Tín ngưỡng dân gian trong Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 11, Số 2, 2021 155-169  
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU  
VÀ VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH (VĂN CHIÊU HỒN)  
CỦA NGUYỄN DU  
Võ Thị Thùy Dunga*  
aKhoa Ngữ văn và Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Nhận ngày 29 tháng 11 năm 2020 | Chấp nhận đăng ngày 07 tháng 01 năm 2021  
Xuất bản trực tuyến ngày 16 tháng 4 năm 2021  
Tóm tắt  
“Truyện Kiều” và “Văn tế thập loại chúng sinh” là hai tác phẩm có giá trị và ý nghĩa to  
lớn trong sự nghiệp sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du. Thành công của hai tác phẩm  
không chỉ đến từ nội dung hay nghệ thuật mà còn đến từ vốn sống, sự am hiểu sâu sắc văn  
hóa dân tộc để vận dụng nhuần nhuyễn vào từng câu chữ. Bài nghiên cứu này đi sâu tìm  
hiểu dấu ấn tín ngưỡng dân gian, cụ thể là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng thờ  
con người được phản ánh trong “Truyện Kiều” và “Văn tế thập loại chúng sinh”. Từ đó  
làm rõ vai trò của sự phản ánh tín ngưỡng dân gian ở hai tác phẩm cả trên khía cạnh văn  
học lẫn văn hóa.  
Từ khóa: Nguyễn Du; Tín ngưỡng dân gian; Truyện Kiều; Văn tế thập loại chúng sinh.  
Loại bài báo: Bài báo nghiên cứu gốc có bình duyệt  
Bản quyền © 2021 (Các) Tác giả.  
Cấp phép: Bài báo này được cấp phép theo CC BY-NC 4.0  
155  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
THE FOLK BELIEFS IN THE TALE OF KIEU AND THE FUNERAL  
ORATION TO THE SOULS BY NGUYEN DU  
Vo Thi Thuy Dunga*  
aThe Faculty of Literatures and History, Dalat University, Lam Dong, Vietnam  
*Corresponding author: Email: [email protected]  
Article history  
Received: November 29th, 2020 | Accepted: January 7th, 2021  
Available online: April 16th, 2021  
Abstract  
“The Tale of Kieu” and “The Funeral Oration to the Souls” are two works of great value  
and significance in the writing career of the great poet, Nguyen Du. The success of these  
two works not only comes from their content and artistic composition, but also from the life  
experiences and deep understanding of the national culture expressed fluently in every  
word. This article explores the impact of folk beliefs; namely, the cult of nature and  
religious beliefs that are reflected in “The Tale of Kieu” and “The Funeral Oration to the  
Souls”. Then, it clarifies the role of folk beliefs in both literary and cultural aspects of the  
works.  
Keywords: Folk Beliefs; The Tale of Kieu; Nguyen Du; The Funeral Oration to the Souls.  
Article type: (peer-reviewed) Full-length research article  
Copyright © 2021 The author(s).  
Licensing: This article is licensed under a CC BY-NC 4.0  
156  
Võ Thị Thùy Dung  
1.  
DẪN NHẬP  
Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) là thiên tuyệt bút của Nguyễn Du, là “tập  
đại thành ngôn ngữ” trong kho tàng văn chương dân tộc. Nội dung Truyện Kiều xoay  
quanh số phận nhân vật Vương Thúy Kiều – một cô gái con nhà dòng dõi, tài sắc vẹn  
toàn. Tuy nhiên, cuộc đời Thúy Kiều gặp nhiều oan trái, phải bán mình chuộc cha và  
em, phải chịu “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” trở thành hạng người “dưới đáy  
cùng” của xã hội, bị người đời rẻ khinh. Sau 15 năm lưu lạc, Thúy Kiều được đoàn tụ  
gia đình và tìm được sự bình yên cho tâm hồn. Điểm sáng nhân văn của tác phẩm chính  
là tấm lòng, là tình yêu thương, sự cảm thông, tiếng nói đòi quyền sống, quyền tự do,  
tình yêu và hạnh phúc cho con người của đại thi hào Nguyễn Du. Vì lẽ đó mà đã hơn  
200 năm trôi qua, Truyện Kiều vẫn trở thành đỉnh cao khó vượt qua trong kho tàng văn  
học Việt Nam.  
Dĩ nhiên, không thể không nhắc đến điều đặc biệt làm nên ý nghĩa của tác phẩm,  
đó chính là sự chuyển tải tư tưởng, tình cảm, văn hóa dân tộc vào từng câu chữ để có vẽ  
nên hình ảnh nàng Kiều cao đẹp, đáng trân quý nhưng rất gần gũi, đáng được cảm thông  
yêu thương. Giá trị của Truyện Kiều vì thế được nâng tầm, đúng như khẳng định của  
nhà văn hóa Phạm Quỳnh “Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là  
quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của  
ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta.”1  
Nếu như Truyện Kiều là tác phẩm trọn vẹn về thân phận người phụ nữ với bao  
thăng trầm, nổi nênh thì Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) lại hơn thế khi đề  
cập đến thân phận của mười loại người khác nhau trong xã hội cùng những nỗi đau, nỗi  
oan không người thấu chỉ trong 184 câu văn tế. Có thể nói, với Văn chiêu hồn, Nguyễn  
Du một lần nữa cho thấy trái tim chứa chan yêu thương thân phận con người, mà điểm  
đặc biệt ở đây là thân phận những người đã khuất, cái còn lại để Nguyễn Du khóc  
thương chính là cảm nhận về sự lang thang, vất vưởng, đau đáu nỗi niềm của những linh  
hồn đang bơ vơ trên thế gian.  
Được làm theo thể song thất lục bát và viết với mục đích tế “thập loại chúng  
sinh”, Văn chiêu hồn đã miêu tả trọn vẹn nỗi niềm của mười loại linh hồn từ vua quan,  
tướng lĩnh sa cơ đến kỹ nữ, người bán buôn thất thế hay cả những người cùng khổ, yểu  
mệnh chết bởi oan khiên tai họa. Hình ảnh xã hội hồn ma ấy chẳng có gì khác trần thế,  
vẫn tồn tại những khắc khoải về thân phận con người. Điều khác biệt cơ bản với thế giới  
thực là tất cả chúng sinh đều như nhau, không phân biệt kẻ hèn người sang, kẻ vinh  
người nhục, họ chung nhau ở sự oan khuất, cô đơn, vất vưởng bụi bờ. Và vì thế,  
Nguyễn Du xót thương tất cả.  
