Nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bài Dạ cổ hoài lang

Hò a thượng Minh Bảo (? - 1912), trụ trì chùa  
Vĩnh Phước An thấy gia đì nh ô ng Chí n Giỏi vất  
vả quá mà khô ng đủ ăn, nên bàn với ô ng cho  
Cao Văn Lầu, lúc đó mới 8 tuổi, vào ở chùa để  
bớt đi một phần gá nh nặng. Kể từ đó Cao Văn  
Lầu, ngày tụng kinh và làm việc cho chùa, đêm  
được nhà sư dạy chữ nho.  
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu  
và bài Dạ cổ hoài lang  
Bùi Thụy Đào Nguyên  
Năm 1903, ô ng Chí n Giỏi đến xin sư trụ trì cho  
Cao Văn Lầu trở về nhà để học chữ quốc ngữ.  
Nhưng học đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours  
moyen 2e anné e) tức lớp 4 ngày nay, thì ô ng  
phải thô i học vì nhà gặp thêm cảnh khó : anh đi  
ở rể, chị lấy chồng, cha già yếu...  
Cao Văn Lầu (Sá u Lầu) là nhạc sĩ và là tá c giả  
bài Dạ cổ hoài lang, một bài ca độc đá o và nổi  
tiếng nhất trong nghệ thuật ca Cải lương Việt  
Nam.  
Vậy là, năm 15 tuổi (1907), Cao Văn Lầu phải  
thay cha và anh chị đi làm những việc nặng  
nhọc để nuô i gia đì nh.  
Phần I - Nhạc sĩ Cao Văn Lầu  
Cao Văn Lầu sinh ngày 22 thá ng 12 năm 1892  
tại xó m Cá i Cui, làng Chí Mỹ, sau sá t nhập với  
làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện  
Vàm Cỏ, tỉnh Long An.  
Lúc bấy giờ tại xó m Rạch Ô ng Bổn có một thầy  
đàn nổi tiếng tên Lê Tài Khí , tục gọi Hai Khị hay  
Nhạc Khị. Ô ng thầy này bị mù cả hai mắt thêm  
có tật ở châ n (1) nhưng ngó n đàn của ô ng thật  
điêu luyện.  
Cuộc đời ô ng đã trải qua những biến đổi sau:  
Vào một đêm tối trời vào năm 1896, có 20 gia  
đì nh nô ng dâ n ở xó m Cá i Cui, vì khô ng chịu nổi  
cảnh nghè o và cảnh hà khắc của cá c thế lực ở  
địa phương nên đã xuống ghe xuồng, chè o  
chống về phí a Nam để tì m nơi sinh sống. Trong  
số này có gia đì nh Cao Văn Giỏi (Chí n Giỏi),  
gồm hai vợ chồng ô ng và sá u đứa con, trong  
số đó có chú bé Cao Văn Lầu.  
Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy  
Hai Khị để xin học đàn mỗi đêm.  
Nhờ yêu thí ch và siêng năng, ô ng mau chó ng  
sử dụng thành thạo cá c loại nhạc cụ như đàn  
tranh, cò , kì m, trống lễ; và trở thành một nhạc  
sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.  
Năm 1912, ô ng bắt đầu đi há t với Sá u Thì n và  
cô Phấn với bài Tứ đại oá n "Bùi Kiệm thi rớt".  
Buổi đầu, ô ng Chí n Giỏi xin tá túc với một  
người bà con ở Gia Hội (Bạc Liêu). Sau 9 thá ng  
đi làm mướn cật lực mà khô ng đủ ăn, gia đì nh  
ô ng lại phải lui ghe dời sang Xà Phiên (nay  
thuộc Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang) để khai hoang  
làm ruộng. Hơn một năm sau, hơn 40 cô ng đất  
do biết bao khó nhọc mới có được, bị địa chủ  
tì m cá ch chiếm lấy. Nhờ một người quen giới  
thiệu, gia đì nh ô ng Chí n Giỏi dọn về Họng  
Chàng Bè (Giá Rai, Bạc Liêu) để tiếp tục khai  
khẩn đất hoang, nhưng rồi số đất ở đâ y về sau  
cũng về tay kẻ khá c.  
Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâ ng lệnh  
cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô Trần Thị Tấn, một  
cô gá i nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khá nh).  
