Tìm hiểu, đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của các hoành phi, câu đối trong những ngôi đền trên địa bàn thành phố Tuyên Quang

No.20_Mar 2021|p.53-60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
FIND OUT, EVALUATE THE CONTENTS AND ART OF  
“HOANH PHI, CÂU ĐỐI'' IN THE TEMPLES IN TUYEN QUANG CITY  
Nguyen Thi Giang1,*  
1 Tan Trao University, Viet Nam  
Article info  
Abstract  
Tuyen Quang has long been known as a "sacred forest" place, with many temples,  
communal houses, pagodas, temples, pagodas ... In these sacred places, it is  
indispensable to have pictures and sentences because it creates the soul for  
spiritual works. The hanging diaphragm, sticking sentences is a fine culture of the  
Vietnamese people. The culture here is understood in the limited sense as the  
spiritual and emotional activities of the person in the process of choosing to reach  
truth, goodness, and beauty. The diaphragm, Han Nom sentences are hung, stuck,  
carved at temples in Tuyen Quang city, there is also a reflection to praise the  
beauty of the scenery of the people of Tuyen and express the philosophical  
ideology of life.  
Recieved:  
15/01/2021  
Accepted:  
22/02/2021  
Keywords:  
Tuyen  
Quang  
city,  
couplets,  
diaphragm,  
temples, Han Nom  
No.20_Mar 2021|p.53-60  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
TÌM HIỂU, ĐÁNH GIÁ VỀ GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT  
CỦA CÁC HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI TRONG NHỮNG NGÔI ĐỀN  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG  
Nguyễn Thị Giang1,*  
1Trường Đại học Tân Trào  
*Địa chỉ email: [email protected]om  
Tóm tắt:  
Thông tin tác giả  
Tuyên Quang từ lâu đã nổi tiếng là nơi “rừng thiêng”, có nhiều ngôi đền, đình,  
chùa, miếu, mạo… Ở những nơi linh thiêng này không thể thiếu các hoành phi,  
câu đối bởi nó tạo nên hồn sắc cho các công trình tâm linh. Treo hoành phi, dán  
câu đối là một nét văn hóa tốt đẹp của người Việt. Các hoành phi, câu đối chữ  
Hán Nôm được treo, dán, trạm khắc tại các đền chùa trên địa bàn thành phố  
Tuyên Quang cũng có nội dung phản ánh là ca ngợi vẻ đẹp phong cảnh của con  
người xứ Tuyên và thể hiện tư tưởng triết lý của cuộc sống.  
Ngày nhận bài:  
15/01/2021  
Ngày duyệt đăng:  
22/02/2021  
Từ khóa:  
Thành phố Tuyên Quang,  
hoành phi, câu đối, đền  
chùa, Hán Nôm.  
1. Đặt vấn đề  
Treo hoành phi, dán câu đối là một sắc thái văn  
hóa của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn  
minh Trung Hoa. Hoành phi, câu đối lưu giữ những  
giá trị đẹp về truyền thống văn hóa đạo đức. Đó là  
cách ông cha ta lưu truyền những lời răn dạy, mong  
muốn cũng như lịch sử của gia đình, dòng tộc mình  
mãi mãi về sau. Với vẻ đẹp nho nhã cùng ý nghĩa  
sâu xa, hoành phi, câu đối được lưu giữ, tồn tại  
trong nhiều không gian linh thiêng, xứng đáng là  
một di sản văn hóa Việt.  
hoành phi, câu đối bởi nó tạo nên hồn sắc cho các  
công trình cổ kính này.  
Các hoành phi, câu đối treo trong các ngôi đền ở  
thành phố Tuyên Quang đều được viết bằng chữ  
Hán và chữ Nôm. Trong khuân khổ dung lượng của  
bài viết chúng tôi chỉ sử dụng phần phiên âm Hán  
Việt, dịch nghĩa các hoành phi, câu đối để làm tư  
liệu viết bài, còn phần nguyên văn chữ Hán chúng  
tôi sẽ nghiên cứu trong các công trình tiếp theo.  
