Nghiên cứu phương pháp nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc

Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NHẬN DẠNG PHÂN BIỆT  
TIẾNG NÓI VỚI ÂM NHẠC  
Đỗ Thị Loan, Lưu Thị Liễu, Nguyễn Thị Hiền  
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Tự động nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc là công cụ quan trọng trong nhiều ứng dụng đa  
phương tiện. Để nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc, chúng tôi đã sử dụng ba đặc trưng: tần  
suất vượt điểm không cao (HZCRR), tỷ lệ khung có năng lượng ngắn hạn thấp (LSTER), độ biến  
thiên phổ (SF) và thuật toán sử dụng để huấn luyện cũng như nhận dạng là K-NN (K Nearest  
Neighbor). Dữ liệu là các đoạn nhạc gồm nhiều thể loại từ nhạc không lời tới nhạc có lời (nhạc  
Việt Nam, nhạc Rock, nhạc Pop, Đồng quê), các đoạn tiếng nói của giọng nam và nữ bằng tiếng  
Việt. Trong bài báo này mục đích nghiên cứu ban đầu của chúng tôi chủ yếu là nhận dạng phân  
biệt hai loại âm thanh: tiếng nói và âm nhạc với kết quả thu được có độ chính xác khá cao, với  
tiếng nói có độ chính xác xấp xỉ 84%, âm nhạc là 92%. Trong tương lai chúng tôi mong muốn phát  
triển hệ thống có khả năng nhận dạng phân biệt nhiều lớp âm thanh hơn.  
Từ khóa: Phân biệt, tiếng nói, âm nhạc, nhạc Việt Nam, tiếng Việt.  
GIỚI THIỆU*  
tra tín hiệu âm thanh trong khoảng thời gian  
đủ ngắn (giữa 5 và 100msec), ta có thể nhận  
thấy đặc điểm của nó là khá cụ thể. Tuy nhiên  
trong thời gian dài, các đặc tính của tín hiệu  
thay đổi để phản ánh đặc điểm của chuỗi tín  
hiệu như một bài phát biểu hay một đoạn  
nhạc. Trong phần này, chúng tôi đưa ra một  
số nhận định về sự khác biệt giữa tiếng nói và  
âm nhạc như sau:  
Nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc là  
một phần trong hệ thống phân loại âm thanh  
ASC (Audio Signal Classifier) [1] hay trong  
hệ thống nhận dạng các khung cảnh âm thanh  
CASR  
(Computeral  
Audio  
Scence  
Recognizer) [2], nhận dạng các chương trình  
trên ti vi [3], [4], hay hệ thống phiên dịch nốt  
nhạc AMTS [5]. Để xây dựng một hệ thống  
hoàn chỉnh thì rất khó khăn vì âm thanh rất  
phong phú, đa dạng và mỗi loại có những đặc  
trưng riêng, sự kết hợp giữa chúng tạo nên vô  
vàn các dạng âm thanh khác nhau, điều này  
ảnh hưởng lớn đến việc phân loại các khung  
cảnh âm thanh. Hầu hết các nghiên cứu nhận  
dạng phân biệt các lớp âm thanh đều căn cứ  
theo từng trường hợp mà bạn đưa về số lớp,  
và một vài điều kiện ràng buộc khác. Chẳng  
hạn phân loại âm thanh thành bốn lớp: âm  
nhạc, tiếng nói, nhiễu, khoảng lặng [4], [6]  
hoặc chỉ phân thành tiếng nói và âm nhạc  
không thôi [3], [7].  
- Thanh điệu: Giai điệu có ý nghĩa sự biểu  
thị của dạng sóng âm thanh. Âm nhạc có xu  
hướng được tạo ra từ sự đa dạng của các tần  
số. Còn tiếng nói có giai điệu từ chính sắc  
điệu và giọng nói của người nói.  
- Chuỗi thay thế: Tiếng nói cho ta một chuỗi  
các tiếng ồn, khoảng lặng xem kẽ từng đoạn  
trong khi âm nhạc không có. Nói cách khác,  
lời nói có tín hiệu phân phối thông qua quang  
phổ ngẫu nhiên hơn so với âm nhạc.  
