Tri thức dân gian trong lao động sản xuất được phản ánh qua tục ngữ Tày
No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.98-103
DOI:
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
TRI THỨC DÂN GIAN TRONG LAO ĐỘNG SẢN XUẤT
ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ TÀY
Hà Thị Chuyên1*
1 Đại học Tân Trào
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Khảo sát tri thức dân gian nhằm giới thiệu, bảo tồn, phát huy những kinh
nghiệm quý báu của đồng bào dân tộc Tày đang là một nhu cầu cấp bách. Bởi
ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Tày nói
riêng đang đứng trước nguy cơ mang tính toàn cầu đó sự mai một và tiêu vong.
Khảo sát tri thức dân gian về lao động, sản xuất trong tục ngữ Tày thông qua
các ấn phẩm đã được xuất bản cho thấy đồng bào thường quan tâm đến những
kinh nghiệm về dự báo thời tiết, mùa vụ, trồng trọt, chăn nuôi,… Những tri
thức dân gian này cần được lựa chọn để truyền dạy cho con em đồng bào dân
tộc Tày nói riêng và cộng đồng nói chung.
Ngày nhận bài:
15/7/2020
Ngày duyệt đăng:
20/9/2020
Từ khóa:
tri thức, dân gian, lao
động, sản xuất, tục ngữ Tày
1. Mở đầu
Tri thức dân gian (hay tri thức bản địa, tri thức địa
Để có cơ sở về mặt định lượng cho việc nghiên
phương) được hiểu theo nghĩa rộng là: các truyền cứu chúng tôi tiến hành khảo sát 2251 câu tục ngữ
thống lâu đời, kinh nghiệm, thực tiễn sống của một chúng tôi thấy rằng đồng bào dành sự quan tâm nhiều
cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, đến các phương diện như: thời tiết, mùa vụ, trồng trọt,
đời sống, tư duy của cộng đồng đó. Tri thức dân gian chăn nuôi, buôn bán…
được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, người này
2. Nội dung
qua người khác, thông qua truyện kể, huyền thoại, văn
2.1. Thời tiết
học dân gian, các nghi lễ, lễ thức, tập quán, lề thói,
Nông nghiệp của người Tày trước kia phụ thuộc
quy định, luật tục. Đồng bào dân tộc Tày vốn là những
hoàn toàn vào tự nhiên. Vì vậy, thời tiết có ý nghĩa hết
cư dân nông nghiệp. Do vậy, để có một vụ mùa được
sức quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của đồng
thu hoạch, họ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công
bào. Trước mỗi vụ trồng trọt, đồng bào thường quan
sức. Khi khoa học và các phương tiện thông tin đại
sát môi trường xung quanh để đưa ra những dự báo
chúng chưa phát triển, đồng bào chủ yếu dựa vào việc
thời tiết góp phần tạo nên những mùa vụ bội thu. Khảo
quan sát sự biến chuyển của vạn vật, từ năm này qua
sát các căn cứ đưa ra dự báo thời tiết được đồng bào
năm khác, sđời này qua đời khác để phát hiện ra các
dân tộc Tày sử dụng trong tục ngữ chúng tôi thu được
quy luật tự nhiên. Những quy luật ấy được đồng bào
kết quả sau:
tích lũy thành vốn tri thức dân gian.
1
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103
Bảng 1 Căn cứ đưa ra các dự báo thời tiết
Căn cứ dự báo
STT
Tần số
1.
2.
sấm
trời
33
11
3.
mây
10
5
3
1
4
3
3
2
2
2
2
2
1
1
1
1
1
1
2
1
1
1
4
Thiên tượng
4.
sao
5.
gió
6.
cầu vồng
hoãng
diều hâu
cuốc
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
cóc
ếch
hươu
nai
Động vật
ong
nhái
Vật tượng
trâu
kiến
quang quýnh
cá
con thiêu thân
cây gạo
mắc mặt
mác foòng
cây lai
Thực vật
lửa
Căn cứ khác
26.