1 Bài Diễn thuyết về Truyện Kiều của Phạm Quỳnh được ông đọc nhân Lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du (08/12/1924) do Hội Khai  
trí tiến đức tổ chức.  
157  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Thời điểm sáng tác Văn chiêu hồn đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận trong giới  
nghiên cứu. Hiện ý kiến nhận được nhiều đồng thuận nhất là của Trần Thanh Mại2 khi  
cho rằng bài văn tế được Nguyễn Du viết sau khi xảy ra một mùa dịch khủng khiếp làm  
hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, ở khắp các chùa, người  
ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Về bố cục, bài văn tế chia  
làm bốn phần: Tả cảnh chiều tháng 7 mưa dầm lạnh lẽo khiến tác giả chạnh lòng thương  
các linh hồn chúng sinh đang cô đơn, bơ bơ ở cõi âm nên lập đàn cầu siêu; Nêu rõ  
nguyên nhân thiệt mạng của 10 loại cô hồn; Miêu tả cảnh “sống” vật vờ, thê thảm của 10  
loại cô hồn; Cầu xin sự giải thoát của phép Phật nhiệm màu, mời các cô hồn nhận lễ cúng  
siêu độ.  
Như thế, những người được nhắc đến trong bài văn tế là người đã khuất mà sự  
tồn tại của họ, mối liên hệ giữa họ và thế tục chỉ có thể được kết nối bằng nghi lễ, thông  
qua sự cộng cảm về tinh thần bởi sự hư ảo của thế giới cõi âm. Điều này phản ánh rất rõ  
một phần quan trọng trong văn hóa Việt, đó là niềm tin và cách ứng xử với các thế lực  
siêu nhiên mà con người tin rằng luôn song hành tồn tại cùng thế giới đời thực. Vì thế,  
ngoài giá trị văn học, tác phẩm còn chứa đựng giá trị văn hóa phản ánh đời sống tâm  
linh gắn với tín ngưỡng của người dân đất Việt.  
2.  
DẤU ẤN TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU VÀ VĂN TẾ  
THẬP LOẠI CHÚNG SINH  
2.1. Tín ngưỡng dân gian  
Con người luôn có nhu cầu nhận thức tự nhiên và xã hội để có cách ứng xử phù  
hợp, thích nghi với môi trường đang sống. Tín ngưỡng chính là một trong những kết  
quả đúc kết mối quan hệ con người với hiện thực dựa trên trình độ nhận thức trong một  
khoảng không thời gian nhất định đúng như quan điểm “Tín ngưỡng là một hình thức  
thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của cộng đồng người nào đó ở một  
trình độ phát triển xã hội cụ thể” (Ngô, 2012, tr. 11). Theo nhận định này, tín ngưỡng  
bao gồm hai khía cạnh đáng chú ý là niềm tin và hình thức thể hiện.  
Ở đây, niềm tin cụ thể hướng đến cái thiêng liêng. Cái thiêng là phạm trù khó lý  
giải bởi trong tư duy con người, cái thiêng thuộc thế giới siêu nhiên, khó nắm bắt, đối  
lập với thế giới trần tục. Niềm tin vào cái thiêng là cốt lõi của tín ngưỡng. Trên cơ sở  
niềm tin vào cái thiêng liêng, con người thể hiện niềm tin bằng hình thức nào đó, rõ nét  
nhất là thờ cúng nhằm cầu mong sự bình yên.  
Với riêng Việt Nam, do nằm ở “ngã ba đường” nhiều nền văn hóa và văn minh,  
có điều kiện giao lưu, tiếp xúc, chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa lớn trong khu vực  
cũng như quốc tế nên khá đa dạng về tôn giáo tín ngưỡng. Tuy nhiên, cơ sở nền tảng  
của văn hóa tinh thần Việt Nam lại chính là tín ngưỡng dân gian. Đó là sản phẩm kết  
tinh tư tưởng, tình cảm của người Việt trong mối quan hệ giữa con người với con người,  
2 Đông Dương tuần báo (1939).  
158  
Võ Thị Thùy Dung  
con người với tự nhiên trong một giai đoạn nhất định – giai đoạn tín ngưỡng người Việt  
chưa chịu ảnh hưởng của bên ngoài, chưa hình thành hệ thống, nói khác hơn, “Tín  
ngưỡng khi chưa thành tôn giáo sơ khai hay tôn giáo dân gian thì bản thân nó là tín  
ngưỡng dân gian” (Nguyễn, 2004).  
Theo thời gian, cùng với quá trình giao lưu, nhiều lớp văn hóa đã tích hợp hoặc  
có sự chồng lấp lên một tín ngưỡng nào đó. Vì thế việc tách bạch rạch ròi là điều khó có  
thể. Do đó sự nhận diện, phân loại cũng như đánh giá tín ngưỡng dân gian người Việt  
cũng chỉ dừng lại ở mức tương đối. Có nhiều cách phân loại tín ngưỡng dân gian Việt  
Nam, tựu chung lại cách phân loại nhận được nhiều sự đồng thuận là cách chia thành ba  
loại: Tín ngưỡng phồn thực thờ sự sinh sôi nảy nở; Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên; Tín  
ngưỡng thờ con người. Trong đó có hai tín ngưỡng phổ biến nhất là sùng bái tự nhiên và  
thờ con người.  
Với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, cơ sở giúp hình thành tín ngưỡng này là sự  
hạn chế trong nhận thức của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Lúc này,  
khi đứng trước thế giới tự nhiên bao la nhưng cũng đầy bất trắc, sự hình dung về một  
thế lực thần linh đầy quyền năng trong tự nhiên có thể chi phối, tác động đến con người  
càng rõ nét dần. Và để có thể yên ổn trong chặng đường sinh tồn, con người đã tôn thờ  
thế lực tự nhiên ấy như một điều tất yếu.  
