So sánh hai phương pháp trích chọn đặc trưng âm thanh: đường bao phổ (MFCC) và cao độ pitch trong việc tìm kiếm âm nhạc theo nội dung

Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
SO SÁNH HAI PHƯƠNG PHÁP TRÍCH CHỌN ĐẶC TRƯNG ÂM THANH:  
ĐƯỜNG BAO PHỔ (MFCC) VÀ CAO ĐỘ PITCH TRONG VIỆC  
TÌM KIẾM ÂM NHẠC THEO NỘI DUNG  
Phùng Thị Thu Hiền1*, Đoàn Xuân Ngọc2, Phùng Trung Nghĩa3  
1Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - ĐH Thái Nguyên  
2Cục thuế tỉnh Thái Nguyên  
3Trường Đại học CNTT&TT - ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Trong cách tiếp cận truyền thống, các vector đặc trưng của tín hiệu âm thanh được xây dựng từ các  
đặc trưng vật lý của âm thanh như độ to, độ cao, năng lượng, phổ tần số,… Có rất nhiều phương  
pháp trích chọn đặc trưng âm thanh đã và đang được nghiên cứu để áp dụng vào bài toán tìm kiếm  
âm nhạc theo nội dung. Tuy nhiên hai phương pháp phổ biến nhất và được đánh giá cao là phương  
pháp sử dụng đường bao phổ (MFCC) và phương pháp sử dụng cao độ (F0).  
Bài báo này nghiên cứu về hai phương pháp này đồng thời so sánh đánh giá hiệu quả của từng  
phương pháp.  
Từ khóa: Vector đặc trưng, Mel Cepstral, K-means, F0, pitch, DTW.  
ĐẶT VẤN ĐỀ*  
bao phổ (MFCC), cuối cùng là đưa ra một số  
kết quả thực nghiệm để so sánh hiệu quả của  
hai phương pháp.  
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề  
trích chọn đặc trưng âm thanh trong bài toán  
CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Sử dụng đặc trưng cao độ  
Cao độ Pitch  
tìm kiếm âm nhạc theo nội dung.  
S.Blackburn và D.DeRoure [4] đã sử dụng kỹ  
thuật hiệu chỉnh cao độ (F0) để xác định giai  
điệu chính của đoạn nhạc. Trong nghiên cứu  
của mình, S.Blackburn và D.DeRoure đã so  
sánh tính toán độ tương tự của bài hát bằng  
kỹ thuật so khớp xâu. Trong khi đó, Mc Nab,  
Smith, Witten, Henderson và Cunningham [5]  
đã sử dụng phương thức tính toán giai điệu  
bằng cách ước lượng cao độ Pitch để so sánh  
giữa các bản phiên âm của mỗi bài hát.  
Không khí đi qua thanh quản làm thanh quản  
rung lên. Sự rung động này với một tỷ lệ nào  
đó cũng được gọi là tần số cơ bản – f0 . Tần  
số cơ bản phụ thuộc vào kích cỡ và áp lực của  
thanh quản. Tần số cơ bản liên quan đến âm  
thanh về cao độ và nó có thể được ước lượng  
chính xác từ tín hiệu âm thanh.  
Độ cao hay độ trầm bổng của âm thanh chính  
là tần số sóng cơ học của âm thanh. Âm thanh  
nào cũng phát ra ở một độ cao nhất định. Độ  
cao của âm thanh phụ thuộc vào tần số dao  
động. Đối với tiếng nói, tần số dao động của  
dây thanh quy định độ cao giọng nói của con  
người. Mỗi người có một cao độ giọng nói  
khác nhau, độ cao của nữ giới thường cao hơn  
nam giới và độ cao của trẻ em thường cao  
hơn của người lớn.  
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Beth  
Logan [3] thì cấu trúc âm thanh của âm nhạc  
là quan trọng. Vì vậy cần phải có một hệ  
thống nhận biết độ tương tự âm thanh theo  
cách gần giống như hệ thống nghe của con  
người, và hệ thống thính giác của con người  
dễ dàng thu và nhận dạng các nhóm âm thanh  
hơn là từng nốt nhạc hay âm riêng lẻ.  
Bài báo này trình bày phương pháp tìm kiếm  
âm nhạc theo nội dung sử dụng theo hai đặc  
trưng, thứ nhất là sử dụng đặc trưng cao độ  
(Pitch) và thứ hai là sử dụng đặc trưng đường  
Cao độ Pitch do đó là đại lượng tỷ lệ nghịch  
với tần số cơ bản F0.  