Khoảng thời gian này, ô ng sá ng tá c được một  
bản ngắn mang tên ''Bá điểu'' sau đổi lại ''Thu  
phong'' gồm tá m câ u nhịp bốn. Bản này sau đó  
được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt lời ca Mừng  
khi gặp bạn và đã ghi lại trong sá ch ''Ca nhạc  
cổ điển''.  
Năm 1917, ô ng sá ng tá c thêm một khúc gồm  
22 câ u, theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề  
xướng là "Chinh phụ vọng chinh phu" (chủ đề  
được rút ra từ bản Nam ai "Tô Huệ chức cẩm  
hồi văn") nhưng chưa kịp sửa chữa và trì nh  
thầy thì gặp nghịch cảnh đau lò ng. Vợ ô ng đã  
ba năm mà vẫn chưa có dấu hiệu thai nghé n,  
Lâ m cảnh trắng tay, nhưng thời may có một  
người tốt bụng là hương sư Chơn ở làng Vĩnh  
Lợi tổng Thạnh Hò a cho cất một căn chò i lá ở  
trên đất cô ng điền gần chùa Vĩnh Phước An  
(nay thuộc phường hai, thị xã Bạc Liêu). Ở đó ,  
vợ chồng ô ng và cá c con phải đi làm thuê, đi  
câ u để chạy ăn từng bữa.  
1
theo tục xưa, cha mẹ buộc ô ng phải trả vợ về  
nhà cha mẹ ruột.  
Từ 1918 đến năm 1974, ngoài bản ''Dạ cổ hoài  
lang'', mà sau này phá t triển thành bản "vọng  
cổ", làm thay đổi một phần bộ mặt Cải lương;  
ô ng Cao Văn Lầu cò n sá ng tá c thêm 10 bản  
nữa, nhưng đa phần chỉ lưu hành ở Bạc Liêu.  
Khoảng một năm trô i qua, kể từ ngày vợ ra đi,  
Sá u Lầu vẫn như kẻ mất hồn. Sau, vì quá nhớ  
thương, vợ chồng ô ng thi thoảng vẫn lé n lút  
gặp nhau. Nhờ vậy, cả hai cũng vơi đi phần  
nào nỗi buồn tủi (í t lâ u sau vợ ô ng thụ thai, hai  
người mới được phé p xum họp). Trong tâ m  
trạng đó , bản nhạc 22 câ u viết dở dang từ năm  
trước, được đem ra soạn lại. Được một bạn  
đồng mô n tên Ba Chột, ô ng bỏ bớt 2 câ u trùng  
lắp, bài nhạc cò n chẵn 20 câ u nhịp đô i.  
Ô ng mất lúc 13 giờ ngày 13 thá ng 8 năm 1976  
tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 84 tuổi.  
Chú thí ch:  
(1) Ché p theo Trần Đức Thuận. Vương Hồng  
Sển nó i ô ng có tật ở tay. Và ô ng cũng cho biết:  
''Nếu phải kể cô ng đầu, đá ng làm hậu tổ cải  
lương, đó là ô ng Hai Khị ở Bạc Liêu. Nghe đâ u  
ô ng sống lối năm 1915 ... Ô ng đau cổ xạ, ngó n  
tay co rút và ngo ngoe rất khó . Thế mà ô ng có  
tài riêng, khô ng ai bắt chước được. Ai muốn  
thử tài cứ đến nhà, ban đầu ô ng giở mùng cho  
xem, chỉ trống, kè n, chụp chõ a trơ trơ ở trong  
ấy. Thế rồi khá ch ra ngồi salon, ô ng Khị chun  
vô mùng, một "mì nh ên", rồi bỗng nghe trọn bộ  
cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như  
có cả bốn năm người hò a tấu: trống xổ, kè n  
thổi, đờn ké o ò e, chụp chõ a lùng tùng  
xò a...Khô ng ai biết ô ng làm cá ch nào mà được  
vậy, quả là diệu thuật.''(sá ch ghi ở mục tài liệu,  
tr. 46)  
Tết Trung thu năm 1918 (15 thá ng 8 â m lịch  
năm Mậu Ngọ, nhằm ngày 19 thá ng 9 năm  
1918. Ghi theo ''Bàn về thời điểm ra đời và  
nguồn gốc của bản Dạ cổ hoài lang'' và ''Từ  
điển nhâ n vật lịch sử'', sẽ nó i thêm ở phần Dạ  
cổ hoài lang), ô ng cùng cá c bạn đến thăm thầy,  
luô n tiện trì nh bày bản nhạc chưa có tên trên.  