Tín ngưỡng thờ con người lại xuất phát trên cơ sở niềm tin về sự tồn tại của linh  
hồn sau khi chết. Niềm tin đó được phát triển theo thời gian “Bắt đầu hình thành ảo  
tưởng về phần xác và phần hồn, hồn gắn với xác, ở trong xác; sau hồn có thể tách ra  
khỏi xác, hồn là hồn, xác là xác; rồi hồn cao hơn phần xác, tách khỏi xác, xác bị hủy  
hoại rồi hồn vẫn còn” (Mai, 2006, tr. 302). Như vậy, con người tin vào sự tồn tại của  
yếu tố khác ngoài yếu tố thể xác đang hiện hữu. Yếu tố ấy quan trọng hơn thể xác và có  
khả năng chi phối sự tồn tại của thể xác. Theo S. Freud, giấc mơ là cơ sở của tín ngưỡng  
hồn linh. Đồng thời cũng là cơ sở để khẳng định sự bất tử của linh hồn kể cả khi thể xác  
đã tiêu tan. Linh hồn vẫn tiếp tục đời sống của nó sau khi rời bỏ thể xác, vẫn có khả  
năng tác động đến những người xung quanh và trở thành nỗi sợ hãi với người còn sống.  
Thờ cúng linh hồn là dấu hiệu rõ nét nhất của tín ngưỡng này, đó có thể là hồn  
của tổ tiên, ông bà, hồn của những người có công hoặc thậm chí cả linh hồn ma, quỷ  
luôn làm hại con người. Việc thờ cúng nhằm tránh điều xấu, cầu mong linh hồn “phù  
hộ” bởi niềm tin hồn có thể đem lại may mắn hay xui rủi cho con người. Nhìn chung,  
“Những thuộc tính và những biểu hiện khác của sự sống đã được đưa vào khái niệm về  
linh hồn, hay ma” (Tylor, 2001, tr. 516).  
2.2.  
Các tín ngưỡng dân gian trong Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh  
2.2.1. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên  
Như đã trình bày ở trên, nhận thức hạn chế thuở sơ khai khi đối diện với tự  
nhiên là cơ sở tạo nên niềm tin và sự tôn thờ các vị thần trong tự nhiên. Trong số đó,  
không thể không nhắc đến Trời (Ông Trời). Nhìn chung, Trời là thần linh được kính sợ  
159  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
nhất, có vị trí đặc biệt, chi phối mạnh mẽ nhất đời sống con người trong các nhiên thần  
của người Việt.  
Toàn bộ Truyện Kiều ghi lại 15 năm đoạn trường của Thúy Kiều bị chà đạp bởi  
bao thế lực như bọn quan lại, những kẻ “bán phấn buôn hương”, đồng tiền. Các thế lực  
ấy có thực, nhưng Nguyễn Du lý giải việc nàng Kiều phải nhận những điều cay đắng, cơ  
cực ấy là do trời, ý trời:  
Ngẫm hay muôn sự tại trời,  
Trời kia đã bắt làm người có thân.  
Bắt phong trần phải phong trần,  
Cho thanh cao mới được phần thanh cao  
(Nguyễn, 1996, tr. 303)  
Với cách lý giải này, có thể thấy mọi điều xảy ra cho con người đều do thế lực  
siêu hình trên cao quyết định. Điều này góp phần khẳng định sự chi phối mạnh mẽ của  
tín ngưỡng sùng bái tự nhiên trong tư duy người Việt. Dõi theo mạch Truyện Kiều, bóng  
dáng Trời xuất hiện từ mối nhân duyên gặp gỡ của Kim-Kiều “Ba sinh âu hẳn duyên  
trời chi đây” đến mối họa tự dưng giáng xuống gia đình Kiều khiến nàng phải bán mình  
chuộc cha, gia đình tan nát:  
Trời làm chi cực bấy trời  
Này ai vu thác cho người hợp tan  
(Nguyễn, 1996, tr. 104)  
Trong bước đường lưu lạc, tất cả những hợp tan may rủi đều được tin rằng do sự  
sắp đặt “Rủi may âu cũng sự trời” (Nguyễn, 1996, tr. 116). Ngay cả sư Giác Duyên,  
người cứu Thúy Kiều khỏi sông Tiền Đường cũng khẳng định mọi điều là do Trời, là  
“đạo trời”: “Sư rằng: Họa phúc đạo trời” (Nguyễn, 1996, tr. 262). Niềm tin mọi sự do  
trời định đoạt khiến Thúy Kiều dù từng muốn buông xuôi, muốn “liều một phen” để  
chấm dứt cuộc đời nhục nhã, ê chề nhưng rồi cũng đành dừng lại, bởi nàng hiểu “Người  
dù muốn quyết, trời nào đã cho!” (Nguyễn, 1996, tr. 132). Không những thế, sự chi  
phối ấy còn mạnh mẽ đến nỗi Thúy Kiều hiểu được “Biết thân chạy chẳng khỏi trời”  
(Nguyễn, 1996, tr. 224) nên cứ đón nhận, thậm chí chịu đựng. Bởi lẽ, dù thế nào nàng  
vẫn tin Trời chỉ thử thách lòng người, suy cho cùng Trời vẫn là đấng tối cao luôn công  
minh soi sáng, giúp con người tìm được lẽ công bằng dẫu có rơi vào bể khổ. Đó là lý do  
giải thích tại sao khi bị Bạc Bà ép lấy cháu bà ta là Bạc Hạnh, dù đớn đau, xót xa Kiều  
vẫn nhận lời, vẫn tin:  
Chứng minh có đất có trời  
Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì?  