Tuyên Quang từ lâu đã nổi tiếng là nơi “rừng  
thiêng”, có nhiều ngôi đền, đình, chùa, miếu,  
mạo… linh thiêng được nhân dân cả nước biết đến  
với những dòng chữ “Tối linh từ” (Đền vô cùng  
linh thiêng). Ở những nơi này không thể thiếu các  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Giá trị nội dung  
2.1.1. Ca ngợi vẻ đẹp của phong cảnh và triết  
lý của cuộc sống  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
Hoành phi giống như tiêu đề trong một bài văn,  
Trời Nam mưa á gió âu cầu thịnh vượng  
Núi Là, sông Lô đất đẹp miếu cao thiêng.  
nó có thể làm rõ tư tưởng chủ đề của một đôi câu  
đối. Hoành phi có vai trò làm nổi bật nội dung cần  
biểu đạt và tăng thêm ý nghĩa, có tác dụng khái  
quát thuyết minh cho câu đối. Câu đối là một thể  
loại văn học ngắn, đòi hỏi người làm phải có sự am  
hiểu nhất định thì mới có thể làm hay, làm đúng  
được. Treo hoành phi, dán câu đối là một nét văn  
hóa tốt đẹp của người Việt. Văn hóa ở đây hiểu  
theo nghĩa giới hạn là các sinh hoạt tinh thần và  
tình cảm của con người trong quá trình chọn lọc để  
tiến tới chân, thiện, mỹ. Các hoành phi, câu đối chữ  
Hán Nôm được treo, dán, trạm khắc tại các ngôi  
đền trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng có  
nội dung phản ánh là ca ngợi vẻ đẹp phong cảnh  
của con người xứ Tuyên và thể hiện tư tưởng triết  
lý của cuộc sống.  
Câu đối  
Sâm Sơn chung tú khí Tuyên thành thảo  
mộc phát vinh.  
Lô thủy dục anh linh thụy hải ngư long tiếp hóa.  
Dịch nghĩa  
Núi Sâm hun đúc nên khí tốt chốn Thành Tuyên cỏ  
cây tươi tốt.  
Nước sông Lô nuôi dưỡng sự linh thiêng ngư long  
vẫy vùng.  
(Đền Thượng)  
Câu đối  
Tiền Lô giang thuỷ lưu thiên thu lai bảo  
Hậu La sơn ngật thốn vạn cổ truyền phương.  
(Đền Cây Sanh)  
Chọn địa thế để xây các ngôi đền luôn là việc  
được các bậc cha ông ta cực kỳ coi trọng quyết định  
rất lớn đến việc xây dựng ngôi đền, địa thế được là  
đẹp nhất khi xây dựng đền được cha ông ta chọn là  
“Tiền minh đường hữu hậu chẩm” (theo quan điểm  
phong thủy đó là nơi tụ thủy, tụ phúc). Khi nghiên  
cứu về các ngôi đền có trên địa bàn thành phố  
Tuyên Quang chúng tôi thấy có một điều thú vị là  
những ngôi đền này đều được xây dựng theo một  
địa thế theo thuyết phong thủy: “Tiền minh đường  
hữu hậu chẩm” dòng nước là yếu tố quan trọng đối  
với cư dân nông nghiệp – thể hiện lối tư duy dân dã  
cầu mong mùa màng bội thu, đây là nguyện vọng  
ngàn đời của cư dân nông nghiệp lúa nước. Phía sau  
của các ngôi đền này đều có các núi như La Sơn (núi  
Là, Sâm Sơn (núi Dùm, núi Cố) làm hậu chẩm tạo  
thế vững trãi trường tồn cùng thời gian như:  
Dịch nghĩa  
Dòng nước sông Lô phía trước ngàn năm mang lại  
báu vật  
Miếu ở sau núi Là như nuốt hết cỏ thơm được  
truyền lại từ ngàn năm  
Hay câu đối  
Tiền lô giang thủy trường lưu thiên cổ  
Hậu lĩnh sơn thạch tụ vạn kiếp tồn.  
(Đền Pha Lô)  
Dịch nghĩa  
Phía trước sông Lô nước chảy lưu muôn thuở  
Ngọn núi đá phía sau đã tồn tại ngàn đời  
Cảnh đẹp thiên nhiên của sông núi đất Tuyên đã  
được miêu tả rất đẹp trong những câu đối được treo  
trong các ngôi đền, đó là hình ảnh dòng sông Lô  
Giang oai hùng linh thiêng đem lại nhiều lợi ích  
cho con người xứ Tuyên, tạo nên thế đất đẹp cho  
những nhà phong thủy ngày xưa chọn làm “Tiền  
đường” cho các ngôi đền.  