27.
vòng sắt
2
2
vòng đồng
Tổng
102
Qua bảng 1, chúng tôi thấy rằng, đồng bào dân tộc dự báo. Trong các hiện tượng tự nhiên sấm là yếu tố
Tày căn cứ vào rất nhiều phương diện khác nhau để được đồng bào sử dụng nhiều nhất 33/ 102 lượt dùng.
đưa các dự báo về thời tiết. Trong đó, thiên tượng là Người Tày sử dụng tiếng sấm để dự báo thời thời tiết
phương diện thường được đồng bào căn cứ để đưa các bởi đồng bào quan niệm sấm là trống của trời. Bằng
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103
- Lồm pảo cón bấu phân/ Lai đao bân fạ đét (Gió
kinh nghiệm của mình đồng bào dân tộc Tày đã đúc
rút được: fạ đăng cón bấu luổn phân (trời sấm trước
không hay mưa) [3, tr. 139]. Sấm trước khi mưa thì
lượng mưa nhỏ, thời gian mưa ngắn, cục bộ, đôi khi là
bên này đường thì mưa mà bên kia đường thì nắng.
Hiện tượng này được khoa học giải thích là do khu
thổi trước không mưa / Đêm nhiều sao ngày nắng.) [3.
Tr. 153]
Ngoài căn cứ vào thiên tượng, đồng bào dân tộc
Tày còn căn cứ vào vật tượng để đưa ra các dự báo về
thời tiết. Trong các vật tượng dùng để dự báo thời tiết
vực đó chịu nhiệt nóng không đồng đều hình thành. đồng bào dân tộc Tày sử dụng động vật nhiều hơn
thực vật. Các loài động vật hoang dã như: hoẵng,
hươu, diều hâu, cuốc, ếch… chiếm ưu thế tuyệt đối so
với các loài vật nuôi gia đình.
Ngược lại, nếu mưa rồi mới có sấm chớp thì trận mưa
đó sẽ to do nhiệt độ thấp sự ngưng tụ cao. Thời điểm
xuất hiện tiếng sấm cũng là cơ sở để đồng bào Tày dự
báo thời tiết Fạ đăng bươn chiêng phiêng lắt lý/ Fạ
đăng bươn nhỉ chí thau mằn/ Fạ đăng bươn slam ham
dủng doảng (Trời sấm tháng giêng nước tràn ngập/
Trời sấm tháng hai gỡ dây lang/ Trời sấm tháng ba
khiêng đàng hoàng, không vội vã) [3, tr. 138]
Trong các vật tượng dùng để dự báo thời tiết
hoẵng có tần số cao hơn cả.
- Nạn khóc vạ đét/ Quang keéc vạ phân (Hoãng kêu
trời nắng/ Hươu kêu trời mưa) [3, tr. 158]
- Nạn khuô vạ đét/ Quang ket fạ phân (Hoãng cười
trời nắng/ Hươu giác trời mưa) [3, tr. 158]
Ngoài căn cứ vào tiếng sấm để dự báo thời tiết
người Tày còn quan sát các đám mây, màu sắc của
mây, sự lưu chuyển của đám mây trên bầu trời, ánh
sáng mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hương vị của gió
trong không khí để có thể đoán biết được diễn biến
thời tiết.
Ngoài quan sát các loài thú trên rừng thì đồng
bào dân tộc Tày còn quan sát sự vật động của những
loài vật gần gũi với sinh hoạt như: ếch, nhái, chim…
- Cốp khuyết loỏn fạ phân/ Lẳm quạ bân fạ đét
(Ếch nhái kêu trời mưa/ Diều hâu lượn cao trời nắng)
[3, tr. 135]
Fạ kết pja lẻ phân/ Fạ kết hên lẻ đét (Trời có mây
hình vẩy cá thì mưa/ Trời có mây hình vẩy beo thì
nắng) [3, tr.139]
- Mèng mẩu khẩu dắp đén nhao nhao / Bấu lồm tố
phân bấu quá đai (Thiêu thân thi nhau lao vào đèn/
Không gió cũng mưa chắc chắn.) [ 3, tr 155]
Thời tiết không chỉ được đồng bào dân tộc Tày dự
đoán thông qua quan sát các hiện tượng xung quanh
mà đồng bào còn quan tâm đến các hiện tượng. Qua
khảo sát các phương diện dự báo thời tiết trong tục
ngữ dân tộc Tày chúng tôi thu được kết quả sau:
Ngoài việc quan sát mây để đưa ra các dự báo về
thời tiết thì đồng bào dân tộc Tày còn căn cứ vào gió.