- Băng thông: Tiếng nói thường có 90%  
năng lượng tập trung ở tần số thấp hơn 4kHz  
(và hạn chế đến 8kHz), trong khi âm nhạc có  
thể mở rộng thông qua các giới hạn trên  
khoảng 20kHz.  
SỰ KHÁC NHAU GIỮA TIẾNG NÓI VÀ  
ÂM NHẠC  
- Phân phối: Năng lượng của tiếng nói  
thường tập trung ở tần số thấp sau đó giảm rất  
nhanh trong các miền tần số cao hơn. Còn tín  
hiệu âm nhạc thì trải đều hơn.  
Các tín hiệu âm thanh là một tín hiệu có ý  
nghĩa trong khoảng thời gian ngắn. Khi kiểm  
*
Tel: 0972998865; Email:[email protected]  
89  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
- Tần số cơ bản: với tiếng nói cụ thể, ta có  
thể xác định được tần số cơ bản nhưng với âm  
nhạc thì không.  
- Khoảng âm điệu: Thời hạn của nguyên âm  
trong tiếng nói là rất thường xuyên. Âm nhạc  
thể hiện một biến thể rộng lớn hơn chiều dài  
của giai điệu, không được hạn chế do quá  
trình phát âm nhạc.  
- Năng lượng ngắn hạn: Năng lượng của tín  
hiệu tiếng nói có sự biến thiên nhiều hơn so  
với tín hiệu âm nhạc.  
- Tỷ lệ vượt điểm không: Tùy thuộc vào tín  
hiệu âm nhạc và tiếng nói nhưng thông  
thường tỷ lệ vượt điểm không của tín hiệu  
tiếng nói sẽ lớn hơn tín hiệu âm nhạc.  
phân bố năng lượng, chúng tôi đã lựa chọn ba  
đặc trưng: Tỷ lệ tần suất vượt qua điểm không  
cao HZCRR (Hight Zero Crossing Rate  
Ratio), tỷ lệ khung có năng lượng ngắn hạn  
thấp LSTER (Low Short Time Energy Ratio)  
và độ biến thiên phổ SF (Spectrum Flux). Còn  
phương pháp nhận dạng phân biệt chúng tôi  
sử dụng là thuật toán K láng giêng gần nhất  
K-NN (K Nearest Neighbor) [8].  
Lựa chọn đặc trưng  
Đặc trưng tần suất vượt qua điểm không cao  
- HZCRR  
LỰA CHỌN ĐẶC TRƯNG VÀ PHƯƠNG  
PHÁP NHẬN DẠNG PHÂN BIỆT TIẾNG  
NÓI VỚI ÂM NHẠC  
Cho tới nay có khá nhiều đặc tính của tín hiệu  
âm thanh để nhận dạng, phân biệt tiếng nói và  
âm nhạc hay các hệ thống nhận dạng phân  
loại khác nhau. Mỗi nghiên cứu đều đưa ra  
một số lượng các đặc tính của tín hiệu âm  
thanh và phương thức sử dụng để phân loại.  
Các đặc tính của tín hiệu âm thanh thường  
được chia làm hai loại chính là: các đặc tính  
vật lý và các đặc tính cảm thụ âm thanh của  
con người.  
Hình 1: Biểu đồ tần suất vượt điểm không  
của tín hiệu âm thanh  
Công thức của HZCRR như sau:  
N −1  
1
HZCRR =  
[sign  
(ZCRn – THL) +1  
∑
2 N  
n = 0  
Trong đó:  
Đặc tính vật lý là các đặc tính đặc trưng trong  
miền tần số và đặc trưng trong miền thời gian  
như: biên độ, tần số vượt điểm không ZCR,  
năng lượng ngắn hạn, hệ số phổ MFCC, cặp  
phổ tuyến tính LSP (Linear Spectrum Pair)  
[6], độ biến thiên phổ SF.  