(Nguyễn, 1996, tr. 222)  
160  
Võ Thị Thùy Dung  
Dường như, trong Truyện Kiều, để minh chứng cho tấm lòng của con người,  
Trời luôn trở thành một “chứng nhân” đáng tin cậy. Và vì thế, chuyện thề nguyền trở  
thành chi tiết khá quen thuộc để các nhân vật bộc lộ cái “tâm” của bản thân. Lý giải cho  
lý do tại sao lại là lời thề trước Trời đất, có lẽ không có lời giải thích nào thuyết phục  
hơn là niềm tin tín ngưỡng về Trời đã chi phối. Con người tin khi đã thốt ra lời thề thì  
người chứng giám sẽ là một thế lực siêu nhiên, cụ thể ở đây là Trời, nếu người thề trái  
lời sẽ bị trừng phạt. Vì không thể trái lời, và nếu có trái thì cứ day dứt khôn nguôi nên  
lời thề Kim-Kiều trở thành nỗi đau cho cả hai bởi sự không trọn vẹn. Sau này, Thúc  
Sinh khi minh chứng tình yêu với Thúy Kiều cũng đã mượn lời thề để thể hiện tấm  
lòng. Đáng chú ý, cả những kẻ xấu như Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh... đều là những kể  
thề thốt trước Kiều để nàng tin “tấm lòng” của họ. Thật ra, điều này không khó hiểu bởi  
Thúy Kiều là người trân trọng sự thiêng liêng, tin vào giá trị của lời thề nên đó chính là  
“điểm yếu” khiến cho những kẻ xấu lợi dụng để lừa nàng tin theo. Họ đều lấy sự chứng  
giám của trời đất, quỷ thần trong lời thề, từ Tú Bà: “Mai sau ở chẳng như lời/ Trên đầu  
có bóng mặt trời rạng soi” (Nguyễn, 1996, tr. 134) đến Mã Giám Sinh “Mai sau dầu  
đến thế nào/ Kìa gương nguyệt nhật, nọ dao quỷ thần” (Nguyễn, 1996, tr. 123) hay Bạc  
Hạnh “Bạc sinh quỳ xuống vội vàng/ Quá lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ công”  
(Nguyễn, 1996, tr. 222). Có lẽ vì thế mà khi báo ân báo oán, Kiều đã xử những kẻ bạc  
ác, hãm hại mình thẳng tay:  
Lệnh quân truyền xuống nội đao  
Thề sao thì lại cứ sao gia hình  
(Nguyễn, 1996, tr. 242)  
Thật ra, nhìn theo khía cạnh tâm linh, thì kết cục dành cho những kẻ đó là đương  
nhiên khi họ đã phản bội lời thề, nói khác hơn là đã “mượn” thế lực siêu nhiên để phục  
vụ mưu đồ của mình nên chuyện “ác giả ác báo” phải chịu sự trừng phạt là không thể  
tránh khỏi. Thông qua chi tiết Thúy Kiều báo ân, báo oán chúng ta lại một lần nữa nhận  
ra dấu ấn niềm tin tín ngưỡng của người Việt ẩn sau câu chuyện về đối nhân xử thế và  
các mối quan hệ xã hội trong tác phẩm.  
Tóm lại, trong toàn bộ Truyện Kiều, Trời được nhắc đến 82 lần (Đào, 1974).  
Trời như là “sợi chỉ vô hình” nhưng xuyên suốt kết nối tác phẩm, để lý giải cho những  
vui buồn, được mất, gặp gỡ, chia ly. Cao hơn cả vẫn là niềm tin vào sự chứng giám của  
Trời để cuối cùng con người sẽ được đền đáp xứng đáng. Nhìn từ góc độ văn hóa, có  
thể thấy quan điểm này mang đậm dấu ấn tín ngưỡng dân gian của người Việt, cụ thể ở  
đây là tín ngưỡng thờ tự nhiên, thờ nhiên thần. Dẫu rằng mơ hồ nhưng Trời vẫn chiếm  
một vị trí trung tâm trong đời sống tinh thần, tâm linh của con người, đặc biệt trong  
Truyện Kiều.  
Quả thật, đúng như nhận định của học giả L. Cadière:  
Ý niệm về Trời của người Việt hiện nay cũng na ná gần giống với các dân tộc sơ  
cổ. Trời không phải là một vị thần. Trong ngôn ngữ bình dân người ta gọi là  
“Ông Trời” và xem như là một hữu thể siêu việt.... Họ xem Trời như là một  
161  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
nguyên lý an bài của con người, như là nguyên nhân nội tại của những gì đang  
xảy ra ở trần thế, của mọi sinh tử, mọi khổ đau, mọi hạnh phúc, của giàu sang  
phú quý... Họ kêu Trời chứng giám, vì Trời không xa ta; Trời thấy hết, biết hết  
mọi hành vi, thấu hiểu mọi tâm tư suy nghĩ. Họ kêu Trời vì Trời tốt lành, nhân  
hậu. Họ xin Trời trợ giúp vì Trời toàn năng... Trời soi xét, nghĩ suy và xét xử.  
Trời công bằng, thưởng lành phạt dữ (Đỗ, 2006, tr. 139).  
2.2.2. Tín ngưỡng thờ con người  
Niềm tin vào sự tồn tại của thể xác và linh hồn là nền tảng để con người thờ  
cúng linh hồn nhằm cầu mong bình yên, tránh xui rủi cho người sống và giúp linh hồn  
siêu thoát, bình yên ở cõi âm. Tùy theo sự thành tâm của người sống mà hồn người đã  
khuất có thể về báo mộng, báo điềm lành điềm dữ nhằm giúp người sống theo đó mà  
ứng xử. Đây là điểm đặc trưng trong tín ngưỡng thờ linh hồn của người Việt. Tín  
ngưỡng này biểu hiện trong Truyện Kiều dưới hình thức thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ  
linh hồn con người và bóng dáng hồn ma, sự báo mộng của người đã khuất, tiêu biểu  
nhất là hồn ma Đạm Tiên xuyên suốt chặng đường trần lận đận của Thúy Kiều.  
Qua Truyện Kiều, cuộc đời Đạm Tiên được miêu tả thật bất hạnh:  
Sống làm vợ khắp người ta,  
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng  
(Nguyễn, 1996, tr. 54)  
Cả đời đau khổ đến nỗi khi chết đi hồn nàng vẫn không siêu thoát, vẫn vương  
vất cõi trần. Chính nén nhang, giọt nước mắt đồng cảm xót xa cho thân phận Đạm Tiên  
của Thúy Kiều đã khiến nàng “theo” Kiều để báo mộng cho những “khúc đoạn trường”  
mà Kiều trải qua. Và đó cũng là sự “nhắc nhở” về phận bạc mà Thúy Kiều phải vương  
mang, phải trả, không thể tránh. Vì thế, bóng ma Đạm Tiên dù vô hình, mơ hồ nhưng lại  
có sức nặng khi trở thành “sợi dây” kết nối cho tư tưởng:  
Đau đớn thay phận đàn bà  
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu  
(Nguyễn, 1996, tr. 54)  
Hồn ma Đạm Tiên bốn lần xuất hiện trong truyện, nếu lần đầu chỉ là cảm giác  
trong buổi chiều thanh minh “Ào ào đổ lộc rung cây” thì ba lần sau hiển hiện, rõ ràng  
trong giấc mộng, thậm chí còn để can ngăn Thúy Kiều không được chết để trả nợ:  
Rĩ rằng: nhân quả dở dang,  
Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao  
(Nguyễn, 1996, tr. 131)  
162  
Võ Thị Thùy Dung  
Có thể nói, bóng ma Đạm Tiên đã “đồng hành” cùng nàng Kiều trong bước  
đường lưu lạc như sự đối ứng về thân phận con người. Qua đó, niềm tin vào số trời,  
mệnh trời, vào một thế lực siêu hình càng rõ nét hơn, minh chứng qua số câu Nguyễn  
Du dành cho hai người con gái bạc mệnh “Nguyễn Du đã dành tới 230 câu thơ để tả sự  
liên kết giữa Thúy Kiều và hồn ma Đạm Tiên: Kiều gặp mộ Đạm Tiên (câu 51-116);  
Đạm Tiên hiện về (câu 117-134); Kiều thương cho số phận Đạm Tiên (câu 171-184);  
Kiều mơ gặp Đạm Tiên và buồn cho số phận mình (câu 185-242); Kiều tự tử, Đạm  
Tiên báo mộng (câu 985-1004); Kiều tự tử được cứu, Đạm Tiên báo mộng (câu 2695-  
2738)” (Hoàng, 2010, tr. 54).  