- Lồm bưởng băc lẻ phân/ Lồm bưởng đông lẻ đet.
(Gió hướng bắc thì mưa/ Gió hướng đông thì nắng.)
[3, tr. 153]
Bảng 2. Các hiện tượng thời tiết được đồng bào dự báo qua tục ngữ
Các hiện tượng Tần số STT Các hiện tượng
ST
Tần số
T
1
2
3
4
5
Mưa
29
6
Được mùa
5
4
Lũ lụt
Nắng
Rét
14
13
12
11
7
8
9
Mất mùa
Nóng
2
Gió to
Tổng
2
Hạn hán
92
Qua bảng 2, chúng tôi thấy rằng, trong tục ngữ Tày,
Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng số lượng các câu
hiện tượng mưa được đồng bào đề cập đến nhiều nhất, tục ngữ phản ánh hiện tượng thời tiết rét có tần số sử
sau đó là lũ lụt. Điều này có lẽ xuất phát từ thực tế sản dụng không nhỏ. Những câu tục ngữ phản ánh hiện
xuất, bởi người Tày vốn là những cư dân nông nghiệp. tượng thời tiết rét góp phần phản ánh đặc điểm cư trú
Mà trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nước là yếu của người Tày. Họ sống chủ yếu ở trung du và miền
tố hàng đầu ảnh hưởng tới quá trình sản xuất.
núi phía Bắc nước ta. Nơi có hai kiểu thời tiết phân
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103
hóa rõ rệt là nóng và rét. Điều này làm nên đặc trưng nà quá hạ chí/Slí tháp ngám đảy gòn (Cấy lúa sau hạ
riêng biệt cho tục ngữ của họ. Một nét riêng biệt nữa chí/mười gánh mới được một dậu). Tiết Hạ chí vào
về thời tiết được phản ánh trong tục ngữ Tày đó là các tháng 5 âm lịch là thời điểm giữa của mùa hạ. Bán cầu
tri thức về thời tiết biển hoàn toàn không được phản Bắc vào thời gian tiết hạ chí sẽ ngả về phía mặt trời
ánh. Điều này có thể được lí giải do không gian sinh nhiều hơn so với bán cầu Nam. Chính vì vậy, nước ta
sống của người Tày xa biển.
2.2. Mùa vụ
nhận lượng bức xạ lớn, ngày dài hơn đêm. Đây là thời
điểm tốt nhất cho sự phát triển của cây lúa. Nếu đồng
bào cấy muộn sau tháng 5 thì tiết trời chuyển sang thu,
nhiệt độ hạ dần, ánh sáng kém làm lúa phát triển yếu,
thỉnh thoảng có đợt gió mùa đông bắc nhiệt độ dưới
18 độ sẽ hạn chế lúa ra đòng, thụ phấn yếu, hạt lép dẫn
tới năng suất kém.
Sống hòa mình với thiên nhiên, các hiện tượng gần
gũi như: quả chín, hoa nở, mùa lá…đã trở thành dấu
hiệu để người Tày nhận biết thời điểm canh tác.
