Tìm hiểu yếu tố thời gian nghệ thuật của đồng dao các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc

Lèng Thị Lan  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
98(10): 125 - 128  
TÌM HIỂU YẾU TỐ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT  
CỦA ĐỒNG DAO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC  
Lèng Thị Lan*  
Trường Đại học Nông Lâm- ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Thời gian và không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức thể hiện phương thức tồn tại và triển  
khai của thế giới nghệ thuật, một mặt thuộc về phương diện đề tài mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ  
bản của việc tổ chức tác phẩm. Với đồng dao nói chung và đồng dao các dân tộc thiểu số miền núi  
phía Bắc nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật nói trên song chúng lại có những đặc điểm  
riêng. Vì phụ thuộc vào đối tượng là các em nhỏ và nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới  
khách quan của trẻ thơ nên thời gian của đồng dao thường là thời gian hiện tại và thời gian cụ thể.  
Ở bài viết này, bước đầu tập trung phân tích yếu tố thời gian nghệ thuật trong đồng dao các dân tộc  
thiểu số miền núi phía Bắc, qua đó đưa ra một cách nhìn nhận mới về thời gian nghệ thuật – một  
yếu tố quan trọng cấu thành nên tác phẩm đồng dao.  
Từ khóa: thời gian, nghệ thuật, đồng dao dân tộc  
Trong ca dao thời gian nghệ thuật là phương  
tiện biểu đạt trạng thái tâm hồn của con  
người. Trong sử thi, thời gian nghệ thuật là  
thời gian lịch sử được thêu dệt mang tính khái  
quát, còn thời gian của cổ tích, thần thoại hay  
truyền thuyết thường là thời gian quá khứ  
hoặc thời gian kéo dài với những công thức  
phiếm chỉ “một hôm”, “ít lâu sau”, “từ đó”..  
Nắng lên, nắng lên đi!  
Nắng đi, trời vàng mãi  
Nắng cho dân khắp mường ăn thóc nở  
Nắng cho dân khắp mường được ăn thóc khô  
[3,tr.5]  
Những bài đồng dao có yếu tố thời gian sự  
kiện, trẻ hát đồng dao không phải để giãi bày  
tâm tư. Trẻ em tiếp nhận sự việc bằng các tác  
động ngoại vật khách quan. Vì lẽ đó chất tự  
sự không phải là bản chất đặc thù của đồng  
dao nên từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện ít cũng  
là điều hiển nhiên.  
Thời gian nghệ thuật của đồng dao khác với  
các loại văn học dân gian ở chỗ, vì nó gắn với  
nhu cầu nhận thức thế giới khách quan của trẻ  
nên thời điểm diễn xướng chính là thời gian  
hiện tại trong diễn xướng đồng dao. Khi phân  
tích yếu tố thời gian nghệ thuật của đồng dao  
các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, bước  
đầu chúng tôi nhận diện và phân loại theo hai  
phương thức biểu hiện của thời gian, đó là:*  
Đối với thơ ca dân gian, một điều cần được  
chú ý khi nghiên cứu thời gian nghệ thuật đó  
là việc chú ý tới thời gian hiện tại, thời gian  
diễn xướng. Tính độc đáo ở cách thể hiện thời  
gian trong đồng dao các dân tộc thiểu số là tác  
giả (trẻ em) với tư cách người thực hiện chức  
năng diễn xướng. Vì vậy, dấu hiện để chúng  
ta nhận biết thời gian hiện tại trong đồng dao  
các dân tộc thiểu số được bộc lộ trực tiếp  
thông qua hoạt động chơi của trẻ. Trẻ hát  
đồng dao vào thời điểm nào thì đó chính là  
thời gian của đồng dao. Chẳng hạn:  
Thời gian hiện tại (không có từ chỉ thời  
gian) trong hát đồng dao  
Trong đồng dao thời gian hiện tại chính là  
thời gian của trò chơi hay là những bài hát  
đồng dao được diễn ra theo thời gian của sự  
kiện. Cũng có thể nhận biết thời gian trong  
đồng dao dân tộc ở việc thông qua các hình  
ảnh được phản ánh trong ngôn ngữ biểu đạt  
của đồng dao. Vì thế, ở một bộ phận các bài  
đồng dao các dân tộc thiểu số từ chỉ thời gian  
không xuất hiện cụ thể mà thường được thay  
thế bằng thời gian sự kiện, chẳng hạn:  
- Hai ông sao sáng  
Hai chục ông sáng sao  
[3,tr.11]  
* Email: lantim_3[email protected]  
125  
Lèng Thị Lan  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
98(10): 125 - 128  
- Sao hôm ơi sao mai  
Sao hôm hãy sáng tỏ  
Sao mai hãy sáng rõ  
Sao lên cao bằng trăng...  