Bàn về niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn sau khi chết, không thể không nhắc  
đến đoạn miêu tả Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân. Nàng Kiều đau đớn cho phận  
mình, xem như mình đã chết sau khi trao duyên, thế nhưng nàng tin cái chết đó vẫn  
chưa chấm dứt nỗi đau, mà nỗi đau đó linh hồn sẽ tiếp tục chịu, bởi đó là linh hồn kẻ  
chết oan, linh hồn không thể siêu thoát:  
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về  
Hồn còn mang nặng lời thề  
(Nguyễn, 1996, tr. 111)  
Dù vậy, niềm an ủi duy nhất của nàng là hi vọng niềm vui nơi cõi âm bởi đã làm  
tròn chữ hiếu, làm vẹn chữ tình “Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây” (Nguyễn,  
1996, tr. 110).  
Ngoài ra, sự kết nối người sống-người chết, cõi âm-cõi dương trong tác phẩm  
thể hiện ở hình thức cầu cúng gọi hồn. Đó là lý do Thúc Sinh nhờ đạo sĩ lập đàn tìm hồn  
nàng Kiều:  
Sắm sanh lễ vật đưa sang,  
Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han  
(Nguyễn, 1996, tr. 189)  
Tương tự, Kim Trọng cũng từng lập đàn chiêu hồn, giải oan cho nàng Kiều. Rõ  
nét hơn là việc tổ chức tang ma, thờ cúng linh hồn người chết. Theo quan niệm dân  
gian, cõi âm cũng không khác gì cõi dương, để linh hồn có thể “sống” tốt ở thế giới bên  
kia, cũng cần cung cấp đủ quần áo, nhà cửa, tiền bạc... bằng giấy tượng trưng, đó là  
nguồn cơn của tục đốt vàng mã khi cúng bái người chết. Điều này có thể thấy rõ qua  
miêu tả về khung cảnh ngày Tết Thanh minh trong Truyện Kiều:  
Ngổn ngang gò đống kéo lên,  
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay  
(Nguyễn, 1996, tr. 51)  
163  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
Với Văn chiêu hồn, Nguyễn Du cũng đề cập đến việc làm cho các cô hồn có thể  
được đầy đủ về vật chất bằng cách “gửi” cho họ chút của mọn lòng thành:  
Gọi là manh áo thoi vàng  
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.  
(Nguyễn, 1996, tr. 408)  
Niềm tin “trần sao âm vậy” đã chi phối việc tổ chức tang ma và các hình thức  
cúng bái, đốt vàng mã cho người chết. Điều này ít nhiều được tái hiện trong các trang  
viết của đại thi hào. Tuy nhiên, nếu trong Truyện Kiều dấu ấn tín ngưỡng thờ linh hồn  
chủ yếu thể hiện qua nhân vật Đạm Tiên thì trong Văn chiêu hồn, thế giới linh hồn được  
khái quát rõ nét hơn. Chính niềm tin sâu sắc vào sự tồn tại linh hồn trở thành nguồn  
mạch cho những dòng Văn chiêu hồn đẫm lệ, chứa chan tình yêu thương của Nguyễn  
Du. Dưới ngòi bút của ông, thế giới ấy có linh hồn đủ mọi kiếp người, khi còn sống, họ  
là mọi hạng người trong xã hội nhưng khi chết đi, ranh giới đã bị xóa nhòa:  
Còn chi ai khá ai hèn  
Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu  
(Nguyễn, 1996, tr. 402)  
Nơi cõi âm, họ gặp nhau ở điểm chung là đều trở thành những cô hồn lang thang  
vất vưởng. Thống kê lại, trong Văn chiêu hồn, “hồn” được nhắc đến bảy lần để miêu tả  
cõi âm với những “hồn đơn phách chiếc”, “hồn mồ côi”, “ma oan hồn”, “hồn ngẩn  
ngơ”, “cô hồn thất thểu”, “cô hồn gửi nhờ tha phương”. Tất cả đều đau khổ, đều rơi  
vào cảnh cô độc “Thở than dưới đất ăn nằm trên sương”.  
Khi viết Văn chiêu hồn, mục đích của Nguyễn Du là cầu mong cho những linh  
hồn cô đơn vất vưởng có thể được siêu thoát. Bởi, theo quan niệm, sau khi chết linh hồn  
sẽ được đi qua Cầu Nại Hà3 để vào đường đầu thai sang một kiếp khác, hoặc có thể lên  
trời, xuống địa ngục tùy thuộc những điều tốt xấu lúc sống làm ra. Tuy nhiên, những  
linh hồn bị chết oan hoặc do vấn đề nào đó chưa được cõi nào tiếp nhận sẽ lang thang  
vất vưởng bụi bờ, phải chịu đói rét lạnh lẽo, vì thế họ được gọi là cô hồn. Điều này được  
Nguyễn Du miêu tả, nhấn mạnh:  
Cô hồn thất thểu dọc ngang  
Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?  