- n là thứ tự của cửa sổ trích chọn đặc trưng  
- N là độ rộng của cửa sổ trích chọn đặc trưng  
- ZCR là tần suất vượt điểm không trong  
khoảng ngắn theo công thức :  
k
1
[sign ( x ) − sign ( xm −1 )]  
ZCRk =  
∑
m
Đặc tính về cảm thụ âm thanh của con người  
là các đặc tính được con người cảm nhận như  
nhịp điệu, độ cao của âm (Pitch), độ ngân, âm  
sắc,…. Cũng như nhiều nghiên cứu trước đây,  
để nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc  
nói riêng hay nhận dạng phân biệt các lớp âm  
thanh khác nói chung hầu như chỉ sử dụng các  
đặc trưng vật lý là đủ. Bởi vậy trong bài báo  
này, chúng tôi cũng chỉ dùng các đặc trưng  
liên quan tới miền tần số và miền thời gian  
(đặc trưng vật lý).  
2F m = k − F +1  
F: độ dài khoảng ngắn - thường là 1 frame  
- THL là tần suất vượt điểm không trung  
bình trong cửa sổ theo công thức:  
N −1  
1
THL =  
[ZCR ]  
n
∑
N
n = 0  
Đặc trưng năng lượng ngắn hạn của tín  
hiệu - LSTER  
Công thức tính LSTER như sau:  
Dựa trên các phân tích, đánh giá về đặc điểm  
của tín hiệu âm thanh, giữa âm nhạc và tiếng  
nói về đặc điểm âm học, dải tần, đặc điểm về  
N −1  
1
LSTER =  
[sign (THL − STE ) + 1]  
n
∑
2 N  
n = 0  
90  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Trong đó:  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
Mahalanobis hay phương pháp đo khoảng  
cách City Block.  
- STE là năng lượng trong khoảng ngắn  
(trong 1 frame) theo công thức:  
Bài toán: Giả sử ta có một không gian đa  
chiều (Y1, Y2,…,Yn) và có một tập hợp các  
khu vực A, B trong đó:  
k
2
( x .w  
m
2
STE  
=
)
∑
k
k − m  
- Khu vực A ta biết được sự tồn tại của các  
đối tượng XA1, XA2, … XAn với XAi={ YAi1,  
YAi2,…, YAin}  
m = k − F + 1  
W là cửa sổ (có thể là chữ nhật hoặc  
hamming)  
- Khu vực B ta chỉ biết sự tồn tại của các  
đối tượng XB1, XB2, … XBn với XBi={ YBi1,  
YBi2,…, YBin}  
- THL là năng lượng trung bình theo công  
thức:  
N−1  
1
Có một đối tượng Xi ( Yi1, Yi2,…, Yin) bất kì  
ta cần xác định đối tượng Xi này thuộc khu  
vực A hay B.  
THL =  
[STE ]  
n
∑
2N  
n=0  
Đặc trưng độ biến thiên phổ - SF  
Trong đó:  
- K là bậc của phổ DFT.  
- δ là hằng số bé (=0.01) để loại trường hợp  
log(0).  
Hình 3: Mô tả thuật toán K-NN  
- A(n,m) là biến đổi Fourier rời rạc(DFT)  
theo công thức:  
Giải thuật: Trong tất cả các đối tượng đã xác  
định rõ khu vực A và B, ta tìm K đối tượng  
gần với Xi nhất, trong K đối tượng này sẽ xác  
định xem có bao nhiêu đối tượng thuộc khu  
vực A, bao nhiêu đối tượng thuộc khu vực B,  
khu vực nào nhiều đối tượng gần Xi hơn thì  
Xi có khả năng thuộc khu vực đó.  
2
π
j
mi  
∞
L
| A  
=
x(i)w (nL − i).e  
|
∑
(n, m )  
i = −∞  
Để tính khoảng cách giữa các vectơ dùng  
công thức:  
D(X,X’)=  
THỰC HIỆN HỆ THỐNG NHẬN DẠNG  
PHÂN BIỆT TIẾNG NÓI VỚI ÂM NHẠC  
Hình 2. Biểu đồ histogram độ biến thiên phổ  
theo không gian 3 chiều (a): music (b):speech  
Hệ thống có dạng tổng quát như hình 4.  