Pitch là thuộc tính cơ bản của tiếng nói. Tai  
người nhạy cảm với sự thay đổi tần số cơ bản  
*Tel: 0986060545; Email: [email protected]  
33  
Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
hơn là các tham số khác của tín hiệu tiếng  
nói. Ước lượng pitch khó do sự thay đổi của  
sóng âm thanh. Sóng âm thanh thay đổi nhỏ  
giữa các chu kỳ, thời điểm lựa chọn để đo sẽ  
ảnh hưởng tới chu kỳ cao độ. Ước lượng cao  
độ thiếu chính xác do sự xuất hiện của sóng  
hài hoặc hài bậc ba của cao độ tần số.  
cực đại khác ở mức trễ 162, cho thấy một sự  
kết hợp tốt khi dịch chuyển là hai lần chu kỳ  
cao độ. Vì vậy, để ước lượng cao độ pitch,  
cửa sổ âm thanh nên chứa ít nhất hai chu kỳ  
cao độ (N >2/Fo).  
Ước lượng Cepstral Pitch  
Khi một tín hiệu tuần hoàn với tần số cơ bản  
Fo chứa nhiều sóng hài sát nhau thì đoạn phổ  
tương ứng thể hiện các đường gợn sóng như  
cấu trúc hài của nó. Cepstrum của tín hiệu này  
sẽ thể hiện bằng một chóp cao tại tần số 1/F0.  
Có rất nhiều thuật toán và phương thức ước  
lượng cao độ. Các thuật toán ước lượng pitch  
cố gắng để định vị chu kỳ trong miền thời  
gian của tín hiệu tiếng nói hoặc miền tần số  
của tín hiệu âm thanh. Các cách tính Pitch hầu  
hết dựa vào phương pháp tự tương quan hoặc  
biến thể của nó.  
Cepstrum được định nghĩa là một biến đổi  
Fourier rời rạc ngược về cường độ với tín  
hiệu vào s(n).  
Ước lượng Pitch bằng phương pháp tự  
tương quan  
Cepstrum được biểu diễn là:  
Cepstrum(d) = IFFT(log10 | FFT(s(n)) |)  
[2]  
Ước lượng Pitch thường sử dụng phương  
pháp tự tương quan. Ý nghĩa của sự tương  
quan là đo độ tương tự giữa 2 tín hiệu, và sự  
tự tương quan đo độ tương tự giữa chính nó  
và biến đổi theo thời gian của chính nó.  
Phương thức tự tương quan trong một khoảng  
thời gian ngắn của một đoạn s(m), của một tín  
hiệu rời rạc theo thời gian s(n) có thể được  
biểu diễn là:  
d là miền tần số của tín hiệu cepstrum. Các hệ  
số của chỉ số trên miền thời gian là các thành  
phần tuần hoàn của tín hiệu gốc. Thông tin  
cao độ được trích ra bởi vì một tín hiệu âm  
thanh không chỉ chứa các thành phần phổ có  
tần số cơ bản mà còn chứa các hài. Cepstrum  
thu được có cấu trúc lặp lại theo cường độ  
phổ. Miền tần số thấp của cepstrum thể hiện  
dạng vocal tract của hệ thống tiếng nói con  
người. Tần số cao của cepstrum mô tả thông  
tin kích thích trong tiếng nói – pitch.  
N −1−k  
r(k) =  
s(m)s(m + k)  
∑
m=0  
[1]  
k là độ trễ và N là độ dài đoạn, s(m) = 0 ngoài  
miền (0 ≤ m ≤N −1)  
Hình 2 thể hiện cường độ phổ và cepstrum  
tương ứng với đoạn tiếng nói trong hình 1.  
Giá trị tại Cepstrum(0), được bỏ đi để thu  
được giải động tốt hơn. Đỉnh nhô lên tại tần  
số 82 biểu thị chu kỳ cao độ. Tần số này  
tương ứng với tỷ lệ mẫu của tín hiệu gốc,  
8000Hz. Vì vậy tần số 82 thể hiện tần số cao  
độ 8000/82 = 97.2 Hz.  
.
Cấu trúc quan trọng trong miền tần số  
frequency thấp, từ 1 tới 16 miêu tả thông tin  
vocal tract.  