Nghe xong, thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi:  
-"Tưởng đâ u hoàn cảnh gia đì nh của con đã  
làm dở dang việc sá ng tá c, ai ngờ lại đạt được  
thành quả lớn lao thế này, quả là con khô ng  
phụ cô ng dạy dỗ...''  
Đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng tham  
dự, thầy Nhạc Khị liền nhờ nhà sư đặt tên cho  
bản nhạc. Nhà sư nó i:  
(2) Tô Huệ tự '''Nhược Lan''', người đất Thần  
Châ u đời nhà Tấn (265-419). Nàng dung nhan  
kiều mị, tài đức song toàn, văn chương xuất  
chúng. Khi Tô được 20 tuổi cha mẹ đí nh gả cho  
hàn sĩ Đậu Thao, người cùng quê.  
'-...Bản nhạc và lời ca của chá u Lầu tuy cũng  
cò n vài điểm bất nhất, nhưng cá i chung vẫn  
diễn tả được tâ m tư của nàng Tô Huệ (2). Vậy  
cứ theo tí ch này mà đặt tên chung cho cả bản  
nhạc và lời ca của chá u là '''Dạ cổ hoài lang'''  
(Nghe tiếng trống đêm nhớ chồng).''  
Sau Đậu Thao đỗ đạt làm quan, may mắn được  
nhậm chức tại Thần Châ u, khô ng phải đi xa.  
Đang yên ấm, nhưng rồi vì cô ng vụ cần thiết,  
nhà vua truyền Đậu Thao ra trấn nhậm đất Lưu  
Sa.  
Lập tức, bài ca được nhanh chó ng loan truyền  
bởi giai điệu bài ca toá t ra khô ng chỉ là tì nh cảm  
nhớ mong chồng mà cò n là nỗi buồn lớn của  
thời đại, tâ m tư của người dâ n Nam Bộ khi  
phong trào Cần vương thất bại.  
Ba năm xa cá ch với nỗi thương nhớ triền miên,  
nàng lấy gấm vuô ng độ chừng một thước, dùng  
chỉ ngũ sắc thêu 10 bài tứ tuyệt do mì nh làm.  
Năm 1919, làm nhạc cô ng trong gá nh há t cải  
lương của Ba Xú (Bạc Liêu).  
Nàng thêu theo hì nh trô n ốc, từ ngoài xoá y trò n  
vào trung tâ m bức gấm.  
Cá ch mạng thá ng Tá m thành cô ng, ô ng tham  
gia ''Mặt trận Liên Việt'' ở ấp Vĩnh Phước, xã  
Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.  
Xong nàng tự tay dâ ng lên nhà vua, nhưng cả  
triều đì nh khô ng ai đọc được.  
Được vua cho phé p, nàng Tô Huệ đứng giữa  
triều cất tiếng ngâ m với một giọng bi thiết bài  
''Chức cẩm hồi văn''.  
Năm 1947, ô ng nhận nhiệm vụ đặc biệt là cứu  
và đã cứu được một số cá n bộ bị thực dâ n  
Phá p bắt.  
2
Nhà vua quá cảm động, vội hạ chiếu cho gọi  
Đậu Thao về ngay.  
đàn nắn nó t đô i câ u bớt cơn phiền muộn. Ô ng  
thừa hiểu người bạn đời cũng đau xó t như ô ng.  
Bản ''Dạ cổ hoài lang'' ra đời trong bối cảnh  
như thế.  
Tài liệu tham khảo:  
-Vương Hồng Sển, ''Hồi ký năm mươi năm mê  
há t'', Nxb Trẻ, 2007.  
Trong thời gian tá c phẩm chưa hoàn chỉnh,  
nhạc sĩ Sá u Lầu cùng anh em tài tử địa  
phương đàn tới đàn lui bản này...và được anh  
em đề nghị thêm hai chữ "dạ cổ" (tiếng trống về  
đêm) cho ý nghĩa thêm sâ u đậm, vì thế bản  
nhạc có tên hoàn chỉnh là "Dạ cổ hoài lang",  
tức "Đêm nghe tiếng trống nhớ chồng"...  