Câu đối  
Địa La quảng khoát đức thịnh phong thanh dẫn  
nhập viễn hồi nguyên  
Sâm sơn Lô thuỷ chi gian chúc truyền càn khôn  
chung vượng khí.  
(Đền Ỷ La)  
Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, những  
hoành phi câu đối trên còn thể hiện những tư tưởng  
triết lý về cuộc sống, đó là triết lý về đạo Phật rất  
nhân văn, từ bi, để khuyên con người ta tu tâm,  
dưỡng tĩnh để trở thành con người tốt như:  
Dịch nghĩa  
Đất rộng, đức cao gió lành đưa từ xa về chốn cũ  
Núi Dùm, sông Lô thắp sáng đất trời đúc lên khí đẹp.  
Câu đối  
Á vũ âu phong Nam Thiên cầu thịnh hội  
La Sơn Lô thuỷ thắng địa ngật linh từ. (Đền Ỷ La)  
Dịch nghĩa  
Câu đối  
Phụng phật tại tâm tâm tức phật  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
Tu thân tích đức đức thành thần.  
Dịch nghĩa  
(Đền Quang Kiều)  
nhiều thiên tai bệnh họa, con người sống ở vùng  
sơn cước đã bấu víu, đặt niềm tin vào các bậc thần  
thánh, cầu mong họ bảo vệ cho mình. Khi cầu khẩn  
họ thấy ứng linh nên ngày càng tin, sùng bái họ. Để  
tỏ lòng biết ơn và tôn sùng các vị thánh những  
người dân đã xây dựng các ngôi đền để tỏ lòng kính  
trọng biết ơn và thờ cúng họ đây cũng chính là  
nguyên nhân giải thích tại sao mảnh đất xứ Tuyên  
lại có nhiều đền chùa như vậy .  
Thờ phụng ở cái tâm, tâm tức là phật  
Tu sửa bản thân tích đức, đủ đức sẽ thành thần  
Hay như câu đối  
Tu đức tĩnh tâm nhân an thái  
Nhân thiện đồng tâm quốc thái bình.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Dịch nghĩa  
Trong quá trình nghiên cứu về các ngôi đền  
chúng tôi thấy tín ngưỡng thờ cúng chủ yếu là tín  
ngưỡng thờ Mẫu (Mẫu thoải, Mẫu thủy), đây là tín  
ngưỡng lâu đời của dân tộc ta. Các bậc thánh Mẫu  
được nhân dân ca tụng rất nhiều, sự ca tụng này  
cũng được thể hiện rất rõ trong các câu đối như:  
Tu đức tĩnh tâm con người yên ổn thư thái  
Điều nhân điều thiện cùng trong tâm mỗi người  
khiến đất nước thái bình  
Triết lý đạo phật không chỉ khuyên con người ta  
tu thân, dưỡng tĩnh mà còn nói về triết lý nhân  
quả rất hay:  
Phiên âm  
Phật thánh kính xanh uy linh tâm ứng  
Mẫn gia quốc xứ tâm hưởng phúc danh  
(Đền Cây Xanh)  
Trắc giáng anh linh cao sơn tam toạ Mẫu ngự  
Hộ quốc bảo quan dân lưu tích mãn linh trường.  
(Đền Mỏ Than)  
Dịch nghĩa  
Dịch nghĩa  
Nắm hiểu được sự uy nghi của phật thánh  
đều mong trong tâm sẽ ứng niệm  
Nơi núi cao có ba Mẫu toạ ngự, bên cạnh toả ra sự  
linh thiêng  
Hộ quốc, bảo vệ quan tâm dân dấu vết của sự linh  
thiêng vẫn còn mãi mãi  
Lo lắng cho đất nước bằng cái tâm của mình sẽ  
được phúc và tiếng tăm  
Trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt có  
một vị anh hùng dân tộc đã được thần thánh hóa,  
được người dân trên khắp đất nước thờ cúng, ở hầu  
hết các ngôi đền trên dải đất Việt Nam không nơi  
nào là không thờ ông coi ông là vị thần “hộ quốc”  
bảo vệ đất nước, đó chính là Hưng Đạo Đại Vương  
Trần Quốc Tuấn. Công đức của ông đã được người  
dân ca tụng và làm câu đối đề tặng:  
Hay câu  
Lô thích ư nhân do tâm nguyện  
Hữu cầu tất ứng tự thân vi  
Dịch nghĩa  
Mong muốn ở lòng người do ý nguyện từ tâm  
Có cầu mà ứng nghiệm đó là do bản thân mình  
(Đền Lâm Sơn)  
Công đức Trần Vương uy linh đại tuyệt  
Nhất tâm cung kính cầu thổ quang minh.  
