Tri thức dân gian trong lao động sản xuất được phản ánh qua tục ngữ Tày

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.98-103  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
TRI THỨC DÂN GIAN TRONG LAO ĐỘNG SẢN XUẤT  
ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ TÀY  
Hà Thị Chuyên1*  
1 Đại học Tân Trào  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Khảo sát tri thức dân gian nhằm giới thiệu, bảo tồn, phát huy những kinh  
nghiệm quý báu của đồng bào dân tộc Tày đang là một nhu cầu cấp bách. Bởi  
ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Tày nói  
riêng đang đứng trước nguy cơ mang tính toàn cầu đó sự mai một và tiêu vong.  
Khảo sát tri thức dân gian về lao động, sản xuất trong tục ngữ Tày thông qua  
các ấn phẩm đã được xuất bản cho thấy đồng bào thường quan tâm đến những  
kinh nghiệm về dự báo thời tiết, mùa vụ, trồng trọt, chăn nuôi,… Những tri  
thức dân gian này cần được lựa chọn để truyền dạy cho con em đồng bào dân  
tộc Tày nói riêng và cộng đồng nói chung.  
Ngày nhận bài:  
15/7/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
tri thức, dân gian, lao  
động, sản xuất, tục ngữ Tày  
1. Mở đầu  
Tri thức dân gian (hay tri thức bản địa, tri thức địa  
Để có cơ sở về mặt định lượng cho việc nghiên  
phương) được hiểu theo nghĩa rộng là: các truyền cứu chúng tôi tiến hành khảo sát 2251 câu tục ngữ  
thống lâu đời, kinh nghiệm, thực tiễn sống của một chúng tôi thấy rằng đồng bào dành sự quan tâm nhiều  
cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, đến các phương diện như: thời tiết, mùa vụ, trồng trọt,  
đời sống, tư duy của cộng đồng đó. Tri thức dân gian chăn nuôi, buôn bán…  
được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, người này  
2. Nội dung  
qua người khác, thông qua truyện kể, huyền thoại, văn  
2.1. Thời tiết  
học dân gian, các nghi lễ, lễ thức, tập quán, lề thói,  
Nông nghiệp của người Tày trước kia phụ thuộc  
quy định, luật tục. Đồng bào dân tộc Tày vốn là những  
hoàn toàn vào tự nhiên. Vì vậy, thời tiết có ý nghĩa hết  
cư dân nông nghiệp. Do vậy, để có một vụ mùa được  
sức quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của đồng  
thu hoạch, họ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công  
bào. Trước mỗi vụ trồng trọt, đồng bào thường quan  
sức. Khi khoa học và các phương tiện thông tin đại  
sát môi trường xung quanh để đưa ra những dự báo  
chúng chưa phát triển, đồng bào chủ yếu dựa vào việc  
thời tiết góp phần tạo nên những mùa vụ bội thu. Khảo  
quan sát sự biến chuyển của vạn vật, từ năm này qua  
sát các căn cứ đưa ra dự báo thời tiết được đồng bào  
năm khác, sđời này qua đời khác để phát hiện ra các  
dân tộc Tày sử dụng trong tục ngữ chúng tôi thu được  
quy luật tự nhiên. Những quy luật ấy được đồng bào  
kết quả sau:  
tích lũy thành vốn tri thức dân gian.  
1
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103  
Bảng 1 Căn cứ đưa ra các dự báo thời tiết  
Căn cứ dự báo  
STT  
Tần số  
1.  
2.  
sấm  
trời  
33  
11  
3.  
mây  
10  
5
3
1
4
3
3
2
2
2
2
2
1
1
1
1
1
1
2
1
1
1
4
Thiên tượng  
4.  
sao  
5.  
gió  
6.  
cầu vồng  
hoãng  
diều hâu  
cuốc  
7.  
8.  
9.  
10.  
11.  
12.  
13.  
14.  
15.  
16.  
17.  
18.  
19.  
20.  
21.  
22.  
23.  
24.  
25.  
cóc  
ếch  
hươu  
nai  
Động vật  
ong  
nhái  
Vật tượng  
trâu  
kiến  
quang quýnh  
cá  
con thiêu thân  
cây gạo  
mắc mặt  
mác foòng  
cây lai  
Thực vật  
lửa  
Căn cứ khác  
26.  