-Trần Đức Thuận,'' Cuộc đời Cao Văn Lầu và  
nguyên nhâ n ra đời bản Dạ cổ hoài lang'', in  
trong ''Nam Bộ - Đất & Người tập 2'', Nxb Trẻ,  
2004, tr.269-265.  
-Trần Phước Thuận, ''Bàn về thời điểm ra đời  
và nguồn gốc của Bản Dạ cổ hoài lang'' in trong  
''Nam Bộ - Đất & Người tập 2'', Nxb Trẻ, 2004,  
tr.266-271.  
Tá c giả Trung Tí n trong một bài viết (2) cho biết  
thêm hai lời kể nữa:  
Lời kể của nhạc sĩ Hai Ngưu (năm 1978, ô ng  
Sá u Lầu có lên Sài Gò n, trú tại nhà ô ng Hai  
Ngưu):  
-Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, ''Từ điển  
nhâ n vật lịch sử'', Nxb KHXH, 1992, tr. 74-75.  
"Trong một đêm ô ng Sá u Lầu trực gá c tại Nhà  
đè n Bạc Liêu vào năm 1920, do đau khổ trong  
hoàn cảnh nợ duyên ngang trá i, ô ng xúc cảm  
viết thành bản nhạc lò ng Dạ cổ hoài lang (Đêm  
khuya nghe tiếng trống nhớ chồng). Sau khi  
bản Dạ cổ hoài lang ra đời... í t lâ u sau (nhờ vợ  
ô ng có thai) hai vợ chồng ô ng được tá i hợp, để  
rồi sau đó hai ô ng bà đã có với nhau 6 người  
con ..."  
Phần II - Dạ cổ hoài lang  
Giải thí ch tên gọi: "Hoài'' là nhớ, ''lang'' là người  
trai (ở đâ y là người chồng), ''hoài lang'' là nhớ  
chàng, ''dạ'' là đêm, ''cổ'' là trống, ''dạ cổ'' là  
''nghe tiếng trống về đêm'' (? cổ, nghĩa là trống  
hoặc đá nh trống). Đâ y là một bản nhạc cổ do  
nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976) sá ng tá c, nó i  
về tâ m sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm.  
Và lời kể của nhà giá o Trịnh Thiên Tư với ô ng  
Chí n Tâ m (nguyên giảng viên trường Quốc gia  
â m nhạc và kịch nghệ Sài Gò n):  
Từ bản ''Dạ cổ hoài lang'' mỗi câ u 2 nhịp, cá c  
nghệ sĩ sau này chuyển lên 4 nhịp rồi 8 nhịp,  
mà thành bài vọng cổ đầu tiên...  
"Năm ô ng Sá u Lầu 28 tuổi (1820), ô ng được  
lệnh mẹ phải thô i vợ vì lý do "tam niên vô tự bất  
thành thê". Ô ng Sá u Lầu đau khổ nhưng khô ng  
dá m cã i lời mẹ dạy. Chiều chiều ô ng ô m câ y  
2. 1. Nguyên nhâ n ra đời  
Theo một bài viết trên bá o Thanh Niên (1),  
khô ng đề tên tá c giả, thì :  
đàn kì m ra sau vườn làm bạn tâ m tì nh�  
Ô ng Cao Văn Lầu (1892-1976) đã thổ lộ với  
bạn thâ n:  
Bài này lúc đầu có 22 câ u và ô ng đặt tên là  
Hoài lang. Danh ca Bảy Kiên nhận thấy có vài  
câ u trùng ý, đề nghị rút lại cò n 20 câ u. Đồng  
thời ô ng Kiên cò n thêm vào hai chữ "dạ cổ",  
thành ra "Dạ cổ hoài lang". Về lời ca, nhạc sĩ  
Sá u Lầu phó ng tá c theo bài thơ "Chinh phụ  
thá n" của nhạc sư Nguyệt Chiếu - trụ trì chùa  
Phật Hò a Bì nh ở Bạc Liêu. Bài thơ mang â m  
hưởng tí ch "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn" đời  
nhà Tần bên Tàu.''  