(Đền Đồng Xuân)  
Qua nội dung phản ánh của các hoành phi, câu  
đối được treo, trạm khắc trong các ngôi đền trên địa  
bàn thành phố Tuyên Quang là những lời răn dạy,  
khuyên bảo rất hay rất có ý nghĩa cho mỗi chúng ta.  
Vì vậy, việc sưu tâm dịch nghĩa ra tiếng Việt các  
câu đối là rất cần thiết để mỗi người khi đến các  
đền chùa ngoài việc tâm linh, họ còn học được rất  
nhiều triết lý cuộc sống qua những hoành phi câu  
đối này.  
Dịch nghĩa  
Công đức của đức Thánh Trần uy linh lớn vô cùng  
Thành tâm cung kính cầu cho đất tươi sáng  
Khi người dân tìm đến chốn tâm linh như các  
ngôi đền chùa để cầu mong những điều tốt đẹp đến  
với mình và họ cảm nhận được sự linh ứng, khi đó  
con người sẽ tin tưởng vào thần thánh hơn. Nhưng  
ngôi đền ở Tuyên Quang từ lâu đã nổi tiếng khắp cả  
2.1.2. Ca ngợi công đức của các bậc thánh thần  
Tuyên Quang từ lâu đã nổi tiếng có những ngôi  
đền rất linh thiêng, do cuộc sống khó khăn hay gặp  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
nước về sự linh thiêng, và được ca tụng trong cả  
các hoành phi, câu đối:  
biến nhất và được ưa chuộng nhất thời bấy giờ. Đối  
với những công trình văn hóa truyền thống như  
đình, đền, chùa, miếu, mạo, nhà thờ họ...là nơi dùng  
để thờ cúng các bậc thần thánh, những người có  
công với đất nước, làng quê và các bậc cha ông đã  
khuất... hoành phi, câu đối chữ Hán là một phần  
quan trọng, không chỉ mang tính chất là đồ thờ để  
ca ngợi công đức của người được thờ, mà còn có  
giá trị trang trí giúp cho những nơi đó có vẻ đẹp  
trang nghiêm, cổ kính.  
Vạn cổ anh linh  
(Đền Cây Sanh)  
Dịch nghĩa  
Mãi mãi linh thiêng  
Hay  
Dục tú anh linh  
(Đền Lâm Sơn)  
Những bức hoành phi câu đối có trong 12 đền  
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng không  
nằm ngoài mục đích nói trên, những bức hành phi  
câu đối đều được viết bằng chữ Hán, hoặc Nôm.  
Ngay khi bước vào cổng của nhưng công trình  
truyền thống này ta đã thấy những bức hoành phi,  
đại tự đặt ngang ngay giữa cổng chính ghi tên của  
đền, như: Kiếp Bạc linh từ, Lâm Sơn linh từ...phía  
dưới là những câu đối dọc có cả ở cổng chính và  
cổng phụ. Những hoành phi câu đối ở cửa đã làm  
cho những ngôi đền này nổi bật và khác biệt với  
những công trình xung quanh mang vẻ đẹp hoài cổ.  
Dịch nghĩa  
Những điều tốt đẹp linh thiêng  
Hoặc những câu đối ở các đền như:  
Càn khôn thánh đức an dân đại  
Nhật nguyệt thần công hộ quốc trường.  