(Nguyễn, 1996, tr. 403)  
3 Cầu Nại Hà là cây cầu ở Địa ngục thứ 10 bắt qua Vong Xuyên và được xem như ranh giới cuối cùng của Địa ngục. Những linh  
hồn sau khi đi qua cầu Nại Hà sẽ phải lựa chọn hoặc là uống một loại nước (canh Mạnh Bà) đề quên đi mọi thứ từ kiếp trước và bắt  
đầu một kiếp mới, hoặc là không uống, nhưng họ sẽ không được đầu thai ngay mà phải chịu đựng nỗi dày vò ngàn năm dưới dòng  
Vong Xuyên (“Nại Hà”, 2020)  
164  
Võ Thị Thùy Dung  
Chính sự oan khiên là nguyên cớ cho sự nặng lòng với trần gian khiến linh hồn  
phải vạ vật khắp chốn, phải “ẩn ngang bờ dọc bụi”, “nương ngọn suối chân mây”, “ngẩn  
ngơ dòng suối rừng sim”, “nhờ đầu suối cuối sông”, “trong quãng đồng không”, “nơi gò  
đống”, “vùng lau tre”. Vì thế, cầu cúng cho những linh hồn đó sẽ tạo chỗ dựa, giúp các  
linh hồn thoát khỏi sự đói khát, cao hơn sẽ tìm được con đường siêu thoát. Trong Văn  
chiêu hồn, Nguyễn Du đã chỉ ra con đường cụ thể là nương nhờ cửa Phật:  
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát  
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi  
Muôn nhờ đức Phật từ bi,  
Giải oan, cứu khổ, hồn về Tây phương  
(Nguyễn, 1996, tr. 402)  
Có ý kiến cho rằng, với tác phẩm này, Nguyễn Du mượn cảm hứng từ lý thuyết  
cứu khổ, cứu nạn của nhà Phật để giải tỏa mọi khổ đau trong dân chúng. Điều này có lẽ  
chỉ hợp lý một phần, phần còn lại, theo chúng tôi, là do chính những suy tư trong đời  
sống tâm linh của nhà thơ đã khiến trái tim đa sầu đa cảm của ông có thể thấu cả những  
nỗi niềm của những bóng, những hình của cõi âm u mịt mờ để từ đó viết nên bài văn tế  
lay động lòng người, xót xa trong từng câu chữ. Đến tận hôm nay, khi khoa học kỹ thuật  
đã phát triển, nhiều “bức màn” bí ẩn đã được khoa học hé mở nhưng niềm tin vào linh  
hồn, vào cõi âm và những thực thể siêu nhiên vẫn hiện diện trong đời sống người dân  
đất Việt. Điều này không khó hiểu bởi khoa học có phát triển đến đâu chăng nữa thì con  
người vẫn phải chấp nhận sự hữu hạn của cuộc đời, vẫn trải qua những bất trắc âu lo mà  
chỉ những điểm tựa về mặt tâm linh mới có thể “giải tỏa” được. Và vì thế, tín ngưỡng  
dân gian nói chung, tín ngưỡng thờ con người với niềm tin vào sự tồn tại linh hồn nói  
riêng sẽ vẫn tồn tại như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa người Việt.  
3.  
VAI TRÒ CỦA SỰ PHẢN ÁNH TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG  
TRUYỆN KIỀU VÀ VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH  
3.1.  
Ở khía cạnh văn học  
Thời đại Nguyễn Du sống là thời đại lịch sử đầy biến động và bản thân cuộc đời  
Nguyễn Du cũng trải qua rất nhiều thăng trầm. Thông qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã  
vẽ nên một bức tranh xã hội phong kiến thối nát, ở đó quyền sống con người bị chà đạp,  
số phận con người thật mong manh, nhỏ bé. Họ bị nhiều thế lực “quăng quật” đến xác  
xơ, tan nát, mà những người phụ nữ, người tài sắc là nạn nhân thê thảm nhất. Những  
tình tiết gắn với tín ngưỡng dân gian được phản ánh trong tác phẩm đã góp phần miêu tả  
tầng sâu đời sống tinh thần, xoáy vào nỗi niềm sâu xa, sự đấu tranh, day dứt của con  
người, cụ thể ở đây là Thúy Kiều khi đứng giữa ranh giới được-mất, sống-còn, khổ đau-  
hạnh phúc, đón nhận-từ bỏ. Đáng nói hơn, chính ranh giới thật ảo đôi lúc bị xóa nhòa đó  
đã giúp nàng Kiều thêm mạnh mẽ để trải 15 năm đoạn trường theo như lời hồn ma Đạm  
Tiên báo trước. Niềm tin “trời cao có mắt” cũng giúp cho nhân vật có những chuyển  
biến, suy tư mang tính tích cực hơn. Và xuyên suốt câu chuyện về cuộc đời nàng Kiều,  
165  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
dầu tác giả không khẳng định, nhưng chính những yếu tố tín ngưỡng dân gian được đưa  
vào tác phẩm đã góp phần đưa tư tưởng “tài mệnh tương đố” “hồng nhan bạc phận” của  
Nguyễn Du trở nên rõ ràng, dễ cảm nhận hơn. Trái với Truyện Kiều, Văn chiêu hồn  
không phải là câu chuyện chứa đựng diễn biến và các tình tiết cụ thể nhưng dường như  
bức tranh cả xã hội loài người với những cảnh đời, những số phận đều lần lượt được  
Nguyễn Du nhắc đến, vẽ nên. Có thể thấy, nếu không mượn hình thức “chiêu hồn”,  
không đưa tín ngưỡng dân gian vào thì có lẽ Nguyễn Du không thể làm nên thành công  
của tác phẩm, bởi thế giới mà Nguyễn Du miêu tả là thế giới thuộc về đời sống tâm linh,  
một thế giới phi thực tế nhưng có thể lay động thế giới thực, thế giới ít người đi sâu, thế  
giới của những phận đời run rẩy đúng như Chế Lan Viên khẳng định “Nghĩ mà xem,  
trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài văn nào đem cái “run rẩy mới” ấy vào văn học. Sau  
“Chiêu hồn”, lại càng không. “Truyện Kiều” nâng cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã  
mở rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai động tới: cõi chết” (Ngô, 1999, tr.  
245).  
Ngoài ra, liên tưởng đến thời đại “dâu bể” mà cuộc đời Nguyễn Du trải qua, có  
lẽ dễ dàng nhận ra tại sao Nguyễn Du viết rất hay, rất thấm về thân phận con người.  