"Tô i đặt bài này bởi tô i rất thương vợ. Năm viết  
bản ''Dạ cổ hoài lang'', tô i đã ăn ở với vợ tô i  
được 3 năm mà khô ng có con...Tiếng ra, tiếng  
vào của gia đì nh buộc tô i phải thô i vợ, nhưng  
tô i khô ng đành. Tô i â m thầm chống lại nghiêm  
lệnh của gia đì nh, khô ng đem vợ trả về cho cha  
mẹ mà đem gởi đến một gia đì nh có tấm lò ng  
nhâ n hậu..."  
Tá c giả bài bá o kể tiếp:  
Nhưng theo lời kể của ô ng Trần Tấn Hưng  
(Năm Nhỏ) và những người đồng mô n với ô ng  
Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh  
"đêm đô ng gối chiếc cô phò ng", nên nhạc sĩ  
Cao Văn Lầu (Sá u Lầu) đêm đêm mượn tiếng  
3
Cao Văn Lầu, thì Sá u Lầu đã soạn được phần  
nhạc trước khi xa vợ.  
2.2 Thời điểm ra đời  
Thời điểm ''Dạ cổ hoài lang'' ra đời, ngoài  
những chi tiết khá khá c nhau trong lời kể ở  
phần trên, cò n có nhiều ý kiến chưa tương  
đồng nữa, kể cả ô ng Cao Kiến Thiết và Cao  
Văn Bỉnh, là hai người con của cố nhạc sĩ Cao  
Văn Lầu cũng chưa xá c định được thời điểm, vì  
có lúc hai ô ng nó i năm 1919 là năm ra đời bản  
Dạ cổ, có lúc hai ô ng lại nó i năm 1919 là năm  
đổi tên Dạ cổ thành Vọng cổ. (3)  
Ô ng Hưng kể:  
Ô ng Cao Văn Lầu cùng cá c bạn học đồng thời  
đã được thầy là nhạc sư Lê Tài Khí (Nhạc Khị)  
hướng dẫn sá ng tá c theo một chủ đề là "Chinh  
phụ vọng chinh phu", được rút ra từ bản Nam ai  
Tô Huệ chức cẩm hồi văn. Lúc đó có nhiều  
người sá ng tá c, riêng ô ng Cao Văn Lầu trong  
năm Đinh Tỵ (1917) đã sá ng tá c một bản nhạc  
22 câ u, nhưng gặp phải hoàn cảnh vợ chồng ly  
Và theo cá c nhà nghiên cứu khá c, thì :  
tá n�Vì quá đau buồn nên ô ng khô ng thể tiếp  
-Ô ng Thành Châ u (bá o Văn học nghệ thuật,  
thá ng 8 năm 1977), nhà thơ kiêm soạn giả cải  
lương Kiên Giang (Bá o Long An, ngày 18 thá ng  
7 năm 1986), đồng cho rằng bài Dạ cổ hoài  
lang ra đời 1917.  
tục đặt lời ca, mã i đến năm sau vợ chồng hàn  
gắn (theo ô ng Trần Đức Thuận: vì quá nhớ  
thương, vợ chồng ô ng thi thoảng vẫn lé n lút gặp  
nhau, chứ hai người chưa chí nh thức xum họp.  
Xem lại phần Cao Văn Lầu) lại ô ng mới có đủ  
tinh thần chỉnh lý bản nhạc. Ô ng đã theo lời  
khuyên của bạn đồng mô n là Ba Chột (tá c giả  
bản Liêu Giang, tá c phẩm được sá ng tá c cùng  
thời và cùng một chủ đề vừa nêu trên) bỏ bớt 2  
câ u trùng lắp cò n lại 20 câ u và tiếp tục đặt lời  
ca..."  
-Nhạc sĩ Trọng Nguyễn (Kỷ yếu Từ Dạ cổ hoài  
lang, tr.40) Nghệ sĩ nhâ n dâ n Ba Vâ n tức Lê  
Long Vâ n (Kể chuyện cải lương, 1988, tr. 67),  
nhà nghiên cứu Đắc Nhẫn (Tì m hiểu â m nhạc  
cải lương, Nxb TP. HCM, 1987, tr. 41), hai nhà  
sử học Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế  
(Từ điển nhâ n vật lịch sử Việt Nam, Nxb KHXH,  
1992) khô ng cho biết năm khởi thảo, nhưng  
đều nó i bài Dạ cổ hoài lang ra đời năm 1818.  
