương mở đầu tác phẩm (chương I – Chương VIII)  
giống các bài thơ Ru cá bơn, Bài ca đầu lâu dã nhân, Bài ca chu sa đỗ tễ.  
Ngoài ra, phần lớn thơ trong tiểu thuyết lịch sử là phương thức chuyển tải tâm trạng của  
nhân vật trữ tình, nhân vật bộc lộ suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm, đồng thời là kênh chuyển tải triết  
lý nhân sinh sâu sắc của tác giả. Những bài thơ như Tiểu sơn thiên của Từ Huệ, Việt giang ngâm  
của Tô Dịch Giản, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt… được lồng vào trong cấu trúc Giàn  
thiêu giúp cho nhân vật thể hiện cảm xúc, phơi bày tâm trạng, tạo nên chất thi vị, trữ tình, làm  
giảm độ căng cho tác phẩm. Những bài thơ chữ Hán được tập hợp thành tập Bắc Hành tạp  
lục ghi lại những địa danh, hình ảnh, nhân vật, cảnh vật, và hoàn cảnh mà Nguyễn Du trong tác  
phẩm cùng tên đã quan sát, cùng những hoài niệm riêng tư cảm nhận trong hành trình sứ bộ  
sang Trung Hoa. Đặc biệt, Đoạn trường tân thanh là tiếng kêu thân phận cho những kiếp người  
chịu nhiều bất công, ngang trái, là “nỗi khát khao tự do của người nghệ sĩ trước thực tại nghiệt  
ngã, bủa vây” [65, 106]. Có thể thấy rằng, sự xâm nhập của tôn giáo trong tiểu thuyết lịch sử đã  
tạo nên bức tranh đa sắc cho thể loại. Trong các sáng tác của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân  
Khánh, Võ Thị Hảo, Bùi Anh Tấn, thơ thiền trở thành yếu tố liên văn bản tham gia tạo dựng cấu  
trúc tác phẩm. Với cảm hứng viết về hai triều đại Lý – Trần (thời đại cực thịnh của Phật giáo),  
Hoàng Quốc Hải đan cài rất nhiều bài thơ thiền của các vị thiền sư như Vạn Hạnh, Đỗ Pháp  
Thuận, Viên Chiếu, Huệ Năng, Thần Tú, Tịnh Giới, Mãn Giác… như là cách thể hiện những  
triết lý về lẽ biến thiên xoay vần của lịch sử, vũ trụ và con người. Trong Đàm đạo về Điều Ngự  
Giác Hoàng (Bùi Anh Tấn) có 15/20 bài thơ thiền được tác giả đan cài vào mạch phát triển của  
những câu chuyện. Những bài thơ thể hiện đạo trị nước của Đỗ Pháp Thuận (Vạn nước như mây  
cuốn/Trời Nam mở thái bình/Vô vi trên các điện/ Xứ xứ hết đao binh); niềm tin lạc quan, tự tại  
thấm nhuần lẽ vô thường trong triết học Phật giáo của Thiền sư Bảo Sát, Tuệ Trung thượng sỹ,  
Điều Ngự Giác Hoàng (Số đời một hơi thở/Tình đời hai biển trăng/Cung ma đâu sá kể/Cõi Phật  
một trời xuân). Ngoài ra, Bùi Anh Tấn còn đưa vào trong tác phẩm Đàm đạo về Điều Ngự Giác  
Hoàng, Oan khuất rất nhiều bài thơ, lời thơ một cách tự nhiên, có thể là cả bài thơ hoặc vài câu  
thơ. Những lời thơ thường mang tính bình luận và dự báo về nội dung. Phần “bàn” (phần mở  
đầu trong Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng), nhà văn đưa vào một bài thơ của Nguyễn Trãi  
viết về vua Trần Nhân Tông có vai trò khái quát về nội dung cho phần “bàn” về vua nhân vật.  
Trong Oan khuất, có nhiều bài thơ đan xen như bài Cảm hoài của Đặng Dung, những lời thơ  
của quan Phụ đạo đọc sang sảng khi ông luyện võ, hoặc Nguyễn Trãi thể hiện tâm sự về cuộc  
sống, sinh hoạt riêng tư khi sống ẩn dật ở Côn Sơn qua bài thơ Đời làm quan. Tóm lại, tiểu  
thuyết lịch sử đương đại thu nhận nhiều thơ, giàu chất thơ, mang lại cho thể loại một vẻ tươi  
mới, đưa tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng chiếm lĩnh vị thế trung tâm của  
đời sống văn học, đồng thời khẳng định khả năng uyển chuyển, linh hoạt giữa các thể loại  
116  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
“không thể nào thực hiện một sự phân loại hợp lý và vững chắc các thể loại” Tomachievski  
nhận xét [7, 271].  