Hình 1: Dạng sóng và tự tương quan trên miền  
thời gian của một đoạn tiếng nói ngắn  
Với âm hữu thanh, phép phân tích Cepstral  
của một đoạn tiếng nói ngắn sẽ tạo ra một  
đỉnh của chu kỳ cao độ, nhưng đối với những  
âm vô thanh thì không. Phép phân tích  
Cepstral có thể được sử dụng cho đoạn âm  
thanh là hữu thanh hay vô thanh để xác định  
chu kỳ cao độ, 1/F0 nếu là đoạn hữu thanh.  
Hình 1 thể hiện một đoạn âm thanh ngắn và  
tính tự tương quan của đoạn đó. Chu kỳ cao  
độ được theo dõi trên khoảng 80 mẫu. Đỉnh  
nhô lên trong sóng tự tương quan biểu thị  
điều này. Giá trị cực đại để xuất hiện quá  
trình tự tương quan là ở mức trễ 0. Một giá trị  
34  
Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
Mô phỏng lại quá trình tạo âm của cơ quan  
phát âm.  
Cường độ log phổ của hai tín hiệu s1 và s2 là  
sự tổ hợp tuyến tính của cường độ phổ log  
như được thể hiện trong biểu thức 3:  
log10(|DFT[s1*s2](k)|) = log10(|s1(k)|) +log10(|s2(k)|) [3]  
Giả sử rằng S1 và S2 là những phần tách rời  
của phổ và quan sát cường độ log phổ của 2  
tín hiệu chập S1 và S2 ở trên, DFT có thể  
được tính toán để thu được sự mô tả các tần  
số riêng biệt theo log10(|s1(k)|) và  
log10(|s2(k)|). Tín hiệu chuyển đổi được miêu  
tả  
trong  
miền  
tần  
số  
vì  
vậy  
Hình 2: Cường độ Log của DFT và tần số  
Cepstrum của đoạn tiếng nói trong hình 1  
log10(|DFT[s1*s2](k)|) được chuyển đổi sang  
miền tần số dubbed, quá trình chuyển đổi này  
được gọi là phân tích cepstral và phổ thu  
được được gọi là cepstrum.  
Sử dụng đặc trưng đường bao phổ MFCC  
Tần số cảm thụ có nghĩa  
Tai của con người nhận biết được những âm  
thanh có tần số thấp (<1kHz) tốt hơn những  
âm thanh có tần số cao. Vì vậy điều quan  
trọng là cần làm nổi bật lên những âm thanh  
có tần số thấp hơn là tần số cao.  
Xử lý Cepstral theo thang đo tần số Mel  
Các đặc trưng của Mel Cepstral rất thành  
công trong các ứng dụng xử lý tiếng nói và  
phục hồi âm nhạc với độ chính xác cao. Các  
đặc trưng này tạo sự uyển chuyển của cường  
độ phổ của những đoạn tín hiệu âm thanh, vì  
vậy nó là công cụ mạnh khi có những thay  
đổi nhỏ trong giai điệu hoặc kiểu phối nhạc.  
MFCC có nhiều đặc trưng vượt trội khi sử  
dụng để nhận dạng tiếng nói theo thời gian.  
Mỗi bước của quá trình tạo các đặc trưng  
MFCC được thực hiện bằng hệ thống cảm  
thụ âm thanh của con người. Tức là những gì  
không liên quan có thể bỏ đi khỏi cơ sở dữ  
liệu gốc dựa trên quá trình cảm thụ âm thanh  
dạng sóng của con người, và tiếp theo là yêu  
cầu giảm kích thước dữ liệu và tăng tốc độ  
tính toán.  
Dải thông của tín hiệu tiếng nói là khoảng  
10kHz. Không có thành phần tần số nào tồn  
tại dưới 50kHz. Tần số tiếng nói là dưới  
3kHz, cao hơn các thành phần tần số chính  
liên quan đến người nói, âm nhạc, dụng cụ âm  
thanh hoặc hiệu ứng. Formants cũng là thông  
tin quan trọng. Tần số formants của âm hữu  
thanh được tìm thấy dưới 5kHz trong khi của  
âm vô thanh biến mất.  