Và cũng theo ô ng Hưng, cá i tên Dạ cổ hoài  
lang là của một nhà sư đặt cho bản nhạc:  
-Nhạc sĩ Trương Bỉnh Tò ng (Kỷ yếu Từ Dạ cổ  
hoài lang, Nxb Mũi Cà Mau, 1992, tr. 50), Lâ m  
Tường Vâ n (Đặc san Quí Dậu 1993, Hội Á i hữu  
Bạc Liêu Nam Cali, tr. 28), Nguyễn Tư Quang  
(Tạp chí Bá ch Khoa số 63'', Sài Gò n, 1959) thì  
năm sinh của bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919.  
"Bản nhạc và lời ca đã sá ng tá c xong nhưng  
chưa có tên. Lại vừa đến rằm Trung thu (Mậu  
Ngọ 1918) ô ng Lầu cùng cá c bạn đến thăm  
thầy luô n tiện đem bản nhạc ra trì nh. Ô ng Lầu  
đã dùng chiếc đàn tranh vừa độc tấu một lần và  
vừa đàn vừa ca thêm một lần nữa. Lúc đó ,  
ngoài cá c thầy trò cò n có mặt nhà sư Nguyệt  
Chiếu (một người rất tinh thâ m Há n học và  
nhạc cổ truyền), chí nh thầy Nhạc Khị đã nhờ  
nhà sư đặt tên cho bản nhạc vừa tấu và nhà sư  
đã đặt tên là Dạ cổ hoài lang. Vậy, bản Dạ cổ  
hoài lang 20 câ u nhịp đô i đã chí nh thức ra đời  
kể từ đêm đó .''  
*Nhà nghiên cứu Toan Á nh nó i "vào khoảng  
năm 1920" (Tì m hiểu nghệ thuật cầm ca, Nxb  
Đồng Thá p, 1998, tr. 207-208)  
-Ô ng Anh Đệ (Nghệ thuật sâ n khấu, Viện sâ n  
khấu, 1987, tr. 59) cho rằng năm sinh của bài  
Dạ cổ hoài lang là 1915.  
Tuy nhiên, ý kiến cho rằng bài ''Dạ cổ hoài  
lang'' ra đời ngày 15 thá ng 8 (â m lịch) năm Mậu  
Ngọ (nhằm ngày 19 thá ng 9 năm 1918) được  
đa số nghệ sĩ Bạc Liêu (4) và nhiều người đồng  
thuận hơn.  
Trần Đức Thuận ở Hội Khoa học lịch sử Bạc  
Liêu, trong một bài viết (sá ch ghi bên dưới) đã  
kết luận:  
"Bản Dạ cổ hoài lang về nguyên nhâ n sá ng tá c  
tuy có dí nh lí u một phần nào với hoàn cảnh  
chia ly của vợ chồng Cao Văn Lầu, nhưng  
nguyên nhâ n chí nh vẫn là nhờ sự hướng dẫn  
sá ng tá c của thầy Nhạc Khị với một tiêu đề định  
2.3 Nghi vấn  
Ô ng Nguyễn Tư Quang, tá c giả bài bá o ''Thử  
tì m xuất xứ bài Vọng cổ'' cho biết:  
sẵn�"  
4
''...Thoá t thai của bản nhạc vốn là bài thơ có  
dạng như là một bài phú 20 câ u lấy nhan đề là  
''Dạ cổ hoài lang''. Bài này do một nhà sư có  
phá p danh Nguyệt Chiếu, khô ng rõ họ tên thật,  
tu trong một ngô i chùa ở làng Hò a Bì nh, tỉnh  
Bạc Liêu. Bài Dạ cổ ra đời năm 1919...''(tạp chí  
Bá ch Khoa số 63, 1959, tr. 65)  
nhà sư Nguyệt Chiếu để sá ng tá c ra bản Dạ cổ  
hoài lang năm 1919" là hoàn toàn khô ng có căn  
cứ."  
2. 4 Lời bài ca  
Từ là từ phu tướng,  
Bảo kiếm sắc phong lên đàng.  
Vào ra luống trô ng tin chàng.  
Năm canh mơ màng.  