- Đom đóm hỡi  
Do đó trò chơi của trẻ em các dân tộc gắn với  
những bài hát đồng dao mang sắc thái riêng  
của đồng bào dân tộc vùng núi phía Bắc.  
Như vậy, thời gian diễn xướng của hoạt động  
hát vui chơi đồng dao chính là nét đặc trưng  
mang tính nghệ thuật đồng dao nói chung và  
đồng dao các dân tộc thiểu số nói riêng.  
Sà sà xuống thấp  
Chầm chậm xuống đây...  
Thời gian cụ thể (gắn với từ chỉ thời gian)  
trong hát đồng dao  
[4,tr.22]  
Những bài đồng dao này được trẻ hát trong  
những đêm trời đầy sao, người lớn cùng đám  
trẻ nhỏ ngồi trên sàn cùng hát vang và trẻ nhỏ  
cùng nhau gọi sao, gọi trăng.  
Trong ca dao, thời gian thường thể hiện trạng  
thái tâm hồn và tình cảm. Thời gian ấy được  
biểu hiện theo một số mô típ, một số từ và  
thường được đặt ở vị trí đầu câu như: bây giờ,  
chiều chiều, đêm qua, đêm nay, đêm đêm...và  
thời gian trong ca dao không phải là một đại  
lượng chính xác. So với ca dao thì đồng dao  
có đối tượng thực hiện chức năng diễn xướng  
khác nhau. Đồng dao chủ yếu đáp ứng nhu  
cầu vui chơi, ca hát của trẻ em nên yếu tố thời  
gian trong đồng dao thường gắn với các khái  
niệm chỉ thời gian cụ thể, rõ ràng. Khoảng  
thời gian đó là nội dung sự việc, hiện tượng  
được nêu lên khá chân thực. Chẳng hạn:  
Thời gian nghệ thuật của đồng dao trẻ em các  
dân tộc thiểu số thường được biểu hiện gắn  
với những hiện tượng tự nhiên như: nắng,  
mưa, trời, gió, trăng, sao...” Ở đây, không có  
khoảng cách giữa thời gian của tác giả (trẻ  
em) với thời gian thưởng thức hòa lẫn với  
thời gian của người diễn xướng” (Phạm Thu  
Yến - Những thế giới nghệ thuật ca dao  
tr.140) đó là thời gian hiện tại.  
Thời gian hiện tại ở những bài đồng dao này  
còn chính là thời gian của những lúc trẻ đi  
chăn trâu, chăn vịt, lên nương, đi rừng... cùng  
bố mẹ hoặc cũng có khi ban ngày trời mưa trẻ  
nhỏ ở nhà ca hát. Chẳng hạn bài đồng dao  
Trâu đằm của trẻ em dân tộc Mường, bài này  
được các em hát khi đi chăn trâu, chăn bò:  
- Tháng tám chọi trâu  
Ai buôn đâu bán đâu thì về...  
[5,tr.188]  
- Vịt đẻ trứng lông lốc  
Ấp gửi với con gà  
Ba mươi đêm đẻ con chót..  