27.  
vòng sắt  
2
2
vòng đồng  
Tổng  
102  
Qua bảng 1, chúng tôi thấy rằng, đồng bào dân tộc dự báo. Trong các hiện tượng tự nhiên sấm là yếu tố  
Tày căn cứ vào rất nhiều phương diện khác nhau để được đồng bào sử dụng nhiều nhất 33/ 102 lượt dùng.  
đưa các dự báo về thời tiết. Trong đó, thiên tượng là Người Tày sử dụng tiếng sấm để dự báo thời thời tiết  
phương diện thường được đồng bào căn cứ để đưa các bởi đồng bào quan niệm sấm là trống của trời. Bằng  
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103  
- Lồm pảo cón bấu phân/ Lai đao bân fạ đét (Gió  
kinh nghiệm của mình đồng bào dân tộc Tày đã đúc  
rút được: fạ đăng cón bấu luổn phân (trời sấm trước  
không hay mưa) [3, tr. 139]. Sấm trước khi mưa thì  
lượng mưa nhỏ, thời gian mưa ngắn, cục bộ, đôi khi là  
bên này đường thì mưa mà bên kia đường thì nắng.  
Hiện tượng này được khoa học giải thích là do khu  
thổi trước không mưa / Đêm nhiều sao ngày nắng.) [3.  
Tr. 153]  
Ngoài căn cứ vào thiên tượng, đồng bào dân tộc  
Tày còn căn cứ vào vật tượng để đưa ra các dự báo về  
thời tiết. Trong các vật tượng dùng để dự báo thời tiết  
vực đó chịu nhiệt nóng không đồng đều hình thành. đồng bào dân tộc Tày sử dụng động vật nhiều hơn  
thực vật. Các loài động vật hoang dã như: hoẵng,  
hươu, diều hâu, cuốc, ếch… chiếm ưu thế tuyệt đối so  
với các loài vật nuôi gia đình.  
Ngược lại, nếu mưa rồi mới có sấm chớp thì trận mưa  
đó sẽ to do nhiệt độ thấp sự ngưng tụ cao. Thời điểm  
xuất hiện tiếng sấm cũng là cơ sở để đồng bào Tày dự  
báo thời tiết Fạ đăng bươn chiêng phiêng lắt lý/ Fạ  
đăng bươn nhỉ chí thau mằn/ Fạ đăng bươn slam ham  
dủng doảng (Trời sấm tháng giêng nước tràn ngập/  
Trời sấm tháng hai gỡ dây lang/ Trời sấm tháng ba  
khiêng đàng hoàng, không vội vã) [3, tr. 138]  
Trong các vật tượng dùng để dự báo thời tiết  
hoẵng có tần số cao hơn cả.  
- Nạn khóc vạ đét/ Quang keéc vạ phân (Hoãng kêu  
trời nắng/ Hươu kêu trời mưa) [3, tr. 158]  
- Nạn khuô vạ đét/ Quang ket fạ phân (Hoãng cười  
trời nắng/ Hươu giác trời mưa) [3, tr. 158]  
Ngoài căn cứ vào tiếng sấm để dự báo thời tiết  
người Tày còn quan sát các đám mây, màu sắc của  
mây, sự lưu chuyển của đám mây trên bầu trời, ánh  
sáng mặt trời, mặt trăng, các vì sao, hương vị của gió  
trong không khí để có thể đoán biết được diễn biến  
thời tiết.  
Ngoài quan sát các loài thú trên rừng thì đồng  
bào dân tộc Tày còn quan sát sự vật động của những  
loài vật gần gũi với sinh hoạt như: ếch, nhái, chim…  
- Cốp khuyết loỏn fạ phân/ Lẳm quạ bân fạ đét  
(Ếch nhái kêu trời mưa/ Diều hâu lượn cao trời nắng)  
[3, tr. 135]  
Fạ kết pja lẻ phân/ Fạ kết hên lẻ đét (Trời có mây  
hình vẩy cá thì mưa/ Trời có mây hình vẩy beo thì  
nắng) [3, tr.139]  
- Mèng mẩu khẩu dắp đén nhao nhao / Bấu lồm tố  
phân bấu quá đai (Thiêu thân thi nhau lao vào đèn/  
Không gió cũng mưa chắc chắn.) [ 3, tr 155]  
Thời tiết không chỉ được đồng bào dân tộc Tày dự  
đoán thông qua quan sát các hiện tượng xung quanh  
mà đồng bào còn quan tâm đến các hiện tượng. Qua  
khảo sát các phương diện dự báo thời tiết trong tục  
ngữ dân tộc Tày chúng tôi thu được kết quả sau:  
Ngoài việc quan sát mây để đưa ra các dự báo về  
thời tiết thì đồng bào dân tộc Tày còn căn cứ vào gió.  