Ý kiến này được nhà nghiên cứu Toan Á nh  
đồng thuận, ô ng viết:  
Em luống trô ng tin chàng,  
Ô i gan vàng quặn đau.  
"Ở chùa Hò a Bì nh tỉnh Bạc Liêu, có một nhà sư  
phá p danh là Nguyệt Chiếu. Thấy nhà sư nho  
học uyên thâ m với tư tưởng ẩn dật, người ta  
đoá n chừng là một văn nhâ n chống Phá p trong  
thời Cần Vương, nay thất thời nên tạm lá nh  
mì nh vào cửa Phật...Tuy đã đi tu nhưng vẫn  
Đường dù xa ong bướm,  
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.  
Đêm luống trô ng tin chàng,  
Ngày mỏi mò n như đá Vọng phu.  
Vọng phu vọng luống trô ng tin chàng.  
Sao nỡ phũ phàng...  
mang nặng tì nh non nước�nên nhà sư mới  
Chàng là chàng có hay?  
Đêm thiếp nằm luống những sầu tâ y.  
Bao thuở đó đâ y sum vầy,  
Duyên sắc cầm lạt phai.  
Là nguyện cho chàng  
đem tâ m sự mì nh ký gủi vào bài từ, đề là Dạ cổ  
hoài lang. Và bài thơ này được ô ng Sá u Lầu  
phổ ra nhạc...'' (Toan Á nh, Tì m hiểu nghệ thuật  
cầm ca, NXB Đồng Thá p, 1998, tr. 207-208.)  
Năm 1989, tại cuộc hội thảo ở Bạc Liêu, nhạc  
sĩ Trương Bỉnh Tò ng cũng đã phá t biểu:  
Hai chữ an bì nh an.  
Mau trở lại gia đàng,  
Cho é n nhạn hiệp đô i.  
"Vào những năm 1950-1952, nhó m sưu tầm  
nghiên cứu dâ n ca và cổ nhạc Nam Bộ gồm  
nhạc sĩ Quá ch Vũ, Ngọc Cung và ô ng. Rất tiếc  
là lúc ấy ô ng Cao Văn Lầu đang bệnh khô ng ra  
được vùng giải phó ng. Nhưng cũng may là  
nhó m tài tử ở Long Điền có người biết rành cho  
hay ô ng Sá u đã dựa vào bài thơ của nhà sư  
Nguyệt Chiếu mà phổ nhạc. Nhạc của nó là sự  
kết hợp giữa hai bài Hành Vâ n và Xuâ n nữ.(Từ  
Dạ cổ hoài lang, Nxb Mũi Cà Mau, 1992, tr.52-  
53.)  
Ô ng Trần Đức Thuận nhận xé t:  
"Bản Dạ cổ hoài lang khô ng dừng lại ở nguyên  
dạng như cá c bản nhạc cổ khá c mà dần dần  
biến đổi hì nh thức, phá t triển thành bản Vọng  
cổ làm thay đổi một phần lớn bộ mặt Cải lương.  
Đâ y cũng là điều tối ưu của nó , có lẽ là do tiếng  
nhạc du dương và lời ca bì nh dị rất hợp với  
người Nam Bộ; hì nh ảnh người chinh phụ ở  
đâ y đã hò a nhập thực sự vào cuộc đời thường,  
phản ảnh đúng tâ m trạng yếu đuối của người  
phụ nữ khi xa chồng, nhất là trong những hoàn  
cảnh bắt buộc phải chia duyên rẽ thúy. Có lẽ  
chí nh cá i "tí nh thường" này đã làm rung cảm  
người nghe..."  
Nhưng qua tì m hiểu của ô ng Trần Phước  
Thuận ở Hội khoa học lịch sử Bạc Liêu (sá ch  
ghi bên dưới), thì :  
"Ở Bạc Liêu chỉ có một nhà sư phá p danh là  
Đạt Bảo tự Nguyệt Chiếu (1882-1947), trước ở  
chùa Vĩnh Phước An sau dời về chùa Vĩnh  
Đức, hiện mồ mả của nhà sư nằm ở sau chùa  
Vĩnh Đức. Khô ng có chùa nào mang tên Hò a  
Bì nh như cá c tài liệu trên đã ghi. Ô ng vốn là  
tiền bối về nhạc lễ cổ truyền nhưng ô ng chưa  
bao giờ làm thơ. Cá c đệ tử của ô ng hiện cò n  
sống đều xá c nhận như vậy và chẳng ai nghe  
thầy nó i gì về bài thơ trên. Như vậy, cá i thuyết  
cho rằng "ô ng sá u Lầu đã dựa vào bài thơ của  
2.5 Thô ng tin thêm  
- Bài này được đưa lên sâ n khấu lần đầu bởi  
gá nh há t Năm Tú ở Mỹ Tho, rồi sau đó được  
sử dụng rộng rã i, nhất là trong tuồng cải lương.  