Hoạt động của hệ thống gồm hai quá trình  
riêng biệt: thứ nhất là quá trình học (huấn  
luyện) và thứ hai là quá trình nhận dạng phân  
biệt với tín hiệu đầu vào.  
Thuật toán KNN  
Thuật toán K-NN [8] là phương pháp phân  
loại dựa trên chỉ tiêu không gian khoảng cách.  
Xác định một điểm thuộc miền nào bằng cách  
tính toán dựa trên khoảng cách không gian.  
Có nhiều phương pháp để tính khoảng cách  
giữa các vectơ như phương pháp đo khoảng  
cách Euclidean, phương pháp đo khoảng cách  
Hamming, phương pháp đo khoảng cách  
Quá trình huấn luyện: Tín hiệu đầu vào  
được đưa vào phân tích đặc trưng. Tại đây  
chúng được xử lý, tính toán và lấy ra giá trị  
các đặc trưng cần trích chọn phục vụ cho việc  
xây dựng hệ thống. Sau đó tới khối huấn  
91  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
luyện được xử lý và lưu vào cơ sở dữ liệu  
(CSDL) mẫu. Quá trình huấn luyện dùng  
phương pháp học có giám sát nghĩa là chúng  
ta đã biết rõ sự phân lớp trên tập dữ liệu mẫu  
dùng để học, ở đây chỉ có hai lớp: tiếng nói và  
âm nhạc. Các đặc trưng mẫu của từng lớp  
được trích chọn lưu riêng vào CSDL.  
Tuy nhiên vấn đề khi phân khung của tín hiệu  
đó chính là sai số của cả phép biến đổi so với  
tín hiệu gốc, do đó nên sử dụng hàm cửa sổ  
để hạn chế các sai số do độ dài hữu hạn của  
các tín hiệu gây ra trong các phép biến đổi.  
Hàm cửa sổ thường được dùng là Hamming  
được cho bởi công thức sau:  
2Π n  
Wn = 0.54 − 0.46 * cos(  
)
N − 1  
KẾT QUẢ  
Cài đặt hệ thống  
Chúng tôi thực hiện hệ thống nhận dạng phân  
biệt với tín hiệu đầu vào là các file âm thanh  
chuẩn dạng WAVE (*.wav), việc tính toán,  
xử lý, phân biệt đều thực hiện dựa trên file  
wave này. Như đã phân tích ở trên quá trình  
huấn luyện gồm các bước cơ bản sau:  
Hình 4: Mô hình tổng quát của hệ thống  
Quá trình nhận dạng phân biệt: Trình tự  
thực hiện cũng như trên nhưng chỉ khác là tín  
hiệu sau khi được trích chọn đặc trưng sẽ  
được đưa vào khối nhận dạng phân biệt. Tại  
khối này chúng ta phân tích đánh giá với  
CSDL mẫu đã được huấn luyện thông qua  
thuật toán K-NN. Kết quả này sau đó được  
chuyển tới bộ ra quyết định để xác định xem  
tín hiệu hiệu đó thuộc lớp tín hiệu nào. Vectơ  
đặc trưng là vectơ 3 chiều vì ta chỉ chọn 3 đặc  
trưng như đã trình bày ở trên.  
Hình 6: Mô hình quá trình huấn luyện  
Với mỗi dãy tín hiệu âm thanh đọc được, ta  
thực hiện xác định khung tín hiệu, tính các  
thông số cơ bản STE, ZCR, A của dãy tín hiệu.  
Giao diện cài đặt của quá trình huấn luyện:  
Phân khung tín hiệu: Do tín hiệu tiếng nói  
ổn định trong khoảng vài chục ms, nên khi  
tiến hành các phép phân tích, biến đổi người  
ta thường chia tín hiệu thành có đoạn nhỏ  
khoảng 10 đến 30ms, đó được gọi là phân  
khung, các khung tín hiệu liên tiếp có thể  
chồng nhau khoảng ½ độ dài.  