(Đền Mỏ Than)  
Dịch nghĩa  
Đức của thánh làm yên lòng dân sánh ngang trời đất  
Công của thần bảo vệ đất nước dài cùng tháng năm  
Hay như:  
Đi vào bên trong chính điện những ngôi đền  
nghệ thuật treo hoành phi, câu đối lại càng cầu kỳ  
công phu và theo một quy tắc nhất định. Phần điện  
chính thường có ba gian đầu mỗi gian treo một bức  
hoành phi, bức hoành phi chính sẽ được treo ở gian  
giữa, nội dung của bức hoành phi này là ghi tên vị  
thánh, hay là những mỹ tự ca ngợi công đức của họ  
như: Hưng Đạo Đại Vương (đền Kiếp Bạc) Mẫu  
Nghi thiên hạ (đền Ỷ La), Thượng đẳng tối linh  
(đền Cây Xanh)....trên mỗi bức hoành phi đều có  
dòng lạc khoản được viết nhỏ hơn được ghi ở một  
hoặc hai bên bức hoành phi sẽ cho chúng ta biết  
thông tin về chủ nhân của hoành phi, người viết,  
người tặng, sự kiện tạo ra bức hoành phi đó, về thời  
gian làm bức hoành phi trong đình, đền, nhà thờ  
họ... Hình trang trí trên các bức hoành phi như tứ  
linh (long, ly, quy, phượng), tứ thời (mai, lan, cúc,  
trúc), Cuốn Thư ... ngoài việc làm nổi bật thêm nội  
dung của những chữ trên bức hoành phi, còn thể  
hiện sự sáng tạo và thẩm mỹ của người tạo tác.  
Dưới mỗi hoành phi là câu đối được treo dọc hai  
bên, đây là nhưng câu đối văn khắc chữ Hán được  
đắp hoặc khắc trên những chất liệu như gỗ, đồng, xi  
măng. Khi đi khảo sát thực tế ở những ngôi đền  
trên địa bàn thành phố chúng tôi thấy những hoành  
Thánh đức chung linh lâm sơn gia hậu  
Tiên ân dục tú Lô thủy diện tiền.  
(Đền Lâm Sơn)  
Dịch nghĩa  
Linh khí của các bậc thánh như rừng núi tự  
ngàn xưa  
Ân đức của các vị tiên như nước sông Lô chảy  
phía trước  
Thông qua nội dung phản ánh của các hoành phi  
câu đối chữ Hán ở các đền trên địa bàn thành phố  
Tuyên Quang chúng ta thấy được những hoành phi  
câu đối đó không chỉ miêu tả thiên nhiên tươi đẹp,  
triết lý đạo phật nhân từ, mà còn ca ngợi công đức  
của các bậc thần thánh đã có công phù trợ cho nhân  
dân. Đây chính là những giá trị về nội dung mà  
hoành phi câu đối đem lại cho chúng ta.  
2.2. Giá trị nghệ thuật  
2.2.1 Giá trị thẩm mỹ  
Treo hoành phi, dán câu đối là một truyền thống  
văn hóa của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền  
văn minh Trung Hoa như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn  
Quốc. Chữ Hán được người xưa xem là chữ thánh  
hiền, cao quý, chuyển tải được nhiều đạo học sâu  
xa, viết hoành phi, câu đối bằng chữ Hán là phổ  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
Dòng Lô Giang tự đức bởi sự bao dung của người dân.  
(Đền Ỷ La)  
Thánh đức diệu linh thông phương tín cổ kim  
phi, câu đối đa số đã được làm lại mới trên chất liệu  
bằng đồng được sơn son thiếp vàng vì các ngôi đền  
này trong những năm gần đây rất được chú trọng  
đầu tư tôn tạo.  
bồng ảo  
2.2.2. Nghệ thuật đối của các câu đối chữ  
Hán Nôm trong các đền trên địa bàn thành phố  
Tuyên Quang  
Mẫu nghi thần vận hóa trường lưu thiên địa  
tuyết vĩnh.  
(Đền Cấm)  
Người Trung Hoa từ xưa đã quan niệm: “Nếu  
thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh  
hoa của tinh hoa”. Câu đối có hai vế với những  
niêm luật chặt chẽ về đối thanh, đối ý, đối từ và sử  
dụng nhiều thủ pháp chơi chữ… nhằm biểu thị một  
ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một  
hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã  
hội. Mỗi câu đối được coi là một tác phẩm nghệ  
thuật, qui mô của tác phẩm tuy nhỏ, nhưng sức  
chứa, sức gợi rất lớn. Xét về nguyên tắc và hình  
thức câu đối, thì một câu đối được coi là chỉnh đối,  
hoàn hảo, chặt chẽ cần phải đảm bảo chính xác về  
luật bằng trắc, ý nghĩa và từ loại.  