Tháng năm mọc lông mái  
Tháng sáu mọc lông hoa  
Ba tháng thành con vịt.  
[5,tr.193]  
Trâu đằm bò uống nước  
Trâu clạc (đằm) bò náu dâm  
Trời mưa lâm thâm bò chết rét  
Và trong hành trình đi ấy bản thân các em đã  
khám phá rất nhiều điều thú vị. Đó là những  
mới lạ về thế giới xung quanh, về thiên nhiên,  
về các con vật. Thế giới ấy đã được các em  
hình dung và tổ chức thành những trò chơi  
như: trò chơi vỗ nhái bén, trò chơi đố niềng  
niễng, trò chơi gõ ve sầu, trò chơi nhắn bươm  
bướm, hát ăn cơm nương, hát con quạ, hát  
con cào cào v.v...  
- Ngày một lá thai  
Ngày hai lá ngả  
Ngày ba lưỡi liềm...  
[5,tr.195]  
Ngoài ra, thời gian cụ thể trong đồng dao của  
trẻ em các dân tộc thiểu số còn được sử dụng  
rất linh hoạt theo sự thay đổi và vận động của  
chính thời gian. Ở đây, tác giả dân gian có  
dụng ý vừa nhấn mạnh độ dài vừa nêu được  
đặc điểm của khoảng cách thời gian mang  
tính chất chỉ dẫn cụ thể cho một sự việc. Điều  
này không chỉ đáp ứng nhu cầu vui chơi mà  
Tất cả đều được trẻ đón nhận và trở thành  
những người bạn thân thiết của các em. Bởi  
vậy, những bài hát đồng dao của trẻ em các  
dân tộc thiểu số có sức hấp dẫn chính là ở nội  
dung phong phú của nó. Yếu tố về mặt thời  
gian có vai trò quan trọng tạo điều kiện để trẻ  
tổ chức hoạt động vui chơi, ca hát đồng dao.  
126  
Lèng Thị Lan  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
98(10): 125 - 128  
còn là việc cung cấp và trang bị cho trẻ kiến  
thức về kinh nghiệm dân gian trong cuộc sống  
lao động của đồng bào dân tộc.  
điểm thời gian phù hợp với việc bộc lộ tâm  
trạng của nhân vật trữ tình.  
Có nhiều phương thức biểu hiện thời gian  
trong đồng dao các dân tộc thiểu số. Có khi  
thời gian trong một bài đồng dao được phô  
diễn dường như nói đến thời gian cụ thể  
nhưng đồng thời cũng lại là thời gian mang  
tính ước lệ.  
Ví dụ:  
-Ba muơi ngày thì đẻ  
Đẻ được con vịt hoa...  
Một năm thành con vịt quạp.  
[5,tr.164]  
Ví dụ:  
- Áo mới áo hoa  
Ba ngày ngâm trấu  
Sáu ngày ngâm tro...  
[5,tr.172]  
- Ve ơi, ve à  
Ve hát vang cả rừng xa  
Bố ve chết tháng ba mùa gieo mạ  
Mẹ ve chết tháng năm mùa đồng  
Tháng sáu ve xuống nước làm con cà cuống  
Tháng bảy biến thành ve hát rừng xa  
Ve hát mãi mà không tìm đường trở lại.  
[1,tr.31]  
Hoặc thời gian được nói đến trong đồng dao  
của trẻ em các dân tộc thiểu số còn là việc chỉ  
ra những hoạt động lao động của con người  
và đó là thời gian thực nhưng cũng có thể là lí  
do, là cớ để các em tổ chức trò chơi. Chẳng  
hạn bài đồng dao Câu cá của trẻ em dân tộc  
Nùng như sau:  
- Quạ, quạ Mẹ mày chết đêm qua  
Cha mày chết đêm trước...  
- Mẹ gặp tiên  
Câu cá chỉ giật không  
Đi câu về tay không  
Tiên năm ngoái  
Câu suốt ngày bị dông  
Về nhà lại ăn cơm chấm muối.  