Và cũng vì thế, bản ''Dạ cổ hoài lang'' được  
chuyển dần thành nhiều nhịp. Năm 1924, tăng  
lên nhịp bốn. Từ khoảng 1934 đến 1944, tăng  
lên nhịp tá m. Từ khoảng 1944 đến 1954, ''Vọng  
cổ'' tăng lên nhịp 16. Từ 1955 đến 1964, tăng  
lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay.  
5
-Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ ''Dạ cổ hoài  
lang'' khởi điểm từ nhịp hai. Bản ''Vọng cổ'' từ  
nhịp bốn trở đi, trên những chặng đường phá t  
triển, thuộc cô ng trì nh chung của tài tử bốn  
phương. Và ô ng tổ cải lương khô ng phải là Cao  
Văn Lầu, vì bản ''Dạ cổ hoài lang'' chào đời  
năm 1918, trong khi sâ n khấu cải lương ra đời  
khoảng năm 1916.  
(4) Ở Bạc Liêu từ nhiều năm nay, đang lưu  
hành trong giới đàn ca tài tử một bài Văn Thiên  
Trường (đủ ba lớp) nhan đề là "Cuộc đời Cao  
Văn Lầu", trong đó câ u 7 và câ u 8 như sau:  
''Bản Dạ cổ hoài lang thương nhớ mơ màng,  
gan vàng khắc sâ u. Chẳng bao lâ u trong tim  
người nhụy nở hoa khai, bực sắc tài nào dễ  
mấy ai, năm một ngàn chí n trăm mười tá m  
chí nh thức ra đời...''  
Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu  
Long Xuyên, thá ng 10 năm 2008.  
Tài liệu tham khảo:  
Ngoài những trang web và tài liệu đã dẫn trong  
bài, người soạn cò n tham khảo thêm:  
Chú thí ch:  
(1) Bài Cao Văn Lầu có phải ô ng tổ ngành Cải  
lương? (bá o Thanh Niên) tại địa chỉ:  
phai-ong-to-nganh-cai-luong/10869813/107/  
-Trần Phước Thuận, ''Bàn về thời điểm ra đời  
và nguồn gốc của bản Dạ cổ hoài lang'', in  
trong Nam Bộ - Đất và Người tập 2, Nxb trẻ,  
2004, tr 266-271.  
(2) Bài Bản Dạ cổ hoài lang (nhịp 2) đã ra đời  
như thế nào ? của Trung Tí n tại địa chỉ:  
-Trần Đức Thuận, ''Cuộc đời Cao Văn Lầu và  
nguyên nhâ n ra đời bản Dạ cổ hoài lang'', in  
trong ''Nam Bộ - Đất và Người'', tập 2, NXB Trẻ,  
2004, tr.259-265.  
etail-lichsu.tpl/  
(3) Năm 1919 là năm đổi tên Dạ cổ thành Vọng  
cổ. YÙ kiến này được nhà thơ kiêm soạn giả  
cải lương Kiên Giang đồng thuận (Bá o Long  
An'', ngày 18 thá ng 7 năm 1986). Tuy nhiên,  
theo bài viết trên bá o Thanh Niên (dẫn bên  
trên), thì : ''Trên những chặng đường phá t triển,  
khi Vọng cổ hoài lang được nâ ng lên nhịp 8 (từ  
khoảng năm 1934 đến 1944) thì nó có tên mới  
là Vọng cổ, khô ng cò n đuô i hoài lang''.  
Nguồn: Chim Việt Cành Nam  
6
pdf 6 trang baolam 22620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bài Dạ cổ hoài lang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhac_si_cao_van_lau_va_bai_da_co_hoai_lang.pdf