Về thể loại câu đối được treo ở các ngôi đền  
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang cũng rất đa  
dạng, có cả tiểu đối, đối thơ, đối phú.  
Về tiểu đối: là loại câu đối có bốn chữ trở  
xuống, những câu đối này rất hiếm gặp ở đền chùa  
vì chúng ít chữ nên khi treo dọc ở đền chùa không  
phù hợp, nó chỉ xuất hiện có một lần tại đền Ỷ La:  
Phúc như Đông Hải  
Thọ tỷ Nam Sơn  
Về đối phú chiếm tỷ lệ nhiều, mà chủ yếu ở đây  
là đối song quan, ngắt nhịp 2/2/3, hay nhịp 3/4 như:  
Sắc tặng Lê triều, lưu đề tích  
Tuyên Quang phượng vũ, tối anh linh.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Các câu đối được treo ở các ngôi đền trên địa  
bàn thành phố Tuyên Quang đã bảo đảm được  
những yêu cầu trên. Về luật bằng trắc những câu  
đối đã đảm bảo được yêu cầu tối thiểu là chữ cuối  
cùng của vế trên là âm trắc thì vế dưới là âm bằng  
hay ngược lại, dù là câu đối dài hay ngắn đều phải  
tuân thủ nguyên tắc này, như:  
Anh tú, dục chung, thiên cổ thánh  
Linh thanh, hách trạ, cức niên thần.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Tiền Lô giang thuỷ lưu thiên thu lai bảo  
Hậu La sơn ngật thốn vạn cổ truyền phương.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Tu đức, tĩnh tâm, nhân an thái  
Nhân thiện, đồng tâm, quốc thái bình.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Nhuận nghi uy nhược sơn hà cựu  
Miếu vũ nhung thành cảnh sắc tân.  
(Đền Mỏ Than)  
Càn khôn thánh đức, an dân đại  
Nhật nguyệt thần công, hộ quốc trường.  
(Đền Mỏ Than)  
Quốc gia hữu vĩnh sơn hà cố  
Dân sĩ vô cùng nhật nguyệt trường.  
(Đền Đồng Xuân)  
Quốc gia hữu vĩnh, sơn hà cố  
Dân sĩ vô cùng, nhật nguyệt trường.  
(Đền Đồng Xuân)  
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khảo  
sát các hoành phi câu đối chúng tôi thấy có những  
câu đối đã không tuân thủ luật bằng trắc, khi mà  
cả âm cuối cùng của hai vế đều là thanh bằng hoặc  
trắc, như:  
Tứ phủ vạn linh, cầu tất ứng  
Thiên tiên thánh mẫu, kính tâm thành.  
(Đền Hạ)  
Lễ kính hương hoa thiên địa đăng  
Tâm thành phụng sự thánh thần minh.  
(Đền Hạ)  
Lễ kính hương hoa, thiên địa Đăng  
Tâm thành phụng sự, thánh thần minh.  
(Đền Hạ)  
Đền Ỷ La lưu phúc bởi sự linh thiêng của các vị thần  
Nam quốc vĩ nhân, quang sử sách  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
Đông A hiển thánh, trạc linh thanh.  
(Đền Kiếp Bạc)  
(Đền Thượng)  
Lô tụ tiền đài, tứ tú xuân trường, lưu thắng cảnh  
Sâm Sơn cát địa, linh phương an thái,  
Trùng hưng công nghiệp, lưu thanh sử  
Vạn Kiếp linh thanh, tố Bạch Đằng.  
(Đền Kiếp Bạc)  
phúc anh phong.  
(Đền Thượng)  
Những câu đối ở 12 đền trên địa bàn thành phố  
Tuyên Quang không những đối nhau về thanh mà  
còn đối nhau về từ loại, giữa thực từ với thực từ  
gồm danh từ với danh từ, động từ với tính từ, số từ  
với số từ... như:  
Hoành sóc uy phong, quan cổ kim  
Thốn ngưu chí khí, văn nam bắc.  