2.3. Sự xâm nhập của kịch trong tiểu thuyết lịch sử  
Theo Bakhtin, tiểu thuyết chính là những tiếng nói xã hội khác nhau, đôi khi là những  
ngôn ngữ xã hội khác nhau và những tiếng nói cá nhân khác nhau được tổ chức lại một cách  
nghệ thuật. Tiểu thuyết là “sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau” giữa các thể loại. Hiện  
thực cuộc sống sôi động với bao bộn bề, ngổn ngang thúc đẩy nhà văn đương đại phải đối thoại  
và tìm cách giải quyết thông qua những sáng tạo nghệ thuật. Hegel nhấn mạnh rằng “tình thế  
giàu xung đột là đối tượng ưu tiên của nghệ thuật kịch”. Với kịch chân lý lịch sử là chân lý lịch  
sử bên trong của sự xung đột, còn xung đột trong tiểu thuyết lịch sử chỉ là bộ phận của toàn thể  
cái thế giới mà nó thể hiện. Tiểu thuyết đưa đến một hiện thực xã hội đã được xác định trong  
một thời đại bằng toàn cục sắc thái và không khí riêng của thời đại đó. Do tiểu thuyết mô tả cái  
toàn cục của các đối tượng, nên nó phải đi vào các chi tiết nhỏ của đời sống thường nhật và thời  
gian của hành động. Trong một thế giới nhiều mảnh vỡ, tồn tại bao nhiêu tình thế giàu xung đột  
nảy sinh: xung đột giữa cái cũ và cái mới, giữa bảo thủ và đổi mới trong Hồ Quý Ly, Mẫu  
Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Thế kỉ bị mất (Phạm Ngọc Cảnh Nam); giữa tư tưởng  
nhân nghĩa và cướp đoạt trong Hội thề (Nguyễn Quang Thân); giữa tình yêu và dục vọng trong  
Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Đàn đáy (Trần Thu Hằng), Bí mật hậu cung (Bùi Anh Tấn); giữa tự  
do và quyền lực trong Nguyễn Du (Nguyễn Thế Quang), Minh sư (Thái Bá Lợi), Huyền Trân  
(Nguyễn Hữu Nam); giữa trí thức với quyền lực, giữa dục vọng, bản năng với lý trí trong Hội  
thề (Nguyễn Quang Thân), Oan khuất (Bùi Anh Tấn); giữa Đạo và Đời trong Đàm đạo về Điều  
Ngự Giác Hoàng (Bùi Anh Tấn), Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải)… Hàng nghìn mối xung  
đột nảy sinh trong đời sống hiện thực lịch sử, trong suốt chặng đường dựng nước và giữ nước  
(xung đột giữa ta và địch): Bà triệu, Lê Lợi – Hàn Thế Dũng; Tám triều vua Lý – Hoàng Quốc  
Hải, Hội thề - Nguyễn Quang Thân, Đất trời – Nam Dao … được các nhà tiểu thuyết lịch sử  
đương đại mang ra luận giải, đối thoại như là một cách mô tả hướng vận động của hiện thực lịch  
sử.  
Một trong những đặc trưng cơ bản của kịch là tính tập trung. Trong đó, cốt truyện phải  
tập trung, phải dồn nén, chứa đựng những tình tiết thật sự tiêu biểu và cần thiết, có ý nghĩa  
tượng trưng và khái quát cao. Đó là cốt truyện “thuần túy”. Do đó, cốt truyện và hành động kịch  
phải thống nhất tập trung, đòi hỏi chi tiết, tình tiết, sự kiện không những phải cô đúc, gãy gọn  
mà còn phải liên đới với nhau một cách chặt chẽ, logic, tất yếu, tự nhiên. Chẳng hạn, trong Con  
đường định mệnh, Hoàng Quốc Hải sử dụng kĩ thuật tỉnh lược thời gian, tập trung dồn nén rất  
nhiều sự kiện diễn ra trong giai đoạn lịch sử rất dài 153 năm. Trong 550 trang đầu, người kể  
chuyện thuật lại câu chuyện về những năm đầu tiên trị vì của Lý Nhân tông diễn ra trong vòng 5  
năm (trung bình 110 trang/năm). Từ đời Lý Thần Tông trở về sau, nhà văn chỉ quy về một  
không gian thật hẹp, tập trung vào các sự kiện chứ không đi vào miêu tả tỉ mỉ các sự kiện ấy.  