Nhưng dưới “vòng cương tỏa” của xã hội, của những định kiến, liệu rằng tác giả có thể  
nói hết những điều mình nghĩ, mình muốn nói. Câu trả lời là không, và vì thế, những chi  
tiết mang tính huyền ảo của tín ngưỡng dân gian bên cạnh là chất liệu đời sống lại trở  
thành “phương tiện nghệ thuật” không thể thiếu giúp Nguyễn Du gửi gắm tình yêu  
thương, sự xót xa và cả những ước mong hạnh phúc đến các phận người có thể còn sống  
hoặc đã chết nhưng vẫn đau đáu những nỗi niềm nhân tình thế thái. Điều này có thể cảm  
nhận rõ trong cả Truyện Kiều lẫn Văn chiêu hồn, những không gian của đời thực nhưng  
mang yếu tố tâm linh, dễ dàng là nơi để thần thánh, linh hồn và người chết có thể gặp  
nhau, giao cảm như bãi tha ma, đường vắng... những thời gian mà thực ảo khó phân, u u  
minh minh như đêm vắng, chiều tàn.... cũng được Nguyễn Du sử dụng triệt để. Việc kết  
hợp không gian, thời gian cùng với những yếu tố tâm linh đã khiến cả hai tác phẩm, đặc  
biệt Văn chiêu hồn có những đoạn khó phân thực-ảo. Nói ảo nhưng lại rất thực, phản  
ánh hiện thực nhưng dưới hình thức rất ảo. Có thể khẳng định, tín ngưỡng dân gian của  
người Việt đã được ngòi bút của Nguyễn Du “lồng” vào một cách tài tình để giúp tác  
giả có thể chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái tâm của ông đối với mọi kiếp người.  
Và vì thế, cả hai tác phẩm đều làm nên tên tuổi Nguyễn Du, đều được nhớ mãi, bởi  
“Với Kiều, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội loài người, với Chiêu hồn thì cả loài người  
được bàn đến. Truyện Kiều con người lúc sống, Chiêu hồn, con người trong cái chết.  
Truyện Kiều, con người với tên tuổi, cá tính riêng biệt, có không gian sống, có thời gian  
họ qua, Chiêu hồn là cả một cách phổ biến điển hình của từng giới, từng người, từng  
loài được nói đến” (Ngô, 1999, tr. 152).  
3.2.  
Ở khía cạnh văn hóa  
Điều đầu tiên có thể khẳng định là sự phản ánh tín ngưỡng dân gian trong sáng  
tác của Nguyễn Du đã giúp khẳng định dấu ấn văn hóa dân tộc thông qua văn chương.  
Việc tác giả mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để viết nên Truyện Kiều là một  
sự thật, những nhân vật, những địa danh trong tác phẩm mang đậm dấu ấn Trung Quốc  
cũng là điều không thể chối cãi. Tuy nhiên, nếu chỉ có thế, Truyện Kiều không thể trở  
166  
Võ Thị Thùy Dung  
thành “sách gối đầu giường” của biết bao người Việt, và lại càng không thể được khẳng  
định “Truyện Kiều là tác phẩm kỳ diệu của nền văn học Việt Nam, một thi phẩm  
tuyệt vời mang tinh thần dân tộc” (Phạm, 2015). Thật vậy, mượn cốt truyện nhưng điều  
làm nên giá trị Truyện Kiều chính là tinh thần dân tộc, rõ hơn là văn hóa dân tộc, trong  
đó có tín ngưỡng dân gian. Nếu màu sắc của Nho Phật Đạo bàng bạc trong Truyện Kiều  
có thể được xem là ảnh hưởng Trung Quốc thì dấu ấn của tín ngưỡng dân gian như thờ  
nhiên thần, thờ linh hồn với những yếu tố rất riêng như tang ma, cúng bái, cầu khấn,  
nhang khói, lập bàn thờ....lại phản ánh văn hóa người Việt, những con người vốn có đời  
sống tâm linh phong phú, chứa đựng những giá trị văn hóa dân tộc lưu truyền tự bao  
đời. Với Văn chiêu hồn, niềm tin vào những cô hồn lang thang không siêu thoát cần  
được siêu sinh trở thành cơ sở cho tục cúng cô hồn, lập đàn giải oan, cầu hồn... điều này  
không hề xa lạ trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Nhất là trong thời đại  
mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển, còn hạn chế thì niềm tin tín ngưỡng, tin vào các  
thế lực siêu nhiên vừa chứa đựng sự tôn kính vừa xen lẫn nỗi sợ hãi phổ biến không chỉ  
trong tầng lớp bình dân mà còn đối với cả các tầng lớp khác. Thật ra, xét một cách  
khách quan, đó chính là sự tương tác, là văn hóa ứng xử của con người với con người,  
con người với môi trường xung quanh nhằm tạo nền tảng vững chắc để có thể sinh tồn  
suốt tiến trình lịch sử. Truyện Kiều, Văn chiêu hồn vì thế trở nên gần gũi với mọi người  
dân Việt bởi mỗi người đều có thể nhìn thấy bóng dáng đời sống tinh thần mình, thấy  
niềm tin, thấy cách hành xử của dân tộc mình trong đó nhằm có điểm tựa tinh thần để  
đối mặt với những bất trắc trong cuộc đời. Hình thức bói Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều...  
hay dùng Văn chiêu hồn để làm văn cúng trong đời sống văn hóa người Việt là dấu ấn  
rõ nhất cho giá trị văn hóa của hai tác phẩm mang tầm thời đại này.  
Bên cạnh đó, có thể thấy tín ngưỡng dân gian tồn tại trong đời sống văn hóa tâm  
linh không chỉ là điểm tựa mà còn chứa đựng những chuẩn mực đạo đức, bài học về  
triết lý nhân quả để hướng thiện, giúp con người sống tốt đẹp hơn, mạnh mẽ đối diện  
khó khăn và thử thách. Với niềm tin về các vị thần cai quản, trong đó có Trời, người  
Việt hình thành cách ứng xử luôn hướng về Trời, tin ở Trời. Trong Truyện Kiều, những  
câu thơ phản ánh sự chi phối của Trời khá nhiều, nhất là trong những lúc niềm tin bị  
đánh mất, khi rơi vào cùng cực khổ đau, khi không thể thấu được lòng người thì niềm  
tin “trời cao có mắt” luôn hiển hiện để con người sống đúng, như nàng Kiều tin rằng  
tâm mình được “Chứng minh có đất có trời”, “Dưới dày có đất, trên cao có trời” mới  
có thể tiếp tục trải qua những tháng ngày tủi nhục. Chính Kim Trọng khi đoàn viên cùng  
Thúy Kiều cũng khẳng định: “Trời còn để có hôm nay...” (Nguyễn, 1996, tr. 293).  