Đồng bào dân tộc Tày cư trú ở miền núi phía Bắc
nước ta, nơi có diện tích rừng khá lớn. Do vậy, đồng
bào thường căn cứ vào dấu hiệu mùa quả chín để dự
báo nông vụ: “Mác lót rường hang, mương phai lèo
chướng” (quả nhót đỏ trôn, mương phai lo sửa). Quả
nhót thường chín vào cuối tháng 2 âm lịch. Đây là thời
điểm vùng núi phía Bắc nước ta bước sang mùa xuân
khí hậu dần ấp áp. Do vậy, đồng bào cần chuẩn bị cho
một vụ mùa mới. Ngoài dựa vào mùa quả nhót chín thì
để dự báo mùa vụ người Tày còn dựa vào một số loại
quả đặc trưng của vùng như: Mác phầy ốt rù đăng ván
chả, mác phầy cắm hăm mạ đăm nà” (quả dâu da vừa
lỗ mũi gieo mạ, dâu da tím dái ngựa cấy lúa). Dâu da
chín bắt đầu từ tháng 3 tới hết tháng 5 âm lịch. Thời
điểm này thời tiết nóng và mưa nhiều, ngày dài (nhiều
ánh sáng), rất thuận lợi cho việc làm đất. Đồng bào
dân tộc Tày thường gieo mạ vào tháng 3, nhưng cũng
có năm thời tiết thất thường, tháng 3 vẫn rét chưa gieo
mạ được. Do vậy, để có thể xác định chính xác thời
gian gieo mạ đồng bào dân tộc Tày thường quan sát
kích thước quả dâu da, vì quả dâu da đủ nhiệt độ, độ
ẩm, ánh sáng thì nó mới phát triển.
Ngoài việc xác định mùa vụ, trong tục ngữ, người
Tày còn đúc kết được kinh nghiệm chọn giống sao cho
thích hợp với thời tiết: Gẳm bươn pét slíp hả/Rủng
đây đăm co lả/Láp lá đăm co thua (Đêm 15 tháng
8/trăng sáng trong trồng giống lúa muộn/trăng sáng
mờ mờ cấy giống lúa sớm). Đồng bào dân tộc Tày căn
cứ vào ánh trăng rằm tháng 8 để chọn giống lúa, nếu
trăng tròn vành vạnh, ánh sáng trong thì vụ tới cần
chọn giống lúa muộn để cấy còn trăng chỉ sáng mờ mờ
thì nên chọn giống lúa sớm để cấy.
Tục ngữ Tày không chỉ đúc rút kinh nghiệm trồng
lúa mà còn đưa ra những kinh nghiêm trồng một số
loại cấy khác: Bươn chiêng nẳm qua tặng/ Slí hả ván
thúa ngà (Tháng giêng trồng dưa leo /Tháng tư, tháng
năm gieo vừng đỗ) [3, tr. 192]. Cây vừng là loại cây
nhiệt đới, ưa khí hậu nóng ẩm. Do vậy, mỗi vùng miền
ở nước ta sẽ có thời điểm gieo trồng khác nhau. Theo
quan niệm của đồng bào Tày, thời vụ thích hợp nhất
để trồng là tháng 4 – tháng 5.
Như vây, qua tục ngữ đồng bào dân tộc Tày đã đúc
rút được nhiều kinh nghiệm về thời điểm gieo trồng
hiệu quả. Nhưng kinh nghiệm ấy đã được thế hệ con
em đồng bào thực hành trong sản xuất và góp phần
mang lại cuộc sống no ấm cho người Tày.
Đồng bào dân tộc Tày không chỉ căn cứ vào mùa
quả chín để xác định nông lịch mà còn căn cứ vào
những loại cây đặc trưng cho vùng trung du và miền
núi phía Bắc: Bâư xâu kheo/ Noọng slao dá lỉn (Lá
xau xau xanh/ Con gái chớ đi chơi) [3, tr. 188]. Cây
xau xau là loại cây thân gỗ, thường mọc trên rừng. Khi
mùa xuân sang, cây nẩy lộc, đâm chồi rất mạnh. Ngoài
căn cứ vào xau xau thì đồng bào dân tộc Tày còn căn
cứ vào một số loài hoa đặc trưng: Bjoóc cháu tốc tỉ /
Khẩu tẩy slỉa tôm (Hoa chẩu rơi / Ngô vãi đất) [3, tr
189]. Cứ vào độ tháng 3 tháng 4, hoa chẩu lại bung nở
với vô vàn những bông trắng muốt, tinh khôi. Nó làm
bừng sáng cả núi rừng và đó cũng là dấu hiệu để đồng
bào dân tộc Tày bắt đầu một mùa tra ngô.