- Lồm bưởng băc lẻ phân/ Lồm bưởng đông lẻ đet.  
(Gió hướng bắc thì mưa/ Gió hướng đông thì nắng.)  
[3, tr. 153]  
Bảng 2. Các hiện tượng thời tiết được đồng bào dự báo qua tục ngữ  
Các hiện tượng Tần số STT Các hiện tượng  
ST  
Tần số  
T
1
2
3
4
5
Mưa  
29  
6
Được mùa  
5
4
Lũ lụt  
Nắng  
Rét  
14  
13  
12  
11  
7
8
9
Mất mùa  
Nóng  
2
Gió to  
Tổng  
2
Hạn hán  
92  
Qua bảng 2, chúng tôi thấy rằng, trong tục ngữ Tày,  
Qua khảo sát chúng tôi thấy rằng số lượng các câu  
hiện tượng mưa được đồng bào đề cập đến nhiều nhất, tục ngữ phản ánh hiện tượng thời tiết rét có tần số sử  
sau đó là lũ lụt. Điều này có lẽ xuất phát từ thực tế sản dụng không nhỏ. Những câu tục ngữ phản ánh hiện  
xuất, bởi người Tày vốn là những cư dân nông nghiệp. tượng thời tiết rét góp phần phản ánh đặc điểm cư trú  
Mà trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nước là yếu của người Tày. Họ sống chủ yếu ở trung du và miền  
tố hàng đầu ảnh hưởng tới quá trình sản xuất.  
núi phía Bắc nước ta. Nơi có hai kiểu thời tiết phân  
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103  
hóa rõ rệt là nóng và rét. Điều này làm nên đặc trưng nà quá hạ chí/Slí tháp ngám đảy gòn (Cấy lúa sau hạ  
riêng biệt cho tục ngữ của họ. Một nét riêng biệt nữa chí/mười gánh mới được một dậu). Tiết Hạ chí vào  
về thời tiết được phản ánh trong tục ngữ Tày đó là các tháng 5 âm lịch là thời điểm giữa của mùa hạ. Bán cầu  
tri thức về thời tiết biển hoàn toàn không được phản Bắc vào thời gian tiết hạ chí sẽ ngả về phía mặt trời  
ánh. Điều này có thể được lí giải do không gian sinh nhiều hơn so với bán cầu Nam. Chính vì vậy, nước ta  
sống của người Tày xa biển.  
2.2. Mùa vụ  
nhận lượng bức xạ lớn, ngày dài hơn đêm. Đây là thời  
điểm tốt nhất cho sự phát triển của cây lúa. Nếu đồng  
bào cấy muộn sau tháng 5 thì tiết trời chuyển sang thu,  
nhiệt độ hạ dần, ánh sáng kém làm lúa phát triển yếu,  
thỉnh thoảng có đợt gió mùa đông bắc nhiệt độ dưới  
18 độ sẽ hạn chế lúa ra đòng, thụ phấn yếu, hạt lép dẫn  
tới năng suất kém.  
Sống hòa mình với thiên nhiên, các hiện tượng gần  
gũi như: quả chín, hoa nở, mùa lá…đã trở thành dấu  
hiệu để người Tày nhận biết thời điểm canh tác.  
