Từ thực tiễn dạy học tiếng Việt cho học sinh miền núi, đề xuất việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở trường sư phạm

TỪ THỰC TIỄN  
DẠY HỌC TIẾNG  
VIỆT CHO HỌC  
SINH MIỀN NÖI, ĐỀ  
XUẤT VIỆC ĐỔI  
MỚI ĐÀO TẠO, BỒI  
DƢỠNG GIÁO VIÊN  
Trƣờng Phổ thông DTBT  
THCS Na Ngoi, huyện  
Kỳ Sơn, Nghệ An  
Điện thoại: 0942906777  
Email:  
Ở
TRƢỜNG SƢ  
ThS. LÃ THỊ THANH  
PHẠM  
HUYỀN  
TÓM TẮT  
Từ thực trạng của việc dạy học Tiếng Việt ở trƣờng trung học cơ sở huyện vùng cao  
Kỳ Sơn (Nghệ An), bài viết đề xuất một số giải pháp về tuyển sinh và chƣơng trình đào  
tạo, thực hiện các chế độ chính sách đối với giáo viên,… nhằm đổi mới công tác đào  
tạo, bồi dƣỡng giáo viên, đáp ứng yêu cầu thực tế của các trƣờng phổ thông ở vùng núi,  
vùng dân tộc ít ngƣời.  
Từ khoá: dạy học tiếng Việt, học sinh miền núi, trƣờng sƣ phạm, đổi mới, đào  
tạo giáo viên  
ABSTRACT  
Recommendations for teacher training and retraining innovation in pedagogical  
institutions from Vietnamese language teaching practice in mountainous regional schools  
From the real situation of Vietnamese language teaching at junior high schools  
in upland Ky Son district (Nghe An province), the article recommends a number of  
solutions on enrollment and training programs, policy implementation for teachers, etc.  
in order to promote innovation in teacher training and retraining, which in turn helps  
meet the actual needs of the high schools in mountainous and ethnic monority areas.  
Key words: Vietnamese language teaching, mountainous students, pedagogical  
institutions, innovation, teacher training  
1.  
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI đã khẳng định  
nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục (GD) và đào tạo (ĐT), đáp ứng yêu cầu  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ  
nghĩa và hội nhập quốc tế. GD hiện nay đang chuyển từ chú trọng trang bị kiến thức  
(nâng cao dân trí) sang tập trung phát triển năng lực và phẩm chất ngƣời học (năng lực  
783  
công dân); phát triển GD-ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội; ƣu tiên  
đầu tƣ phát triển GD vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc  
thiểu số và các đối tƣợng diện chính sách,... Đối với việc đổi mới dạy học môn Ngữ văn  
ở trƣờng phổ thông, nhiều ý kiến của các nhà khoa học đã nhấn mạnh việc nâng cao  
nhận thức về vị trí, vai trò của dạy học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông, xác định các năng  
lực cần hình thành cho học sinh (HS), bám sát phƣơng châm tích hợp và phân hóa, đổi  
mới phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lƣợng ĐT và bồi dƣỡng  
giáo viên (GV),...  
2. Thực trạng dạy học tiếng Việt cho học sinh miền núi và đề xuất giải pháp đổi  
mới đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên  
2.1. Môn Ngữ văn và việc dạy học tiếng Việt ở trường trung học cơ sở  
Là một bộ phận quan trọng của môn Ngữ văn, việc dạy học tiếng Việt (TV)  
trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay ngày càng đƣợc coi trọng, đã góp phần vào việc  
nâng cao kỹ năng (KN) sử dụng ngôn ngữ, giúp HS hình thành những năng lực của con  
ngƣời mới, tiếp tục học lên hoặc tham gia vào lao động, sản xuất. Tuy nhiên, trong thời  
gian qua, cùng với những kết quả đáng ghi nhận, việc dạy học môn Ngữ văn nói chung  
và dạy học TV nói riêng vẫn còn nhiều bất cập. Chất lƣợng, hiệu quả của việc rèn luyện  
KN sử dụng TV cho HS trung học cơ sở (THCS) là một trong những hạn chế đó. Điều  
đó lại càng khó khăn hơn đối với các trƣờng THCS vùng sâu, vùng cao, vùng đồng bào  
dân tộc ít ngƣời, trong đó có huyện biên giới Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.  
Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện tốt một hoạt động trong  
một điều kiện nhất định, trên cơ sở hiểu biết của bản thân nhằm đạt đƣợc mục đích đề  
ra. Rèn luyện KN sử dụng TV là một hoạt động trong quá trình dạy học hoặc GD, trong  
đó, ngƣời học đã đƣợc cung cấp những tri thức cơ bản về hệ thống TV, đƣợc thực hành  
rèn luyện và vận dụng thuần thục vào quá trình giao tiếp, sử dụng. Việc rèn luyện KN  
sử dụng TV trong dạy học môn Ngữ văn ở trƣờng THCS là nhằm thực hiện mục tiêu  
của môn học, phù hợp với nguyên tắc tích hợp của môn Ngữ văn và đặc điểm tâm sinh  
lý của học sinh THCS, phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực sƣ phạm của đội ngũ  
GV hiện nay.  
2.2. Thực trạng của việc dạy học tiếng Việt, dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS  
huyện biên giới Kỳ Sơn  
- Kỳ Sơn là một trong ba huyện vùng cao của Nghệ An đƣợc xếp nghèo nhất  
nƣớc, có đƣờng biên giới với Lào dài 192km. Kỳ Sơn chủ yếu là núi, trong đó có nhiều  
dãy núi cao, hiểm trở, hệ thống sông suối khá dày, địa hình phức tạp, nguy hiểm, giao  
thông đi lại khó khăn. Dân số 66.000 ngƣời, chủ yếu là dân tộc Thái, H'Mông và Khơ  
mú, còn ngƣời Kinh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với các dân tộc khác trong huyện. Huyện Kỳ  
784  
Sơn đƣợc hƣởng các chế độ ƣu đãi theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008  
của Chỉnh phủ về chƣơng trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện  
nghèo. Năm học 2013-2014, huyện Kỳ Sơn có 24 trƣờng Mầm non, 29 trƣờng Tiểu học  
và 18 trƣờng THCS với tổng số 21.250 HS, trong đó có 20.430 HS dân tộc thiểu số  
(chiếm 96,16%). Chất lƣợng GD toàn diện của huyện Kỳ Sơn còn một số yếu kém; tình  
trạng HS bỏ học, ghép lớp, ngồi nhầm lớp còn khá phổ biến; cơ sở vật chất, thiết bị dạy  
học và đời sống cán bộ, GV còn nhiều thiếu thốn, khó khăn.  
- Khác với HS miền xuôi, trƣớc khi đến trƣờng, đa số HS ngƣời dân tộc thiểu số ở  
Kỳ Sơn chƣa biết sử dụng TV. Điều này bắt nguồn từ đời sống của đồng bào dân tộc  
vùng cao, ít đƣợc tiếp xúc với các phƣơng tiện thông tin đại chúng, tâm lý sử dụng tiếng  
mẹ đẻ nhƣ là một bản năng tự nhiên. Các chƣơng trình sinh hoạt cộng đồng, những lần  
hội họp, giao lƣu kinh tế – xã hội đƣợc ngƣời địa phƣơng sử dụng tiếng dân tộc. Tập  
quán này tồn tại trong gia đình, làng bản và đƣợc HS ngƣời dân tộc mang đến trƣờng.  