2.3. Trồng trọt
Trong nông nghiệp kĩ thuật trồng trọt là yếu tố cốt
lõi. Do vậy, kinh nghiệm về trồng trọt là một phần
không thể thiếu trong tục ngữ Tày.
Đồng bào thường truyền nhau kinh nghiệm canh
tác: rẩy óm chà, nà óm nặm (rẫy ủ cành, ruộng dầm
nước), nghĩa là làm rẫy thì ủ cành lá cho mục, cho khô
để đốt lấy tro làm phân bón cho cây trồng; còn làm
ruộng thì ngâm nước cho đất ngấu. Khi làm đất đồng
bào quan niệm: Thây nà lập đông, khẩu thuổm chang
tổng, lậm cằn nưa phưa cằn tẩư (cày ruộng lập đông,
lúa ngập đầy đồng, nặng trĩu đan nhau bờ trên bờ
dưới)… Trong trồng trọt, đồng bào dân tộc Tày không
Để xác định nông vụ ngoài căn cứ vào những dấu
hiệu như: quả chín, hoa nở, mùa lá… đồng bào dân
tộc Tày còn căn cứ các tiết khí trong nông lịch: Đăm
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103
chỉ chú trọng kĩ thuật làm đất mà họ còn rất quan tâm nông nghiệp nên trong điều kiện sản xuất chưa phát
đến kĩ thuật trồng slíp co lả bấu tấng hả co hua (mười triển thì trâu, bò là sức kéo không thể thay thế. Ngoài
cây mạ cấy muộn không bằng năm cây mạ cấy sớm); ra địa bàn cư trú của người Tày chủ yếu ở vùng núi,
Đăm nà tẳm ngoảng á, khẩu bấu quá ngài chiêng nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều dốc, phương
(Cấy ruộng tới lúc ve ran, gạo không qua cơm tết).
tiện đi lại hiện đại còn hạn chế nên từ xa xưa đồng bào
chủ yếu dùng sức người và sức ngựa. Do vậy, ngựa trở
thành phương tiện giao thông nhanh, tiện lợi và phù
hợp nhất. Lợn là vật nuôi để cung cấp thực phẩm cho
bữa ăn hằng ngày, đồng thời cũng là con vật dùng để
hiến tế trong các nghi lễ quan trọng.
Phân bón đóng góp không nhỏ cho sự sinh trưởng
của cây lúa, tập quán làm phân, ủ phân đã được đồng
bào dân tộc Tày sử dụng thành thạo: Khủn lồng cằn
nưa/ Khẩu phưa cằn tâử (Phân bón bờ trên/ Lúa ken
bờ dưới) [3, tr.238]; Đăm chay lèo pỏn khỉ/ Khẩu bắp
chắng đảy chình (Trồng, cấy phải bón phân / Ngô lúa
mới bội phần) [3, tr. 211].
3. Kết luận
Tri thức dân gian về lao động, sản xuất được phản
Đồng bào dân tộc Tày canh tác song hành ruộng ánh qua tục ngữ Tày là vốn kinh nghiệm vô cùng quý
nước và nương rẫy. Với mỗi loại hình canh tác đồng báu mà đồng bào muốn truyền dạy cho con cháu.
bào có kĩ thuật canh tác riêng: Hết rẩy ốm chà, hết nà Trong đó, đồng bào đã đưa ra những dự báo về thời
ốm nặm (Làm nương phải dấm lá cây, làm ruộng phải tiết dựa trên thiên tượng, dự báo mùa vụ căn cứ vào
ngâm nước) [3,tr. 226]; Lảy đảy bươn lẻ quà / Nà đảy các hiện tượng gần gũi như: quả chín, hoa nở, mùa lá,
bươn lả quát (Rẫy đày tháng làm cỏ/ Ruộng được các tiết khí trong nông lịch. Để mùa vụ bội thu đồng
tháng sục bùn) [3, tr 241]
bào truyền cho con cái những kinh nghiệm về làm đất,
thời điểm và kĩ thuật canh tác. Trong chăn nuôi, đồng
bào đã đúc rút kinh nghiệm chọn giống trâu, bò, ngựa,
lợn... căn cứ trên các đặc điểm về giới tính và hình
thức. Những tri thức dân gian này được đúc kết ngắn
gọn, hàm súc và có giá trị lâu bền không chỉ trong sản
xuất của người Tày mà có thể áp dụng rộng rãi.