Đồng bào dân tộc Tày cư trú ở miền núi phía Bắc  
nước ta, nơi có diện tích rừng khá lớn. Do vậy, đồng  
bào thường căn cứ vào dấu hiệu mùa quả chín để dự  
báo nông vụ: “Mác lót rường hang, mương phai lèo  
chướng” (quả nhót đỏ trôn, mương phai lo sửa). Quả  
nhót thường chín vào cuối tháng 2 âm lịch. Đây là thời  
điểm vùng núi phía Bắc nước ta bước sang mùa xuân  
khí hậu dần ấp áp. Do vậy, đồng bào cần chuẩn bị cho  
một vụ mùa mới. Ngoài dựa vào mùa quả nhót chín thì  
để dự báo mùa vụ người Tày còn dựa vào một số loại  
quả đặc trưng của vùng như: Mác phầy ốt rù đăng ván  
chả, mác phầy cắm hăm mạ đăm nà” (quả dâu da vừa  
lỗ mũi gieo mạ, dâu da tím dái ngựa cấy lúa). Dâu da  
chín bắt đầu từ tháng 3 tới hết tháng 5 âm lịch. Thời  
điểm này thời tiết nóng và mưa nhiều, ngày dài (nhiều  
ánh sáng), rất thuận lợi cho việc làm đất. Đồng bào  
dân tộc Tày thường gieo mạ vào tháng 3, nhưng cũng  
có năm thời tiết thất thường, tháng 3 vẫn rét chưa gieo  
mạ được. Do vậy, để có thể xác định chính xác thời  
gian gieo mạ đồng bào dân tộc Tày thường quan sát  
kích thước quả dâu da, vì quả dâu da đủ nhiệt độ, độ  
ẩm, ánh sáng thì nó mới phát triển.  
Ngoài việc xác định mùa vụ, trong tục ngữ, người  
Tày còn đúc kết được kinh nghiệm chọn giống sao cho  
thích hợp với thời tiết: Gẳm bươn pét slíp hả/Rủng  
đây đăm co lả/Láp lá đăm co thua (Đêm 15 tháng  
8/trăng sáng trong trồng giống lúa muộn/trăng sáng  
mờ mờ cấy giống lúa sớm). Đồng bào dân tộc Tày căn  
cứ vào ánh trăng rằm tháng 8 để chọn giống lúa, nếu  
trăng tròn vành vạnh, ánh sáng trong thì vụ tới cần  
chọn giống lúa muộn để cấy còn trăng chỉ sáng mờ mờ  
thì nên chọn giống lúa sớm để cấy.  
Tục ngữ Tày không chỉ đúc rút kinh nghiệm trồng  
lúa mà còn đưa ra những kinh nghiêm trồng một số  
loại cấy khác: Bươn chiêng nẳm qua tặng/ Slí hả ván  
thúa ngà (Tháng giêng trồng dưa leo /Tháng tư, tháng  
năm gieo vừng đỗ) [3, tr. 192]. Cây vừng là loại cây  
nhiệt đới, ưa khí hậu nóng ẩm. Do vậy, mỗi vùng miền  
ở nước ta sẽ có thời điểm gieo trồng khác nhau. Theo  
quan niệm của đồng bào Tày, thời vụ thích hợp nhất  
để trồng là tháng 4 – tháng 5.  
Như vây, qua tục ngữ đồng bào dân tộc Tày đã đúc  
rút được nhiều kinh nghiệm về thời điểm gieo trồng  
hiệu quả. Nhưng kinh nghiệm ấy đã được thế hệ con  
em đồng bào thực hành trong sản xuất và góp phần  
mang lại cuộc sống no ấm cho người Tày.  
Đồng bào dân tộc Tày không chỉ căn cứ vào mùa  
quả chín để xác định nông lịch mà còn căn cứ vào  
những loại cây đặc trưng cho vùng trung du và miền  
núi phía Bắc: Bâư xâu kheo/ Noọng slao dá lỉn (Lá  
xau xau xanh/ Con gái chớ đi chơi) [3, tr. 188]. Cây  
xau xau là loại cây thân gỗ, thường mọc trên rừng. Khi  
mùa xuân sang, cây nẩy lộc, đâm chồi rất mạnh. Ngoài  
căn cứ vào xau xau thì đồng bào dân tộc Tày còn căn  
cứ vào một số loài hoa đặc trưng: Bjoóc cháu tốc tỉ /  
Khẩu tẩy slỉa tôm (Hoa chẩu rơi / Ngô vãi đất) [3, tr  
189]. Cứ vào độ tháng 3 tháng 4, hoa chẩu lại bung nở  
với vô vàn những bông trắng muốt, tinh khôi. Nó làm  
bừng sáng cả núi rừng và đó cũng là dấu hiệu để đồng  
bào dân tộc Tày bắt đầu một mùa tra ngô.  