Nếu TV đƣợc sử dụng trong giờ học, thì khi rời trƣờng lớp, các em lại sử dụng tiếng mẹ  
đẻ. Đến trƣờng trong tâm thế thụ động, khác biệt về ngôn ngữ, về nguồn gốc, hoàn cảnh  
sống, khiến cho việc học tập của HS gặp nhiều khó khăn, các em rất ngại phải giao tiếp  
bằng TV, lo sợ phát biểu trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với GV ngoài lớp học,  
“sợ” phải đến trƣờng. Vốn TV ít ỏi của HS làm hạn chế quá trình tiếp nhận kiến thức  
không chỉ môn TV mà với các môn học khác, ảnh hƣởng đến sự phát triển tƣ duy của  
các em. Ở trƣờng, khi học trên lớp, HS đƣợc nghe GV giảng bài (có lúc phải dùng cả 2  
thứ tiếng để HS hiểu đƣợc nội dung bài dạy), đƣợc luyện đọc nhƣng không hiểu nội  
dung bài đọc; đƣợc luyện viết nhƣng chỉ luyện để viết đúng con chữ mà không thể viết  
thành bài văn hoàn chỉnh đƣợc. Về với gia đình và cộng đồng, các em lại sống trong  
môi trƣờng thuần tiếng dân tộc, vốn TV tạm thời bị chìm vào dạng tiềm năng.  
- Năng lực sử dụng TV của HS THCS huyện Kỳ Sơn đã đạt đƣợc những kết quả  
cơ bản, nhƣng vẫn còn nhiều bất cập cần phải giải quyết. Điều đó đƣợc thể hiện ở nhận  
thức về dạy học TV vẫn bị bị coi nhẹ, chiếu lệ, đối phó, hình thức. Phƣơng pháp dạy  
học TV cho HS qua môn Ngữ văn chậm đổi mới, không đƣợc cá biệt hóa để phù hợp  
với đối tƣợng học sinh dân tộc, chỉ áp dụng các thao tác thông thƣờng của một giờ dạy  
học Ngữ văn cho học sinh nói chung. Yêu cầu rèn luyện KN đối với HS bị bỏ qua trong  
tiến trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá tiếng Việt của HS vì thế cũng đƣợc làm một  
cách đối phó. Tình trạng chạy theo thành tích, HS ngồi nhầm lớp không phải là cá biệt.  
Khả năng sử dụng TV của học sinh trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là giao tiếp ngoài  
gia đình vì thế càng bị hạn chế.  
Chúng tôi lấy ví dụ, về phát âm, do ảnh hƣởng của tiếng mẹ đẻ nên HS phát âm  
sai ở hầu hết dấu thanh và phần vần; có một số vùng phát âm sai một số âm đầu. HS dân  
tộc Khơ-Mú thƣờng nói các tiếng có thanh /huyền, sắc, ngã, nặng/ thành thanh /không/  
785  
còn tiếng có thanh /không/ thành thanh /nặng/. HS dân tộc Thái nói tiếng có thanh /ngã/  
thành thanh /sắc/; trẻ em dân tộc Mông phát âm tiếng có vần /ơn/ thành /ƣn/ (trơn thành  
trƣn), vần /anh/ thành /ăn. Lỗi phát âm này do ảnh hƣởng tiếng mẹ đẻ nên sẽ rất khó  
chỉnh sửa (nếu không nói là không sửa chữa đƣợc) nếu không đƣợc uốn nắn từ các lớp  
trƣớc thì sẽ gây nhiều khó khăn cho GV ở bậc THCS. Trong những năm gần đây, mặc  
dù phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số đã học qua lớp mẫu giáo để làm quen TV nhƣng  
nhìn chung, vốn từ và kỹ năng nghe, nói của các em vẫn chỉ dừng lại ở những dạng câu  
thông thƣờng, đơn giản,...  
2.3. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc dạy học môn Ngữ văn, dạy học  
tiếng Việt còn nhiều bất cập  
- Nội dung, chƣơng trình, sách giáo khoa môn Ngữ văn đang đƣợc dùng chung  
cho tất cả các đối tƣợng HS, trong đó có HS dân tộc, miền núi. Trong khi đó, nhiều HS  
dân tộc ở huyện Kỳ Sơn từ bậc tiểu học lên bậc THCS còn chƣa đọc thông viết thạo, là  
một trở ngại khi các em lại phải tiếp tục học tập những tri thức, kỹ năng mới ở bậc học  
cao hơn.  