Hình 7: Giao diện huấn luyện, tạo dữ liệu mẫu  
Hình 5: Phân khung tín hiệu  
92  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
- Bên phải là đồ thị của tín hiệu: tại khung cửa  
sổ thứ nhất là dạng tín hiệu âm thanh, tiếp theo  
là năng lượng trong khoảng ngắn hạn và tần  
suất vượt điểm không của tín hiệu âm thanh.  
khung cửa sổ thứ 4 thể hiện đây là tiếng nói  
hay âm nhạc (tiếng nói có biên độ bằng 2/3  
khung còn âm nhạc có biên độ = 1/3 khung).  
- Bên trái cũng là khung điều khiển mở,  
chọn tín hiệu file wave. Ngoài ra còn có sự  
lựa chọn tham số K (K là số phần tử thuộc lớp  
đặc trưng mẫu gần với mẫu cần nhận dạng  
phân biệt nhất).  
- Bên trái là các điều khiển: mở file wave,  
nghe thử, xác định tiếng nói hay âm nhạc, lưu  
dữ liệu.  
Quá trình nhận dạng:  
Đánh giá  
Chương trình thực hiện phân biệt tiếng nói và  
âm nhạc dựa trên một tập các tín hiệu âm  
thanh mẫu mà tôi sưu tầm có được : tập hợp  
tiếng nói là tiếng Việt, tập hợp âm nhạc là các  
thể loại nhạc không lời của một số trường  
phái âm nhạc.  
Tập hợp tiếng nói gồm có 1037 file là các file  
phát âm các từ của tiếng Việt, mỗi file có độ  
dài < 1s, có tần số lấy mẫu 16000Hz, bit rate  
là 16bit/mẫu.  
Hình 8: Mô hình quá trình nhận dạng  
Quá trình nhận dạng có một số bước trùng  
với quá trình huấn luyện như việc đọc dữ  
liệu file wave, thông số cơ bản, tính các  
thông số đặc trưng.  
Tập hợp âm nhạc gồm có 77 file là các file  
nhạc không lời của các thể loại R&B, Rock,  
Country…. Mỗi file có độ dài < 30s và có  
cùng tần số lấy mẫu 16000Hz, bit rate  
16bit/mẫu.  
Các file dữ liệu mẫu trên đều là các file âm  
thanh mono (một kênh).  
Qua thử nghiệm, thống kê tôi thấy chương  
trình đã thực hiện việc phân biệt tiếng nói và  
âm nhạc với tỉ lệ chính xác tốt với các trường  
hợp tiếng nói và âm nhạc riêng biệt.  
Sau đây là kết quả thu được khi thử nghiệm:  
Bảng 1: Kết quả thống kê cơ sở dữ liệu  
Hình 9: Giao diện nhận dạng phân biệt  
Âm  
Tiếng  
Tương tự như giao diện huấn luyện, giao diện  
nhận dạng cũng có các phần:  
nhạc  
nói  
Giá trị trung bình của  
LSTER  
0.2048  
0.3942  
0.14599  
- Bên phải là đồ thì biểu diễn của tín hiệu: tại  
khung cửa sổ thứ nhất là dạng tín hiệu của âm  
thanh, tiếp theo là năng lượng trong khoảng  
ngắn hạn và tần suất vượt điểm không của tín  
hiệu âm thanh, tuy nhiên khác với giao diện  
huấn luyện, giao diện nhận dạng còn có thêm  
Giá trị trung bình của  
HZCRR  
0.2632  
0.22  
Giá trị trung bình của SF 0.3885  
93  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
Bảng 2: Kết quả thống kê nhận dạng với một số  
lượng đầu vào là tiếng nói và âm nhạc với K=3  
tế (ứng dụng tự động thu thập thông tin, đánh  
giá chỉ mục cho dữ liệu đa phương tiện.  
TÀILIỆU THAM KHẢO  
Âm nhạc  
Tiếng nói  
[1]. David Gerhard, (2000), “Audio Signal  
classification: an overview” , Canadian Artificical  
Intelligence, 45:4-6, Winter.  
[2]. Peltonen, V., (2001) “Computational  
Auditory Scene Recognition”. MSc Thesis,  
Tampere University.  