Hình 3: Cường độ âm hữu thanh và vô thanh  
A: Cường độ của tín hiệu âm vô thanh  
B: Cường độ của tín hiệu âm hữu thanh  
Phép phân tích Cepstral  
Quá trình lọc theo thang Mel Cepstral:  
Theo Beth Logan, MFCC gồm 5 bước:  
1. Chia tín hiệu thành các khung  
2. Với mỗi khung, ta thu được biên độ phổ.  
3. Lấy log của biên độ  
Cepstral là một phương pháp để trích chọn  
đặc trưng âm thanh. Trích chọn tham số đặc  
trưng âm thanh dựa trên hai cơ chế:  
4. Chuyển đổi sang thang Mel  
Mô phỏng lại quá trình cảm nhận âm thanh  
của tai người.  
5. Thực hiện biến đổi Cosine rời rạc.  
35  
Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
Một phương pháp để chuyển đổi sang thang  
mel là sử dụng băng lọc. Khoảng cách của  
băng lọc được định nghĩa bởi một hằng số tần  
số mel theo thời gian. Băng lọc này được áp  
dụng trong miền tần số, nó có thể xem như  
các điểm thu được của bộ lọc chính. Với các  
khung nhỏ tốt nhất là sử dụng các bộ lọc dạng  
tam giác hoặc thậm chí hình chữ nhật vì độ  
phân giải là quá thấp trong miền tần số thấp.  
Hình 4: Quá trình tạo các đặc tính MFCC  
Quan sát quá trình trên ta thấy, âm thanh  
được chia thành những khung có độ dài cố  
định. Mục đích là để lấy mẫu những đoạn tín  
hiệu nhỏ (theo lý thuyết là ổn định). Hàm cửa  
sổ bỏ đi những hiệu ứng phụ và vector đặc  
trưng cepstral được thực hiện trên mỗi khung  
cửa sổ. Biến đổi Fourier rời rạc của mỗi  
khung được tính toán và lấy logarithm biên  
độ phổ. Thông tin về pha bị bỏ qua do biên độ  
phổ là quan trọng hơn pha. Thực hiện lấy  
logarithm biên độ phổ do âm lượng của tín  
hiệu là xấp xỉ logarith. Tiếp theo biến đổi phổ  
theo thang Mel. Từ kết quả này, trong vector  
Mel – spectral của các thành phần tương quan  
cao, bước cuối cùng là thực hiện biến đổi  
cosine rời rạc để tổng hợp vector phổ Mel để  
tương quan lại các thành phần này  
Hình 5: Băng lọc khoảng cách theo tần số Mel  
Mỗi bộ lọc trong băng lọc được nhân với phổ  
tín hiệu vì vậy chỉ có một giá trị đơn của  
cường độ trên bộ lọc được trả lại. Điều này có  
thể đạt được qua các tính toán của ma trận  
đơn. Kết quả là tổng của biên độ trong dải lọc  
và vì vậy làm giảm độ chính xác tới mức tai  
của con người.  
Độ lệch tần số Mel  
Độ lệch tần số Mel làm nhẵn phổ và làm nổi  
lên các tần số cảm thụ có nghĩa. Biến đổi  
Fourier lên tín hiệu qua bộ lọc thông dải để  
làm đơn giản phổ mà không làm mất dữ liệu.  
Điều này được thực hiện bằng cách tập hợp  
các thành phần phổ thành một dải tần số. Phổ  
được làm đơn giản hóa do sử dụng một giàn  
bộ lọc để tách phổ thành các kênh. Các bộ lọc  
được đặt cách đều nhau trên thang Mel và lấy  
logarit trên thang tần số, các kênh có tần số  
thấp là không gian tuyến tính trong khi các  
kênh có tần số cao là không gian logarit.  
Hình 6: Phổ sau khi lọc theo thang Mel  
Quá trình độ lệch tần số mel được thực hiện  
theo ba bước sau:  
Tai người không cảm nhận sự thay đổi tần số  
của tiếng nói tuyến tính mà theo thang mel.  
Thang tần số Mel tuyến tính ở tần số dưới  
1kHz và logarit ở tần số cao hơn 1kHz. Ta  
chọn tần số 1kHz, 40 dB trên ngưỡng nghe  
1000 Mel. Do đó công thức gần đúng biểu  
diễn quan hệ tần số ở thang mel và thang  
tuyến tính như sau:  
1. Cố định vùng giá trị dưới mỗi bộ lọc và  
đôi khi đưa thang về 1. Đặt M = số băng lọc  
yêu cầu  
2. Phân bố đều trên thang tần số Mel  
ω
i's  
trên thang  
3. Chuyển đổi từ Hz sang  
tuyến tính. Mối quan hệ giữa mel và frq được  
cho bởi công thức:  
(5)  
(4)  
m=ln(1+f/700)*1000/ln(1+1000/700)  
36  
Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM  
Sử dụng F0  
Giống như Beth Logan [8], phân lớp bằng  
cách phân hệ số cepstral thành 16 cụm theo  
thuật toán K-means chuẩn. Sử dụng khoảng  
cách Euclidean để tính toán độ tương tự.  