- Các trƣờng THCS, các tổ chuyên môn và GV chƣa linh hoạt, sáng tạo trong  
việc bám sát đối tƣợng để cụ thể hóa kế hoạch dạy học. Có một số bài dạy kiến thức  
nhiều nhƣng chỉ có thời lƣợng từ 45 – 90 phút trên lớp nên HS khó tiếp thu. Đối với HS  
dân tộc ở Kỳ Sơn, việc GV tối giản nội dung một cách chính xác, đơn giản, ngắn gọn,  
phù hợp với trình độ của HS là vô cùng quan trọng và cần thiết. Một số GV còn lúng  
túng trong sử dụng phƣơng pháp dạy học, chƣa biết tạo hứng thú cho HS, chƣa cá biệt  
hóa và tổ chức hoạt động nhóm theo đối tƣợng HS. Vì vậy, phải dạy học những nội  
dung HS cần song song với việc dạy những nội dung chƣơng trình quy định.  
- Trình độ và khả năng am hiểu đối tƣợng HS, trong đó có việc am hiểu tiếng  
dân tộc là những khó khăn của nhiều GV. Đội ngũ GV Ngữ văn cũng nhƣ các GV bộ  
môn khác cần phải tự trau dồi tiếng dân tộc mà HS đang sử dụng, GV càng thông thạo  
tiếng dân tộc càng thuận lợi khi truyền tải kiến thức cho HS nói tiếng dân tộc đó, để có  
thể đồng thời chuyển dịch tri thức, KN từ TV sang tiếng Thái, KhơMú, H'mông hoặc  
ngƣợc lại. Điều này không chỉ phụ thuộc vào ý chí, điều kiện của GV mà phụ thuộc rất  
lớn vào kế hoạch vĩ mô của các cấp quản lý GD, của các trƣờng sƣ phạm.  
- Sự quan tâm của gia đình, của làng bản đối với việc học tập của HS chƣa cao;  
trình độ dân trí thấp, một số thói quen tập quán lạc hậu đã cản trở đến việc học tập của  
HS. Động cơ, ý thức học TV cũng chƣa đƣợc gia đình, cộng đồng ngƣời dân tộc trong  
cụm dân cƣ chú ý. Các cấp quản lý giáo dục chƣa chú ý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho  
HS dân tộc cho GV, chƣa chú ý đảm bảo các điều kiện đời sống vật chất của GV vùng  
sâu, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số.  
786  
2.4. Một số đề xuất về việc đổi mới đào tạo giáo viên, đáp ứng yêu cầu thực tế của các  
trường phổ thông ở vùng núi, vùng dân tộc ít người  
2.4.1. Bên cạnh việc đạt chuẩn đầu ra nói chung, các cơ sở ĐT GV phối hợp với các cơ  
quan quản lý GD cần bồi dƣỡng, bổ sung, nâng cao trình độ, kỹ năng giáo dục HS dân  
tộc cho sinh viên Ngữ văn.  