[3]. Saunders, J., “Real-Time Discrimi-nation  
of Broadcast Speech/Music”, Proc. ICASSP,  
pp993-996  
10838432  
(92.36%)  
945553  
(15.56%)  
Nhận dạng là âm  
nhạc  
897324  
(7,64%)  
5131722  
(84.44%)  
Nhận dạng là  
tiếng nói  
11735756  
(100%)  
6077275  
(100%  
Tổng  
Bảng 3: Kết quả thống kê nhận dạng với một số  
lượng đầu vào là tiếng nói và âm nhạc với K=5  
[4]. Srinivasan, S., (1999), Petkovic, D.,  
Poncelcon, D, “Toward robust features for  
classifying audio in the CueVideo System”, Proc  
7th ACM Int, Conf Multimedia, pp. 393-400.  
[5]. M.D. Plumbley, S.A Abdallah, J.P. Bello,  
M.F. Davies, G, Monti , M.B. Sandler (2002),  
“Automatic music transcription and audio source  
separation”, Cybernetics and System, 33(6):603-627.  
[6]. Lu, L., Jiang, H., and Zhang, H. J., (2001),  
“A robust audio classification and Segmentation  
method”, in Proc. 9th ACM Int Conf Multimedia,  
pp 203-211.  
Âm nhạc  
Tiếng nói  
10878964  
(92.7%)  
856792  
(7,3%)  
11735756  
(100%)  
974188  
(16.03%)  
5103087  
(83.97%)  
6077275  
(100%)  
Nhận dạng là  
âm nhạc  
Nhận dạng là  
tiếng nói  
Tổng  
KẾT LUẬN  
Trong nghiên cứu này chúng tôi chủ yếu tập  
trung phân tích đánh giá các đặc điểm vật lý,  
đặc điểm về cảm thụ âm thanh của hai tín  
hiệu: âm nhạc và tiếng nói: sau khi thử  
nghiệm dùng ba đặc trưng HZCRR, LSTER,  
SF với thuật toán phân loại K-NN chúng tôi  
thấy kết quả thu được là khá tốt. Trong tương  
lai, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống  
sao cho có được một hệ thống hoàn chỉnh để  
có thể thực hiện tự động nhận dạng phân biệt  
tiếng nói với âm nhạc đem áp dụng vào thực  
[7]. Scheier,  
E.,  
Slaney,  
M.,  
(1997),  
“Construction and  
Evaluation of a Robust  
Multifeature Speech/Music Discrimination”. Proc.  
ICASSP, pp1331-1334.  
[8]. S. Theodoridis, K. Kontroumbas (1999),  
“Pattern Recognition”, Academic Press.  
94  
Đỗ Thị Loan và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 89 - 95  
SUMMARY  
RESEARCH INTO METHOD OF DISCRIMINATION  
BETWEEN SPEECH AND MUSIC  
Do Thi Loan*, Luu Thi Lieu, Nguyen Thi Hien  
College of Information Communication and Technology – TNU  
Automatic discrimination of speech and music is an important tool in many multimedia  
applications. For the discrimination of speech and music we have used three characteristics:  
HZCRR (High Zero Crossing Rate Ratio), LSTER (Low Short Time Energy Ratio), SF (Spectrum  
Flux) and the algorithm for training and discrimination is K Nearest Neighbor. The data is musical  
segments with different kind of music like Vietnamese music, Rock, Pop songs, country music and  
speech segments of male and female voices for Vietnamese. In the article the major objective of  
our research is to discriminate two audio signals: speech and music. We have got results with  
rather high accuracy: about 88% for speech and 92% for music. In the future, we would like to  
develop the system to classify more classes of audio signal.  
Key words: Discrimination, speech, music, Vietnamese music, Vietnamese  
Phản biện khoa học: TS. Phạm Đức Long – Trường Đại học CNTT & TT – ĐH Thái Nguyên  
*
Tel: 0972998865; Email:[email protected]  
pdf 7 trang baolam 22360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu phương pháp nhận dạng phân biệt tiếng nói với âm nhạc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_phuong_phap_nhan_dang_phan_biet_tieng_noi_voi_am.pdf