Qua những khổ đau, mất mát, con người sẽ được hưởng niềm vui hạnh phúc là  
do trời, nhờ trời thấu hiểu và đền trả xứng đáng. Có thể thấy tin vào mệnh trời ở đây  
không hề yếm thế mà ngược lại, hướng con người sống tích cực, sống đẹp hơn và mạnh  
mẽ hơn.  
Không những thế, niềm tin vào linh hồn đã giáo dục cách ứng xử có tình, có  
nghĩa sau khi người sống đã khuất. Nhất là trong Văn chiêu hồn, việc lập đàn giải oan  
cho các cô hồn lang thang, vất vưởng không nơi nương tựa bên cạnh niềm tin giúp  
những linh hồn ấy có thể siêu thoát thì ẩn sâu lại là một cách giáo dục độc đáo. Đó là  
khi sống có thể là đủ mọi loại người, có hiền có dữ, có lành có ác nhưng khi đã khuất thì  
167  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN]  
ai cũng như ai, đều đáng được xót thương cứu giúp. Điều này phản ánh rõ tư duy của  
người Việt “nghĩa tử là nghĩa tận”, khi đã khuất chuyện không tốt không nhắc đến, điều  
còn lại chỉ là tình cảm, là sự xót thương:  
Năm năm xương trắng dãi dầu  
Nào câu điếu tế, nào đâu chưng thường!  
(Nguyễn, 1996, tr. 404)  
Ngoài ra, việc cầu hồn lập đàn giải oan như trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn  
lại cũng là một cách giáo dục người đang sống, đó là giúp những người đã khuất, dù  
xấu, vẫn có cơ hội “làm lại cuộc đời”, dẫu có gặp oan khiên gì cũng sẽ được giải. Nói  
khác hơn, cách lập đàn giải oan cho mọi kiếp người không phân chính tà, tốt xấu là ứng  
xử theo đức khoan dung, giải mà không kết. Hơn thế, những hình thức liên quan đến  
niềm tin vào linh hồn như tổ chức tang ma, thờ cúng, thăm mồ mả, cầu cúng trong  
Truyện Kiều cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa người sống và người chết, đồng thời tạo  
sự cộng cảm giữa con người với nhau. Bên cạnh đó còn là cách giáo dục con người về  
đạo hiếu, về lòng biết ơn với ông bà tổ tiên và những người đã khuất. Điều này đúng với  
tinh thần và quan điểm “uống nước nhớ nguồn” tồn tại như một nét đẹp trong dòng chảy  
văn hóa suốt bao đời của người Việt Nam.  
4.  
KẾT LUẬN  
Có thể khẳng định, giá trị tác phẩm văn chương không hẳn nằm ở mặt nội dung  
và nghệ thuật mà cao hơn, nằm ở tầm văn hóa. Tác phẩm muốn có sự trường tồn cần  
phải mang chứa tinh thần, văn hóa của dân tộc. Cả Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của  
Nguyễn Du đều làm được điều đó theo cách rất riêng. Người đọc thương Kiều, xót xa  
cho Kiều không chỉ bởi cuộc đời chìm nổi thăng trầm của nàng, đau đớn cho những cô  
hồn không chỉ bởi họ lang thang đói rét vất vưởng mà dưới ngòi bút Nguyễn Du, chúng  
ta nhận ra dường như có bóng dáng con người mình trong đó, những suy tư, cách ứng  
xử của mình trong đó. Bởi, để làm rõ quan niệm “Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”,  
Nguyễn Du đã mượn tín ngưỡng dân gian của người Việt như chất liệu quan trọng để  
khắc họa nên những phận đời thăng trầm chìm nổi. Bằng tài năng của mình, niềm tin  
vào các thế lực siêu nhiên, vào sự tồn tại của linh hồn con người sau khi chết trong tín  
ngưỡng dân gian người Việt được Nguyễn Du lồng ghép, miêu tả vừa tài tình vừa tinh  
tế. Vì thế, đã phát huy tác dụng tối đa khi đem lại ý nghĩa rất riêng cho mỗi tác phẩm  
nhưng lại tạo sự gần gũi chung cho mọi người đọc. Nói khác hơn, sức sống lâu bền và  
giá trị của Truyện Kiều, của Văn chiêu hồn có phần đến từ điểm tựa là tín ngưỡng dân  
gian. Ngược lại, qua hai tác phẩm, tín ngưỡng dân gian lại càng được khẳng định vai  
trò, vị thế không chỉ trong văn học mà còn trong dòng chảy văn hóa của cả dân tộc.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
Đào, D. A. (1974). Từ điển Truyện Kiều. NXB. Khoa học Xã hội.  
168  
Võ Thị Thùy Dung  
Đỗ, T. H. (Biên khảo). (2006). Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan  
học giả L. Cadiere chủ bút tạp chí Bulletin Des Amis Du Vieux Hue Đô Thành  
Hiếu Cổ (1914-1944). NXB Thuận Hóa.  
Hoàng, T. T. X. (2010). Văn hóa tâm linh trong “Truyện Kiều” và “Văn chiêu hồn”  
của Nguyễn Du [Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học, Đại học Sư phạm TP  
HCM].  
Mai, T. H. (2006). Từ điển tín ngưỡng tôn giáo. NXB. Văn hóa thông tin.  
Nại Hà. (2020). Trong Wikipedia. https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1i_H%  
C3%A0  
Ngô, V. D. (Tuyển chọn và biên tập). (1999). Đến với những chân dung Truyện Kiều.  
NXB. Thanh Niên.  
Ngô, Đ. T. (Chủ biên). (2012). Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam. NXB.  
Trẻ.  
Nguyễn, Q. T. (Hiệu đính và chú giải). (1996). Nguyễn Du toàn tập (tập 2). NXB. Văn  
học.  
Nguyễn, T. N. (2004). Bản chất và đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền  
Phạm, Đ. Q. (2015). Về những thủ pháp trong nghệ thuật văn chương truyện Kiều.  
NXB. Thanh niên.  
Tylor, E. B. (2001). Văn hóa nguyên thủy. NXB. Văn hóa nghệ thuật.  
169  
pdf 15 trang baolam 34600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tín ngưỡng dân gian trong Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftin_nguong_dan_gian_trong_truyen_kieu_va_van_te_thap_loai_ch.pdf