Nhƣ đã nói, nếu GV am hiểu địa bàn, am hiểu đối tƣợng HS dân tộc hoặc là  
ngƣời dân tộc, biết tiếng dân tộc, sẽ có rất nhiều thuận lợi trong hoạt động dạy học và  
hoạt động GD. Hiện nay, các cơ sở ĐT GV, khi tuyển sinh đầu vào các ngành sƣ phạm,  
đã căn cứ vào điểm sàn và các hƣớng dẫn về chế độ ƣu tiên. Tuy nhiên, từ thực trạng  
nhiều năm công tác ở huyện Kỳ Sơn, chúng tôi thấy nhà nƣớc và ngành GD nên tăng  
cƣờng tuyển sinh đối tƣợng sinh viên sƣ phạm là ngƣời dân tộc. Việc tuyển sinh đầu  
vào là ngƣời dân tộc có thể gây khó khăn bƣớc đầu cho quá trình ĐT ở các trƣờng sƣ  
phạm, nhƣng sẽ tạo thuận lợi cơ bản, bền vững cho việc nâng cao chất lƣợng GD ở  
miền núi, là tiền đề để nâng cao chất lƣợng GD nói chung. Việc đƣa GV miền xuôi,  
thành phố lên miền núi hoặc biệt phái một vài năm không giải quyết đƣợc vấn đề căn  
bản bởi trong nhận thức GV luôn có tƣ tƣởng tạm bợ. Nhiều GV đã làm quen đƣợc môi  
trƣờng, khí hậu, con ngƣời,... đến khi có thể có những sáng kiến, những biện pháp GD  
phù hợp với đối tƣợng HS của mình thì lại vì nhiều lý do đã phải di chuyển. Chính vì  
vậy, tuổi đời của GV miền núi rất trẻ (GV THCS của huyện Kỳ Sơn có độ tuổi dƣới 35  
là 411/476, tỷ lệ 86,34%). Nghị quyết số 30/A/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính  
phủ về Chƣơng trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo  
cũng đã khẳng định chính sách GD, nâng cao mặt bằng dân trí, việc tăng cƣờng, mở  
rộng chính sách ĐT ƣu đãi theo hình thức cử tuyển và theo địa chỉ cho HS ngƣời dân  
tộc thiểu số, chính sách ĐT cán bộ tại chỗ,...  
Một trong những khó khăn của các trƣờng sƣ phạm hiện nay là sinh viên dân  
tộc, miền núi có tỷ lệ đạt chuẩn của chƣơng trình ĐT theo tín chỉ tƣơng đối thấp. Hơn  
nữa, việc bố trí thực hành, thực tập cho sinh viên sƣ phạm đến với các trƣờng vùng sâu,  
vùng xa, vùng dân tộc tƣơng đối khó khăn. Vì vậy, trong chƣơng trình ĐT, không chỉ  
cung cấp tri thức mà cần tăng cƣờng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên, bồi  
dƣỡng phƣơng pháp cá thể hóa, chuyển dạy học chủ yếu cung cấp tri thức sang chủ yếu  
hình thành năng lực công dân. Việc các trƣờng sƣ phạm tách đối tƣợng 30a thành một  
lớp (sĩ số ít) riêng sẽ gây tốn kém cho cơ sở ĐT, nhƣng sẽ đảm bảo lợi ích toàn diện, lâu  
dài, bền vững. Kết hợp chặt chẽ việc ĐT theo địa chỉ, theo đối tƣợng 30a với các hoạt  
động tình nguyện của sinh viên trong việc góp phần phát triển kinh tế – xã hội của vùng  
núi, vùng dân tộc thiểu số. Hoạt động ĐT sau đại học, nghiên cứu khoa học nên ƣu tiên  
vào việc nghiên cứu, triển khai các đề tài luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu,… liên  
quan đến hoạt động GD cho HS miền núi, vùng dân tộc.  
787  
2.4.2. Các trƣờng sƣ phạm, các cấp quản lý giáo dục cần có biện pháp để bồi dƣỡng tri  
thức, kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc cho GV dạy học ở các trƣờng vùng cao, vùng dân  
tộc.  
Đa số GV ngƣời Kinh ở nơi khác đến giảng dạy ở huyện có đồng bào dân tộc  
đều không biết tiếng dân tộc, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ rất ít nên họ không  
thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học và GD.  