2.3. Trồng trọt  
Trong nông nghiệp kĩ thuật trồng trọt là yếu tố cốt  
lõi. Do vậy, kinh nghiệm về trồng trọt là một phần  
không thể thiếu trong tục ngữ Tày.  
Đồng bào thường truyền nhau kinh nghiệm canh  
tác: rẩy óm chà, nà óm nặm (rẫy ủ cành, ruộng dầm  
nước), nghĩa là làm rẫy thì ủ cành lá cho mục, cho khô  
để đốt lấy tro làm phân bón cho cây trồng; còn làm  
ruộng thì ngâm nước cho đất ngấu. Khi làm đất đồng  
bào quan niệm: Thây nà lập đông, khẩu thuổm chang  
tổng, lậm cằn nưa phưa cằn tẩư (cày ruộng lập đông,  
lúa ngập đầy đồng, nặng trĩu đan nhau bờ trên bờ  
dưới)… Trong trồng trọt, đồng bào dân tộc Tày không  
Để xác định nông vụ ngoài căn cứ vào những dấu  
hiệu như: quả chín, hoa nở, mùa lá… đồng bào dân  
tộc Tày còn căn cứ các tiết khí trong nông lịch: Đăm  
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103  
chỉ chú trọng kĩ thuật làm đất mà họ còn rất quan tâm nông nghiệp nên trong điều kiện sản xuất chưa phát  
đến kĩ thuật trồng slíp co lả bấu tấng hả co hua (mười triển thì trâu, bò là sức kéo không thể thay thế. Ngoài  
cây mạ cấy muộn không bằng năm cây mạ cấy sớm); ra địa bàn cư trú của người Tày chủ yếu ở vùng núi,  
Đăm nà tẳm ngoảng á, khẩu bấu quá ngài chiêng nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều dốc, phương  
(Cấy ruộng tới lúc ve ran, gạo không qua cơm tết).  
tiện đi lại hiện đại còn hạn chế nên từ xa xưa đồng bào  
chủ yếu dùng sức người và sức ngựa. Do vậy, ngựa trở  
thành phương tiện giao thông nhanh, tiện lợi và phù  
hợp nhất. Lợn là vật nuôi để cung cấp thực phẩm cho  
bữa ăn hằng ngày, đồng thời cũng là con vật dùng để  
hiến tế trong các nghi lễ quan trọng.  
Phân bón đóng góp không nhỏ cho sự sinh trưởng  
của cây lúa, tập quán làm phân, ủ phân đã được đồng  
bào dân tộc Tày sử dụng thành thạo: Khủn lồng cằn  
nưa/ Khẩu phưa cằn tâử (Phân bón bờ trên/ Lúa ken  
bờ dưới) [3, tr.238]; Đăm chay lèo pỏn khỉ/ Khẩu bắp  
chắng đảy chình (Trồng, cấy phải bón phân / Ngô lúa  
mới bội phần) [3, tr. 211].  
3. Kết luận  
Tri thức dân gian về lao động, sản xuất được phản  
Đồng bào dân tộc Tày canh tác song hành ruộng ánh qua tục ngữ Tày là vốn kinh nghiệm vô cùng quý  
nước và nương rẫy. Với mỗi loại hình canh tác đồng báu mà đồng bào muốn truyền dạy cho con cháu.  
bào có kĩ thuật canh tác riêng: Hết rẩy ốm chà, hết nà Trong đó, đồng bào đã đưa ra những dự báo về thời  
ốm nặm (Làm nương phải dấm lá cây, làm ruộng phải tiết dựa trên thiên tượng, dự báo mùa vụ căn cứ vào  
ngâm nước) [3,tr. 226]; Lảy đảy bươn lẻ quà / Nà đảy các hiện tượng gần gũi như: quả chín, hoa nở, mùa lá,  
bươn lả quát (Rẫy đày tháng làm cỏ/ Ruộng được các tiết khí trong nông lịch. Để mùa vụ bội thu đồng  
tháng sục bùn) [3, tr 241]  
bào truyền cho con cái những kinh nghiệm về làm đất,  
thời điểm và kĩ thuật canh tác. Trong chăn nuôi, đồng  
bào đã đúc rút kinh nghiệm chọn giống trâu, bò, ngựa,  
lợn... căn cứ trên các đặc điểm về giới tính và hình  
thức. Những tri thức dân gian này được đúc kết ngắn  
gọn, hàm súc và có giá trị lâu bền không chỉ trong sản  
xuất của người Tày mà có thể áp dụng rộng rãi.  