Chuẩn bị dữ liệu  
Dữ liệu bao gồm 20 bài hát thiếu nhi nổi tiếng  
childSong4public/QBSH-corpus/.  
Kết quả thực nghiệm và đánh giá  
Trong cả 2 chương trình thử nghiệm, kết quả  
nhận dạng đúng cuối cùng sau 20 lần thử  
nghiệm đều là 100%. Kết quả này cao hơn kết  
quả đã công bố trong [8] và [4] dù dùng cùng  
thuật toán. Lý do có thể do chương trình  
demo mới thử nghiệm trên bộ cơ sở dữ liệu  
rất nhỏ. Hơn nữa độ dài âm thanh đầu vào  
(trích 1 đoạn từ file âm thanh cần tìm kiếm)  
đủ lớn (so với âm thanh tìm kiếm) trong  
chương trình thử nghiệm 1, độ dài âm thanh  
đầu vào và âm thanh cần tìm kiếm đều là cả  
bài hát trong chương trình thử nghiệm 2. Tỷ  
lệ nhận dạng sẽ giảm xuống khi dùng cơ sở  
dữ liệu lớn hơn (đặc biệt khi trong cơ sở dữ  
liệu có các bài hát có những phần tương tự  
nhau), tỷ lệ nhận dạng và tìm kiếm đúng cũng  
sẽ giảm xuống khi độ dài mẫu âm thanh đầu  
vào là nhỏ.  
Trong các cấu trúc file âm thanh thì MIDI là  
định dạng file đơn giản, kích cỡ nhỏ gọn  
nhưng vẫn biểu diễn được giai điệu âm  
nhạc.Trong bước huấn luyện, chương trình sử  
dụng 20 bản nhạc định dạng MIDI. Khi tìm  
kiếm chương trình thử nghiệm trên 20 file âm  
thanh PCM Wave tần số lấy mẫu 8 KHz, mã  
hóa 8 bít / mẫu, thu từ các điệu ngân nga  
không lời (humming) hoặc các đoạn hát  
không nhạc (singing) với giai điệu tương ứng  
với 45 bản nhạc MIDI đã huấn luyện.  
Các tham số thực nghiệm  
Cao độ Pitch được tính theo phương pháp tự  
tương quan ACF (AutoCorrelation Function)  
với các tham số: kích cỡ khung là 256 ms,  
không chồng lấp. Sau khi tính Pitch bằng hàm  
ACF, pitch được làm trơn bằng lọc trung vị.  
Phương pháp phân lớp sử dụng thuật toán thời  
gian động DTW tiến hành so sánh chuỗi Pitch  
đầu vào cần tìm kiếm tính từ file Wave với lần  
lượt các chuỗi Pitch của các file MIDI trong cơ  
sở dữ liệu. Thuật toán thời gian động cho phép  
so sánh 2 chuỗi Pitch có độ dài khác nhau với  
sai số nhỏ nhất. Độ tương tự của 2 chuỗi pitch  
sau đó được tính toán bằng khoảng cách Euclid  
để tìm ra chuỗi phù hợp nhất.  
Về mặt thời gian, chương trình 1 thực hiện  
huấn luyện và sau đó tìm kiếm hết ~ 4 s với  
một bài hát, chương trình 2 thực hiện tìm  
kiếm cho mỗi file Wave trong khoảng 0.2 s  
với điều kiện đã huấn luyện trước.  
Sử dụng MFCC  
Chuẩn bị dữ liệu  
Vẫn sử dụng dữ liệu trên nhưng được lưu ở  
định dạng PCM wave, tần số lấy mẫu 44  
KHz, mã hóa 16 bit trên một mẫu. Mỗi bài  
hát được trích ra một đoạn ngắn < 5 s sử dụng  
làm mẫu tìm kiếm.  
Hình 7: Kết quả chạy chương trình  
Các tham số thực nghiệm  
Với thử nghiệm trên cả hai phương pháp đều  
cho kết quả tốt. Tuy nhiên, phương pháp  
MFCC tốt hơn khi dữ liệu được trích ra từ  
chính bài hát của tác giả. Còn phương pháp  
cao độ pitch có thể nhận diện được khi đoạn  
dữ liệu tìm kiếm có thể là một tiếng sáo, tiếng  
nhạc hoặc giai điệu của bài hát.  