Cuộc đời ngắn ngủi của Lý Huệ tông được kể trong vòng 46 trang sách với tốc độ trần thuật  
trung bình là 3.54 trang/năm. Ngắn ngủi và giản lược nhất là giai giai đoạn cuối cùng của triều  
117  
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn từ xu hướng tương tác thể loại  
Lý, với cách kể ngắn gọn: “Lý Huệ tông lập công chúa Phật Kim làm hoàng thái tử Chiêu  
Thánh. Lại kèm thêm một chiếu nữa: Chiếu nhường ngôi… Trần Cảnh vào chầu, nữ chúa vời  
vào hậu cung chơi bời cho có bạn… thế là hai trẻ thành thân. Được mấy tháng sau ngày cưới,  
Trần Thủ Độ lại bày ra chuyện nhường ngôi….Thế là nhà Lý mất ngôi nước, nhà Trần tự nhiên  
được ngôi nước mà không hao tổn máu xương” [tr.979 – 980].  
Tiểu thuyết đương đại ngày càng có xu hướng rút ngắn về dung lượng, đó là kết quả của  
sự thâm nhập các đặc tính tập trung của kịch. Lựa chọn cách viết ngắn gọn buộc nhà văn phải  
xây dựng tác phẩm cô đúc về dung lượng, có sức nén, phải chọn thời điểm đặc biệt, mang tính  
vấn đề cao. Khi sáng tạo tiểu thuyết Hội thề, Nguyễn Quang Thân đã chọn thời điểm đặc biệt  
(dăm bảy ngày trước sau trận Xương Giang), chọn một không gian hẹp là thành Đông Quan và  
vùng Kinh Bắc, những nhân vật kiệt xuất (Lê Lợi, Nguyễn Trãi), những tình huống giàu ý nghĩa  
xã hội. Tác phẩm là một nhát cắt của lịch sử với bao suy tư, bao gợi mở thổi về từ quá khứ 600  
năm, tác phẩm có sức lay động trái tim và tư duy con người hiện đại. Nguyễn Quang Thân, qua  
Nguyễn Trãi, đặt vấn đề vị trí, tài năng và số phận của người trí thức dưới chế độ phong kiến.  
Đối thoại và xung đột kịch có thuận lợi để tái hiện tính cách nhân vật một cách chân thực. Nhiều  
tác phẩm được các tác giả tái hiện trên dòng vận động lịch sử và theo sự chọn lọc giai đoạn triều  
chính suy tàn và lập quốc của các của triều đại: nhà Lý và nhà Trần trong Tám triều vua Lý,  
Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng; nhà Trần và nhà Hồ trong Hồ Quý Ly; nhà Lê và nhà  
Nguyễn trong Tây Sơn bi hùng truyện, Minh sư… Các nhân vật Trần Thủ Độ, Thiên Cực, Chiêu  
Thánh, Trần Thái Tông, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Hoàng…, mỗi  
người có cá tính và bản lĩnh riêng đều muốn làm theo ý mình nhưng rồi cũng bị guồng máy  
chính trị chi phối phải làm những việc khác với chính mình. Cốt truyện kịch được dẫn dắt theo  
quy luật nhân quả, các mối liên hệ phải thật chặt chẽ, có những chỗ ngoặt, những đoạn đột biến,  
những bước nhảy vọt được cấu tạo bằng những sự việc bất ngờ gây hứng thú, buộc người xem  
phải theo dõi liên tục. Ngược lại, người đọc tiểu thuyết lịch sử có thể lướt qua những đoạn mà  
mình không thích.  
Nhân vật trong kịch là nhân vật hành động. Nhân vật kịch có suy nghĩ cũng phải thể  
hiện ra bằng hành động. Nhân vật thường xuyên hoạt động, thực hiện hành động này tới hành  
động khác dẫn đến sự chồng chất dồn nén tạo thành xung đột kịch: Từ Lộ, Ỷ Lan (Giàn thiêu),  
Trần Thủ Độ (Tám triều vua Lý, Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng), Hồ Quý Ly (Hồ Quý  
Ly),… Nhân vật Từ Lộ trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, ngay từ đầu xuất hiện là một người  
yêu say đắm Nhuệ Anh và là chàng thư sinh, nho nhã. Cái chết oan khuất của cha đã làm thay  
đổi suy nghĩ và hành động của Từ. Từ quyết tâm lên đường tìm cách trả thù. Hành động từ bỏ  
tình yêu Nhuệ Anh, vượt qua bao khó khăn đến Thiên Trúc học phép thuật, quay về giết Đại  
Điên, đặc biệt khát vọng tình yêu không thực hiện được trong hiện thực luôn cháy bỏng trong  
lòng Từ, để đến khi trở thành thiền sư Từ Đạo Hạnh, tu hành đắc đạo nhưng Từ vẫn luôn ấp ủ  
thực hiện những khát vọng nhằm hưởng thụ hết những gì đã bỏ lỡ. Càng ngày Từ càng dấn sâu  
vào khát vọng bản năng, những tham vọng quyền lực. Càng dấn thân càng thất vọng, càng khát  
khao càng không được thỏa mãn. Hóa hổ là hậu quả tất yếu của lòng tham quá lớn trong Từ.  