(Đền Kiếp Bạc)  
Ngoài ra, còn xuất hiện một số câu đối viết  
theo lối cách cú và đối hạc. Đối cách cú là những  
câu đối, mỗi đoạn chia làm hai đoạn, một đoạn  
ngắn và một đoạn dài, cách ngắt câu cũng có nhiều  
cách tùy đó mà đặt theo luật bằng trắc. Vế trên chữ  
cuối ở đoạn đầu là tiếng bằng thì chữ cuối là vần  
trắc, hay ngược lại, như:  
Thập phương yên cung kim tôn tạo  
Vạn sự trường tồn kế thục chiêm.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Tiền Lô giang thuỷ lưu thiên thu lai bảo  
Hậu La sơn ngật thốn vạn cổ truyền phương.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Địa sinh tắc linh, ngộ thời vô đối thủ  
Thiên tích phù trợ, dụng đại các tư nhân.  
(Đền Quang Kiều)  
Phật thánh lưu truyền huyên hậu thế  
Càn khôn phối đức liệu tiền nhân.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Công đức Trần Vương, uy linh đại tuyệt  
Nhất tâm cung kính, cầu thổ quang minh.  
(Đền Đồng Xuân)  
Anh tú dục chung thiên cổ thánh  
Linh thanh hách trạc ức niên thần.  
(Đền Cảnh Xanh)  
Phật thánh Cảnh Xanh, uy linh tâm ứng  
Mẫn gia quốc Việt, tâm hưởng phúc danh.  
(đền Cảnh Xanh)  
Càn khôn thánh đức an dân đại  
Nhật nguyệt thần công hộ quốc trường.  
(Đền Mỏ Than)  
Còn câu đối hạc là những câu đối gấp khúc như  
đầu con chim hạc, loại này không phổ biến, mỗi vế  
gồm ba đoạn trở lên, ngắn dài có thể khác nhau  
nhưng luật bằng trắc vẫn phải tuân thủ chặt chẽ, vế  
trên những câu đối vần gì thì vế dưới ngược lại, như:  
Quốc gia hữu vĩnh sơn hà cố  
Dân sĩ vô cùng nhật nguyệt trường.  
(Đền Mỏ Than)  
Tử hiếu, thần trung, tứ triều trụ thốn  
Địa linh, nhân kiệt, vạn cổ giang sơn.  
(Đền Kiếp Bạc)  
Nam Việt chung linh chức chưởng thập nhị tiến  
bộ chúng  
Côn Lôn giáng khí quyền cai bát vạn tổng sơn thần.  
(Đền Ỷ La)  
Thánh đức diệu linh, thông phương, tín cổ kim,  
bồng ảo  
Nhân từ bác ái giáo dân thiện  
Mẫu nghi thần vận, hóa trường, lưu thiên địa,  
tuyết vĩnh.  
Đức độ công bình diệt ác gian. (Đền Lâm Sơn)  
Khi khảo sát các hoành phi, câu đối chúng tôi  
thấy hầu hết các câu đối đều được viết bằng chữ  
Hán, những câu đối được viết bằng chữ Nôm rất  
hiếm gặp, chúng tôi đã thống kê được những câu  
như sau:  
(Đền Cấm)  
Vô chấp ư nhân, vạn cổ hương hỏa, độc tác  
Hữu kỳ tất ứng, ức niên miếu từ, như tân.  
(Đền Ghềnh Quý)  
Lô thủy dục anh linh, thụy hải ngư long, tiếp hóa  
Danh tiếng Tam Kỳ vang đất Việt  
Uy danh Vương Mẫu vọng trời Nam.  
Sâm Sơn chung tú khí, tuyên thành thảo mộc,  
phát sinh.  
N.T.Giang/ No.20_Mar 2021|p.53-60  
(Đền Hạ)  
hiểu rõ hơn giá trị và vẻ đẹp mà các hoành phi, câu  
đối mà các bật cha ông để lại.  
REFERENCES  
Thơm danh ngát tiếng linh từ Hạ  
Độ phúc cứu dân khắp gần xa.  
1. Dao Duy Anh (2003), Chinese-Vietnamese  
Dictionary, Culture and Information Publishing  
House, Hanoi.  