Những kinh nghiệm về trồng trọt được đúc kết qua  
tục ngữ là nguồn tài liệu nông học quan trọng được  
đồng bào dân tộc Tày truyền từ đời này qua đời khác.  
Nó như kim chỉ nam cho hoạt động trồng trọt của  
đồng bào dân tộc Tày.  
2.4. Chăn nuôi  
References  
Cũng giống như nhiều dân tộc khác, người Tày  
trong quá trình sinh sống ngoài tích lũy kinh nghiệm  
về hoạt động trồng trọt còn tích lũy được không ít  
kinh nghiệm chăn nuôi, săn bắn.  
1. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic  
Minorities, Volume 1, Social Science Publishing  
House, 2013.  
2. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic  
Minorities, Volume 2, Social Science Publishing  
House, 2013.  
Để chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao thì việc lựa  
chọn vật nuôi đòi hỏi phải có kinh nghiệm từ khâu chọn  
giống đến chăm sóc. Trong khâu chọn giống, đồng bào  
chú trọng nhiều tới việc lựa chọn con cái: Vài mè lẻ xa  
3. Tran Thi An, Proverbs of Vietnamese Ethnic  
tua toọng tòa (Trâu cái giống thì chọn con bụng to ) Minorities, Volume 3, Social Science Publishing  
[3, tr. 107]; Xa lùa chiêm tái, dự vài chiêm mẻ (Kén House, 2013.  
dâu xem bà mẹ, kén trâu giống xem con cái.) [3, tr.  
4. Trieu An, Hoang Quyet, Dictionary of idioms  
109]; Mu mè chẻ xu lình (Nuôi lợn sề thiến như mộc  
and proverbs of the Tay ethnic, National Cultural  
nhĩ ngâm) [3, tr.92].  
Publishing House, 1996.  
Chọn giống vật nuôi ngoài căn cứ vào đặc điểm  
5. Hoang Quyet, Hoang Trieu An, Idioms,  
giới tính thì đồng bào dân tộc Tày còn dựa vào các  
proverbs, folk songs of Tay ethnic , Culture and  
yếu tố về hình thức: Bấu dảo mò khẻo lài/ Bấu tạu wài  
Information Publishing House, 2014.  
khẻo phước (Không nuôi bò răng vằn/ Không tậu trâu  
6. Do Huu Chau, Vietnamese Vocabulary -  
răng đen.) [3, tr. 73]; Mạ khúy xa tua ấc pháng (ngựa  
Semantics, Education Publishing House, 1999.  
cưỡi cần tìm con rộng ngực) [3, tr. 89].  
7. Dinh Trong Lac, Nguyen Thai Hoa, Vietnamese  
Trong tục ngữ Tày kinh nghiệm chọn giống vật  
Language Learning Style, Education Publishing  
nuôi được đồng bào tập trung phản ánh là chọn trâu,  
House, 1996.  
bò, ngựa, lợn… Điều này có lẽ bởi người Tày nói  
riêng và người Việt nói chung vốn là những cư dân  
H.T.Chuyen/ No.18_Oct 2020|p.98-103  
FOLK KNOWLEDGE IN PRODUCTION REFLECTED  
IN TAY ETHNIC’S PROVERBS  
Article info  
Abstract  
Surveying folk knowledge in order to introduce, preserve and promote valuable  
experiences of the Tay ethnic is an urgent need. Because the language and culture  
of the ethnic minorities in general and Tay ethnic in particular are facing that  
global risk of lost gradually and perish. Surveying folk knowledge about labor and  
production in Tay ethnic’s proverbs, through published publications shows that  
people often pay attention to experiences in weather forecasting, seasons,  
cultivation, and breeding… These folk knowledge should be selected to teach  
children of the Tay ethnic in particular and the community in general.  
Recieved:  
15/7/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
folk, knowledge,  
prodution, labor, Tay  
ethnic’s proverbs.  
pdf 6 trang baolam 27500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tri thức dân gian trong lao động sản xuất được phản ánh qua tục ngữ Tày", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftri_thuc_dan_gian_trong_lao_dong_san_xuat_duoc_phan_anh_qua.pdf