118  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế  
Tập 7, Số 2 (2017)  
Tóm lại, sự xâm nhập của kịch trong tiểu thuyết lịch sử là sự tương tác giữa loại và thể theo  
hình thức tiếp sức, tổng hợp thể loại, là sự tương tác mang tính đồng đại, tạo nên sự dung hợp  
thể loại hoặc có thể là chuyển thể thể loại một cách dễ dàng. Từ đó, tiểu thuyết lịch sử và kịch  
có thể chuyển hóa qua lại, tạo nên những tác phẩm kịch lịch sử hoặc kịch bản sân khấu, kịch  
bản phim, điển hình là trường hợp Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Oan khuất, Bức huyết thư  
của Bùi Anh Tấn…  
3. KẾT LUẬN  
Nhìn vào thành tựu mà tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này đạt được, có thể thấy rằng,  
logic tương tác đa chiều đã đưa thể loại vận động và phát triển mạnh mẽ. Nếu sự tương tác giữa  
truyện ngắn, thơ và kịch với tiểu thuyết lịch sử là tương tác giữa thể và loại thì tương tác giữa  
tiểu thuyết lịch sử với lịch sử, huyền thoại, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng… là tương tác giữa thể  
loại với các hình thái ý thức xã hội khác, là sự tương tác ngoài hệ thống thể loại. Sự xâm nhập  
của các yếu tố ngoài văn bản giúp cho tiểu thuyết lịch sử được mở ra theo nhiều hướng mới:  
tiểu thuyết lịch sử - huyền thoại, tiểu thuyết lịch sử - văn hóa… Mỗi chiều tương tác tạo cho tiểu  
thuyết lịch sử một tiểu loại mới theo hình thức tổng hợp, đổi ngôi và tiếp sức thật sự đã làm cho  
gương mặt tiểu thuyết lịch sử đương đại trở nên phong phú và đa sắc.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. M. Bakhtin (2004). Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.  
[2]. Nguyễn Văn Hùng (2014). Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 từ góc nhìn tự sự học, Luận án  
Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội.  
[3]. G.K.Kosikov (2013). “Văn bản – Liên văn bản – Lý thuyết liên văn bản”, (Lã Nguyên dịch),  
[4]. M. Kundera (2001). Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Văn hóa Thông tin, Trung tâm  
ngôn ngữ Đông Tây.  
[5]. Nguyễn Thành Thi (2007). ““Lược đồ” văn học quốc ngữ Việt Nam nhìn từ quá trình hình thành và  
tương tác thể loại”, Báo cáo tham luận tại Hội thảo EuroViet, Hamburg, tháng 6/2007,  
[6]. Trần Viết Thiện (2012). Sự tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1986 đến nay, Luận  
án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh.  
[7]. Đỗ Lai Thúy (2001). Nghệ thuật như là thủ pháp, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.  
119  
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI – nhìn từ xu hướng tương tác thể loại  
HISTORICAL FICTION IN THE FIRST DECADE OF XXI CENTURY –  
FROM THE TRENDS OF INTERACT GENRE  
Le Thi Thu Trang  
Dong Thap University  
ABSTRACT  
The Historical novel has absorbed features of various genres like short stories, poetry and  
drama ... into it by the form of succession, genre synthesis as well as the synchronic  
interaction that create the genre fusion. The interaction between the type and genre has  
created many new signals, which make the historical novel in the first decade of XXI  
century come alive, multidimensional in the reflection of historical reality and human life.  
Keywords: Historical novels, interactive genre, intrusion genre.  
120  
pdf 10 trang baolam 20840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI - nhìn từ xu hướng tương tác thể loại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_thuyet_lich_su_viet_nam_trong_thap_nien_dau_the_ki_xxi.pdf