(Đền Hạ)  
Khuyết thiền thanh tĩnh chuông chùa ngân vọng  
tiếng sắt bi  
2. Thieu Chieu (republished -2019), Chinese-  
Vietnamese dictionary, Dan Tri Publishing House.  
Cảnh phật trang nghiêm mái hiên xua tan hồn  
mộng ảo.  
4. Duong Duc Hoan (2012), Introduction to the  
(Đền Cấm)  
raging non-sentence diaphragm  
Lang pagoda  
Một điều đáng chú ý trong những câu đối được  
viết ở đền chùa là có những vế đối được lấy từ  
những câu thơ nổi tiếng có trước, hay lấy những từ  
trong bài thơ “Thuật hoài” cua Phạm Ngũ Lão làm  
vế đối:  
(rewritten in 1869 in the Tu Duc period), TBHNH.  
5. Nguyen Quang Hong (2006), Nom dictionary,  
Educational Publishing House, Hanoi.  
6. Nguyen Ta Nhi (2010), The parallel sentences on  
the wall of Sung Khanh pagoda, Du Dong village,  
Ung Hoa district - evidence of the Buddhist revival  
movement in our country in the early twentieth  
century, TBHNH.  
Xã tắc hai phen chồn ngựa đá  
Non sông nghìn thuở vững âu vàng  
Hoành sóc uy phong quan cổ kim  
Thốn ngưu chí khí văn nam bắc  
7. Le Duc Loi (2008), Han-Nom Symmetry,  
Thuan Hoa Publishing House.  
(bài thơ: Tức sự của Trần Nhân Tông, đền Kiếp Bạc)  
8. Associate Professor. doctor Nguyen Van  
Thinh (2010), Verse Thang Long - Hanoi, Hanoi  
Publishing House.  
Thông qua việc phân tích các vế đối ở trên có  
thể nói rằng đa số các câu đối đã được làm theo  
đúng luật đối và là câu đối có nội dung rất hay ca  
ngợi công đức của các bậc thánh thần, cha ông, ca  
ngợi vẻ đẹp của mảnh đất con người Tuyên Quang.  
Đặc biệt có những câu đối bằng chữ Nôm, câu đối  
lấy câu trong bài thơ nổi tiếng làm vế đôi là những  
nét đặc sắc trong nghệ thuật đối ở các hoành phi  
câu đối trong các ngôi đền ở đây.  
9. Tran Manh Quang (2005), Brief overview of  
the situation of writing, antithesis, and rhetoric  
located at Thai Hoc’s house, Van Mieu - Quoc Tu  
Giam relic, Han Nom major, University Humanities  
and Social Sciences.  
10. Tran Le Sang (2003) 3000 Han-Nom parallel  
sentences, Culture and Information Publishing  
House.  
3. Kết luận  
Đứng trước thực trạng phần lớn người Việt khi  
đi vào các ngôi đền, chùa, đình... rất quan tâm đến  
các hoành phi, câu đối nhưng họ không thể đọc  
được vì đa số các hoành phi, câu đối này được viết  
bằng chữ Hán Nôm, việc “Việt hóa” các hoành phi,  
câu đối một cách cụ thể, chính xác là một việc làm  
vô cùng cần thiết. Thành phố Tuyên Quang nơi có  
16 ngôi đền, chùa hàng năm thu hút hàng ngàn lượt  
người đến hành hương du lịch, việc nghiên cứu  
dịch thuật các hoành phi câu đối làm tư liệu cho  
nhân dân và khách thập phương đến để hiểu hơn về  
giá trị văn hóa mà người xưa muốn truyền tải lại  
cho đời sau. Đặc biệt, qua bài viết: “Tìm hiểu, đánh  
giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của các văn  
khắc chữ Hán Nôm câu đối trong những ngôi đền  
trên địa bàn thành phố Tuyên Quang” người đọc sẽ  
11. Huynh Ngoc Dang (editor, 2017). Survery  
about Han - Nom tales in the communal house,  
temples in Binh Duong province. National Political  
Truth Publishing House.  
pdf 8 trang baolam 22740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu, đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của các hoành phi, câu đối trong những ngôi đền trên địa bàn thành phố Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_danh_gia_ve_gia_tri_noi_dung_va_nghe_thuat_cua_cac.pdf