Những kinh nghiệm về trồng trọt được đúc kết qua
tục ngữ là nguồn tài liệu nông học quan trọng được
đồng bào dân tộc Tày truyền từ đời này qua đời khác.
Nó như kim chỉ nam cho hoạt động trồng trọt của
đồng bào dân tộc Tày.
2.4. Chăn nuôi
References
Cũng giống như nhiều dân tộc khác, người Tày
trong quá trình sinh sống ngoài tích lũy kinh nghiệm
về hoạt động trồng trọt còn tích lũy được không ít
kinh nghiệm chăn nuôi, săn bắn.
1. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic
Minorities, Volume 1, Social Science Publishing
House, 2013.
2. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic
Minorities, Volume 2, Social Science Publishing
House, 2013.
Để chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao thì việc lựa
chọn vật nuôi đòi hỏi phải có kinh nghiệm từ khâu chọn
giống đến chăm sóc. Trong khâu chọn giống, đồng bào
chú trọng nhiều tới việc lựa chọn con cái: Vài mè lẻ xa
3. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic
tua toọng tòa (Trâu cái giống thì chọn con bụng to ) Minorities, Volume 3, Social Science Publishing
[3, tr. 107]; Xa lùa chiêm tái, dự vài chiêm mẻ (Kén House, 2013.
dâu xem bà mẹ, kén trâu giống xem con cái.) [3, tr.
4. Trieu An, Hoang Quyet, Dictionary of idioms
109]; Mu mè chẻ xu lình (Nuôi lợn sề thiến như mộc
and proverbs of the Tay ethnic, National Cultural
nhĩ ngâm) [3, tr.92].
Publishing House, 1996.
Chọn giống vật nuôi ngoài căn cứ vào đặc điểm
5. Hoang Quyet, Hoang Trieu An, Idioms,
giới tính thì đồng bào dân tộc Tày còn dựa vào các
proverbs, folk songs of Tay ethnic , Culture and
yếu tố về hình thức: Bấu dảo mò khẻo lài/ Bấu tạu wài
Information Publishing House, 2014.
khẻo phước (Không nuôi bò răng vằn/ Không tậu trâu
6. Do Huu Chau, Vietnamese Vocabulary -
răng đen.) [3, tr. 73]; Mạ khúy xa tua ấc pháng (ngựa
Semantics, Education Publishing House, 1999.
cưỡi cần tìm con rộng ngực) [3, tr. 89].
7. Dinh Trong Lac, Nguyen Thai Hoa, Vietnamese
Trong tục ngữ Tày kinh nghiệm chọn giống vật
Language Learning Style, Education Publishing
nuôi được đồng bào tập trung phản ánh là chọn trâu,
House, 1996.
bò, ngựa, lợn… Điều này có lẽ bởi người Tày nói
riêng và người Việt nói chung vốn là những cư dân
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103
FOLK KNOWLEDGE IN PRODUCTION REFLECTED
IN TAY ETHNIC’S PROVERBS
Article info
Abstract
Surveying folk knowledge in order to introduce, preserve and promote valuable
experiences of the Tay ethnic is an urgent need. Because the language and culture
of the ethnic minorities in general and Tay ethnic in particular are facing that
global risk of lost gradually and perish. Surveying folk knowledge about labor and
production in Tay ethnic’s proverbs, through published publications shows that
people often pay attention to experiences in weather forecasting, seasons,
cultivation, and breeding… These folk knowledge should be selected to teach
children of the Tay ethnic in particular and the community in general.
Recieved:
15/7/2020
Accepted:
20/9/2020
Keywords:
folk, knowledge,
prodution, labor, Tay
ethnic’s proverbs.
Bạn đang xem tài liệu "Tri thức dân gian trong lao động sản xuất được phản ánh qua tục ngữ Tày", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tri_thuc_dan_gian_trong_lao_dong_san_xuat_duoc_phan_anh_qua.pdf