Đặc trưng MFCC được cài đặt với các tham  
số sau : Kích cỡ khung là 512 ms, không sử  
dụng khung chồng lấp, số bộ lọc trong dãy  
băng lọc Mel là 20, số hệ số Ceptral là 12,  
không sử dụng các hệ số đạo hàm Delta, kết  
hợp các hệ số MFCC với 1 hệ số năng lượng.  
37  
Phùng Thị Thu Hiền và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ  
112(12)/2: 33 - 38  
nội dung”, Luận văn thạc sỹ Công nghệ thông tin,  
Đại học Thái Nguyên, 12/2009.  
Do đó, với các ứng dụng yêu cầu độ chính xác  
cao mà dữ liệu nhỏ hơn ta có thể áp dụng  
phương pháp MFCC rất tốt còn trong trường  
hợp khi bộ dữ liệu lớn, mà đoạn dữ liệu tìm  
kiếm có thể chỉ là một đoạn là giai điệu của bài  
hát ta có thể áp dụng phương pháp cao độ Pitch.  
[2]. Phùng Thị Thu Hiền, Thái Quang Vinh,  
Phùng Trung Nghĩa, Lê Tuấn Anh (2009), “Tìm  
kiếm âm nhạc theo nội dung sử dụng đặc trưng  
tần số cơ bản F0 và giải thuật thời gian động  
DTW”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ ISSN,  
1859 – 2171, T55 – 59.  
KẾT LUẬN  
[3]. Beth Logan and Ariel Salomon (2002), “A  
Music Similarity Function Based on Signal  
Analysis”, Cambridge Research Laboratory.  
[4]. S.Blackburn and D. De Roure (1998), “A tool  
for content based navigation of music”, in ACM  
Multimedia.  
[5]. R. Mc Nab, L. Smith, I. Witten, C.Henderson,  
and S.Cunningham (1996), “Towards the digital  
music library: Tune retrieval from acoustic input,”  
in Digital Libraries, pp.11-18  
Để kết quả thực nghiệm chính xác hơn, cần  
xây dựng một cơ sở dữ liệu âm nhạc đủ lớn  
để thử nghiệm. Từ đó sẽ đánh giá được độ  
chính xác, hiệu quả của các phương pháp tìm  
kiếm và có thể đề xuất các phương pháp cải  
tiến thao tác trích đặc trưng và phân lớp của  
hệ thống tìm kiếm.  
Hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ là tìm hiểu sâu  
hơn về các phương pháp phân lớp dữ liệu như  
mạng Neural, giải thuật di truyền GA, mô  
hình Markov ẩn HMM,…  
[6]. Beth Logan and Stephen Chu (2000), “Music  
Summarization Using Key Phrases”, Cambridge  
Research Laboratories.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[7]. J.T. Foote (1997), “Content-based retrieval  
of Music and Audio,” in SPIE, p.p 138- 147  
[1]. Phùng Thị Thu Hiền, “Trích chọn đặc trưng  
âm thanh trong bài toán tìm kiếm âm nhạc theo  
SUMMARY  
COMPARING TWO METHOD: SPECTRAL ENVELOPE FEATURE (MFCC)  
AND PITCH IN CONTEND – BASED MUSIC RETRIEVAL  
Phung Thi Thu Hien1*, Doan Xuan Ngoc2, Phung Trung Nghia3  
1College of Technology – TNU  
2Department of Tax – Thai Nguyen province  
3College of Information Communication and Technology  
In state of the art approaches, feature vectors of music signal are built based on their physical  
characteristics as volume, energy, and spectrum. There are many methods to extract feature in  
contend – based music retrieval. Spectral Envelope Feature and Pitch method are Two popular  
methods. This paper presens and compares these methods.  
Key words: Feature Vector, Mel Cepstral, K-means, F0, pitch, DTW.  
Phản biện khoa học: TS. Vũ Việt Vũ – Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên  
*
Tel: 0986060545; Email: [email protected]  
38  
pdf 6 trang baolam 22620 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hai phương pháp trích chọn đặc trưng âm thanh: đường bao phổ (MFCC) và cao độ pitch trong việc tìm kiếm âm nhạc theo nội dung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hai_phuong_phap_trich_chon_dac_trung_am_thanh_duong.pdf