Về phong tục tập quán, lối sống, phong cách sản xuất,… cũng có nhiều GV không hiểu,  
không nắm bắt đƣợc tạo nên khoảng cách, không tiếp cận đƣợc với phụ huynh, HS, với  
đồng bào dân tộc. Thực tế đã chứng minh, ở các vùng dân tộc thiểu số, nếu một GV có  
trình độ đào tạo cao đẳng, nhƣng biết sử dụng tiếng dân tộc thì chất lƣợng, hiệu quả  
hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học sẽ cao hơn so với các GV có trình độ đại học  
hoặc sau đại học. Vì vậy, năng lực sử dụng tiếng dân tộc là một trong những phẩm chất  
cần có của GV dạy học ở vùng dân tộc thiểu số. Điều này không chỉ đƣợc thực hiện ở  
các trƣờng sƣ phạm, các cơ quan quản lý GD mà bản thân GV trong mỗi trƣờng có thể  
dạy cho nhau về tiếng dân tộc, truyền bá, trao đổi kinh nghiệm về lối sống, phong tục,  
tín ngƣỡng ở địa phƣơng. Một số trƣờng THCS nhƣ Mƣờng Lống, Na Ngoi,… (Kỳ  
Sơn) có một số GV là ngƣời địa phƣơng rất tích cực hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình cách  
giao tiếp nên nhiều GV ngƣời Kinh sử dụng thành thạo tiếng dân tộc Mông. Tuy nhiên,  
để có hiệu quả hơn, cần có những chủ trƣơng cụ thể, khả thi của các cấp chính quyền,  
các cơ quan quản lý GD, tránh việc hô hào, phó mặc. Đây là một trong những nội dung  
mà các trƣờng sƣ phạm phối hợp với các Sở, Phòng Giáo dục phải tổ chức bổ sung, cập  
nhật trong chƣơng trình ĐT, bồi dƣỡng GV.  
2.4.3. Tiếp tục đổi mới chƣơng trình, tài liệu học tập, nâng cao việc dạy học tự chọn, nội  
dung địa phƣơng, tạo hứng thú học tập TV cho HS.  
Việc sử dụng chƣơng trình, sách giáo khoa đại trà cho HS các vùng núi cao,  
vùng dân tộc thiểu số sẽ không phát huy hiệu quả, nếu không biết lựa chọn nội dung cần  
thiết, phù hợp. Trình độ HS dân tộc từ tiểu học đã chƣa đủ để tiếp thu tri thức, kỹ năng,  
bồi dƣỡng nhân cách theo yêu cầu chung của chƣơng trình THCS. Kết quả là, để đảm  
bảo yêu cầu của trƣờng, của Phòng, Sở về tỷ lệ HS lên lớp, để đảm bảo sĩ số HS của  
trƣờng, GV buộc phải cho lên lớp, phải cho ngồi nhầm lớp,… Và yếu kém bậc học  
trƣớc là nguyên nhân cho yếu kém của bậc học sau, tạo thành một vòng luẩn quẩn có hệ  
thống cho đến đại học,… Rồi đại học lại ĐT GV,…, GV đƣợc ĐT về dạy ở các trƣờng  
miền núi… Vì vậy, các trƣờng sƣ phạm phải tham mƣu, tƣ vấn, giúp đỡ các trƣờng học,  
các cơ quan quản lý GD địa phƣơng để cụ thể hóa chƣơng trình dạy học, biên soạn nội  
dung dạy học tự chọn, giáo trình dạy học địa phƣơng,… cho các huyện vùng cao, vùng  
dân tộc, thậm chí cho từng trƣờng cụ thể. Theo chúng tôi, điều này cũng không phải khó  
khăn gì: hàng năm, các trƣờng đại học sƣ phạm có hàng trăm đề tài nghiên cứu cấp  
788  
khoa, cấp trƣờng, đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ,… nên ƣu tiên hƣớng về nội dung này.  
Đó cũng là yêu cầu mà chƣơng trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 phải đƣợc  
đổi mới, điều chỉnh để phù hợp với trình độ, năng lực và đặc điểm tâm lý lứa tuổi của  
HS dân tộc miền núi.  
2.4.4. Tích cực tham mƣu, tƣ vấn cho các cấp chính quyền, tổ chức, đoàn thể để phát  
triển kinh tế – xã hội ở vùng cao, vùng dân tộc, vận động HS đến trƣờng, chống trình  
trạng bỏ học, thất học, mù chữ.  