Trời năm kia ...  
[1,tr.71]  
Không chỉ đa dạng về cách thức sử dụng thời  
gian trong những khúc hát đồng dao của trẻ  
em các dân tộc thiểu số mà thời gian còn kết  
hợp đan xen hết sức linh hoạt thông qua tính  
chất sự việc của con người gắn với các con  
vật. Chẳng hạn bài đồng dao của trẻ em dân  
tộc Thái như sau:  
Tóm lại, khái niệm thời gian trong đồng dao  
các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nhìn  
chung được sử dụng rất linh hoạt và đa dạng  
về cách thức. Sự linh hoạt và đa dạng đó cùng  
với đối tượng diễn xướng là các em nhỏ đã  
tạo cho đồng dao các dân tộc thiểu số có sức  
hấp dẫn và cuốn hút đối với nhiều thế hệ trẻ  
thơ. Chính yếu tố thời gian với tư cách là một  
phương thức nghệ thuật đã đóng vai trò quan  
trọng trong việc giúp trẻ em tổ chức các trò  
chơi trong khi hát các bài hát đồng dao, tạo  
nên mối quan hệ gắn bó giữa trò chơi và đồng  
dao, đồng dao và trò chơi.  
Nín đi cưng ơi!  
Đừng khóc nữa em nhé  
Khóc ban đêm sợ con thù thì  
Khóc ban chiều con cáo đến bắt  
Khóc ban trưa cú vọ nhòm đầu hồi  
Khóc ban mai, ngại con cò lò dò bờ ao.  
[3,tr.50]  
Thực chất bài đồng dao trên được hát vào ban  
ngày khi chị ru em ngủ. Nhưng chúng ta lại  
thấy ở bài đồng dao này các khái niệm thời  
gian được tác giả khéo sắp xếp theo chiều  
nghịch không đúng thời gian của sự việc đang  
diễn ra. Ở đây, tác giả có dụng ý nghệ thuật  
khá rõ nét là việc tạo ra điểm nhấn về thời  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Hoàng Thị Cành (1994), Đồng dao Tày. Nxb  
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
[2]. Nguyễn Nghĩa Dân (2005), Đồng dao Việt  
Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.  
[3]. Tô Ngọc Thanh (1994), Đồng dao Thái, Nxb  
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
127  
Lèng Thị Lan  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
98(10): 125 - 128  
[4]. Nông Hồng Thăng (1995), Đồng dao Nùng,  
Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
[5]. Bùi Thiện (2004 ), Đồng dao Mường, Nxb  
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.  
SUMMARY  
ART-TIME FACTOR ON THE FOLK SONGS OF ETHIC MINORITIES  
IN NORTHERN MOUNTAINUOUS AREA OF VIETNAM  
Leng Thi Lan*  
College of Agriculture and Forestry - TNU  
Time and space of art are categorising forms representing the existence and development of the  
world of art. It presents, on one hand, aspects of its topics, and basic principles in organizing a  
work of art on the other hand. Dong Dao in general and Dong Dao among the ethnic minorities in  
the northern mountainous regions do not stay out of the rule. However, they bear in themselves  
their own features. Depending on children to meet their demand of knowing the objective world,  
the concept "time" in Dong Dao is normally "particular and present moments". This article will  
focus on analyzing "time" in the art of Dong Dao among the ethnic minorities in the northern  
mountainous regions, with a view to providing a new perspective on "time of art" - an important  
factor forming a successful work of Dong Dao.  
Key words: time, art, Dong Dao  
Ngày nhận bài: 12/10/2012, ngày phản biện: 23/10/2012, ngày duyệt đăng:12/11/2012  
* Email: lantim_3[email protected]  
128  
pdf 4 trang baolam 19520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu yếu tố thời gian nghệ thuật của đồng dao các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_yeu_to_thoi_gian_nghe_thuat_cua_dong_dao_cac_dan_to.pdf