Để phát triển GD vùng sâu, vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số một cách bền  
vững, giải pháp quan trọng nhất và đầu tiên nhất là phải phát triển kinh tế - xã hội, xóa  
đói giảm nghèo, nâng cao trình độ nhận thức và đời sống vật chất, tinh thần để làm nền  
tảng cho GD. Đó là trách nhiệm của các cấp chính quyền, của các ngành, của các cơ  
quan quản lý GD, trong đó có các trƣờng sƣ phạm. Ở các huyện miền Tây Nghệ An,  
trong nhiều năm qua, Trƣờng Đại học Vinh và một số trƣờng ĐH-CĐ đã thực hiện một  
số chƣơng trình, dự án nghiên cứu xóa đói giảm nghèo với các mô hình phát triển nông  
– lâm – ngƣ, về xây dựng các khu sinh thái, về chƣơng trình hỗ trợ vùng sâu, vùng cao,  
sinh viên tình nguyện,… đã góp phần phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao  
nhận thức cho đồng bào dân tộc về vai trò của tri thức, của GD trong việc xây dựng  
cuộc sống của từng gia đình, từng bản, từng dân tộc. Vì vậy, trƣờng sƣ phạm phải thực  
hiện tốt công tác tuyển sinh, ĐT, bồi dƣỡng GV theo Nghị quyết số 30/A/2008/NQ-CP  
ngày 27/12/2008 của Chính phủ; các cấp chính quyền phải thực hiện tốt Nghị định  
115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về việc quy định trách nhiệm quản lý  
nhà nƣớc về GD.  
3. Việc nâng cao chất lƣợng dạy học TV, dạy học môn Ngữ văn và chất lƣợng GD toàn  
diện cho HS con em dân tộc thiểu số có tác dụng về nhiều phƣơng diện. Đó là quá trình  
tích hợp giữa việc cung cấp những tri thức, kỹ năng cơ bản của môn học, vừa là quá  
trình rèn luyện kỹ năng mềm cho HS, để trình độ, năng lực toàn diện của các em theo  
kịp với HS miền xuôi, cũng là góp phần thực hiện chính sách dân tộc miền núi. Trong  
quá trình tích hợp nhiều mục tiêu đó, ngƣời GV phải bám sát nguyên tắc GD, nguyên  
tắc phát triển, nguyên tắc khả thi trong hoạt động GD và dạy học, phải phù hợp với đối  
tƣợng HS, vốn tri thức, vốn sống, cách tƣ duy của HS dân tộc thiểu số. Vì vậy, phải có  
những yêu cầu toàn diện đối với ngƣời GV; phải đƣợc cụ thể hóa trong việc việc đổi  
mới chƣơng trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 cũng nhƣ thực hiện nhiệm  
vụ đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT. Điều đó, không chỉ có trách nhiệm của các  
trƣờng sƣ phạm mà còn phụ thuộc vào các cơ chế, chính sách của ngành GD, của các  
cấp chính quyền, đoàn thể và toàn xã hội nói chung.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
789  
1. Bộ GD & ĐT (2013), Thông báo số 43/TB-BGD ĐT ngày 14/01/2013 về kết quả hội  
thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trƣờng phổ thông Việt Nam, Hà Nội.  
2. Dự án PT GV THPT & THCN – Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 (2013), Giáo  
trình Tiếng Việt (dành cho học sinh dân tộc thiểu số hệ Dự bị đại học), NXB Đại học  
Cần Thơ.  
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội  
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo  
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế  
thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,  
790  
pdf 8 trang baolam 20200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Từ thực tiễn dạy học tiếng Việt cho học sinh miền núi, đề xuất việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở trường sư phạm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_thuc_tien_day_hoc_tieng_viet_cho_hoc_sinh_mien_nui_de_xua.pdf