Định hướng về dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong các môn học ở trường phổ thông

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Định hướng về dạy học đọc hiểu văn bản thông tin  
trong các môn học ở trường phổ thông  
Phạm Thị Thu Hiền  
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội  
TÓM TẮT: Các bài học trong sách giáo khoa và tài liệu học tập của các môn  
182 Lương Thế Vinh, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
học ở trường phổ thông của Việt Nam và các nước trên thế giới đều được  
Email: hienpham17[email protected]  
biên soạn dưới dạng văn bản thông tin. Để học các môn, học sinh cần phải  
biết cách đọc các văn bản này. Tuy nhiên, khả năng và hiệu quả đọc văn  
bản thông tin của học sinh phổ thông ở Việt Nam chưa cao do chưa được  
hướng dẫn về kĩ năng đọc. Điều này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng học  
tập cũng như khả năng đọc để tự học của học sinh. Ở nhiều nước trên thế  
giới, giáo viên của các môn học đều phải dạy học sinh cách đọc hiểu văn  
bản thông tin. Mục tiêu, loại văn bản, nội dung và yêu cầu cần đạt/chuẩn  
về đọc hiểu văn bản thông tin của một số nước được quy định cụ thể trong  
chương trình giáo dục phổ thông. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và  
xu thế quốc tế, cần có những định hướng cụ thể về dạy đọc hiểu văn bản  
thông tin trong các môn học ở trường phổ thông của Việt Nam trong thời  
gian tới.  
TỪ KHÓA: Văn bản thông tin; đọc hiểu văn bản; môn học; trường phổ thông; tự học.  
Nhận bài 21/8/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 04/10/2020 Duyệt đăng 05/12/2020.  
1. Đặt vấn đề  
phổ thông môn Ngữ văn (2018) của Việt Nam, VBTT là  
“văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin” [2]. Có  
nhiều cách phân loại VBTT:  
- Về phương thức trình bày: Có văn bản đơn phương  
thức (chỉ sử dụng kênh chữ, số) và văn bản đa phương  
thức (sử dụng kênh chữ, số và các kênh hình, kênh tiếng  
khác).  
- Về kiểu tín hiệu và định dạng dữ liệu: Có văn bản in  
và văn bản kĩ thuật số.  
- Về chủ đề: Có bài nghiên cứu/giải thích về văn học;  
Chương trình (CT) giáo dục phổ thông (GDPT) của  
nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước xây dựng  
CT theo định hướng phát triển năng lực đều coi văn bản  
thông tin (VBTT) là một loại văn bản quan trọng, cần  
được dạy đọc và dạy viết cho học sinh (HS) trong tất  
cả các môn học, không chỉ ở môn học về tiếng mẹ đẻ/  
ngôn ngữ thứ nhất và văn học (Ở Việt Nam gọi là môn  
Tiếng Việt ở Tiểu học, môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở  
(THCS) và Trung học phổ thông (THPT). Bởi VBTT là  
một loại văn bản gần gũi, quan trọng, cần thiết cho con lịch sử; khoa học; kĩ thuật/quy trình thực hiện; kinh tế;  
bản ghi tiểu sử; bản hồi kí; bài phỏng vấn; hướng dẫn  
thực hành/sử dụng…  
- Về phương thức tạo lập: Có văn bản tường thuật;  
thuyết minh/giới thiệu; luận/tranh luận; diễn thuyết/phát  
biểu/nêu ý kiến…  
người trong đời sống, học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên,  
ở Việt Nam, giáo viên (GV) dạy môn Toán hay các môn  
học về khoa học tự nhiên (KHTN) và khoa học xã hội  
(KHXH) khác ở trường phổ thông chưa nghe đến việc  
dạy HS đọc hiểu các VBTT trong môn học mà mình đảm  
nhiệm. Vì thế, việc dạy học đọc hiểu VBTT trong tất cả  
các môn học ở trường phổ thông của Việt Nam còn đang  
là một điều mới mẻ.  
Các bài học được biên soạn trong sách giáo khoa  
(SGK) Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,  
… được dùng ở nhà trường phổ thông và nhiều tài liệu  
phục vụ cho việc học tập của HS được coi là VBTT. Như  
vậy, hàng ngày, HS phải đọc số lượng VBTT rất lớn.  
Theo, Michael R. Graves (2011) trong “Dạy đọc ở thế  
kỉ XXI”: “Về cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để  
chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn bản  
thành tri thức của mình với mục đích sử dụng luôn trong  
học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau. Chỉ  
nguyên mục đích đó đã làm cho việc đọc văn bản thông tin  
trở nên khác với đọc văn bản văn học“ [3]. Quan niệm này  
vừa nói lên mục đích, đồng thời cũng được coi là những  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Văn bản thông tin và mục đích của việc đọc văn bản thông  
tin  
Có nhiều quan niệm về "VBTT". Tuy nhiên, quan niệm  
của một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về dạy  
học VBTT tại Hoa Kì là N. Duke đã được nhiều người  
ủng hộ. Theo Duke (2000), đó là “Văn bản được viết  
với mục đích cơ bản là trình bày thông tin về thế giới tự  
nhiên và xã hội... và có những đặc điểm văn bản riêng  
biệt để hoàn thành mục đích đó” [1]. Theo CT giáo dục chỉ dẫn về dạy đọc các VBTT ở nhà trường phổ thông.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
30  
Phạm Thị Thu Hiền  
Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng chỉ ra vai trò của việc (như Lịch sử, Địa lí,...) trong nhà trường phổ thông. Bởi  
dạy đọc VBTT cho trẻ em. Ruth Helen Yopp và Hallie trong tất cả các môn học, HS đều phải sử dụng các kĩ  
năng nghe, nói, đọc, viết, quan sát, trình bày… để học  
tập. Trong đó, đọc hiểu VBTT (trong SGK, các tài liệu  
tham khảo…) được coi là kĩ năng quan trọng bậc nhất.  
Cách làm này là sự cụ thể hóa quan niệm “đọc là một  
cách tối ưu để xây dựng kiến thức về các chủ đề xã hội  
cũng như các chủ đề về khoa học và kĩ thuật”, “để hỗ  
trợ các kĩ năng học tập ở đại học và tìm kiếm việc làm”,  
“giúp HS trở thành một người có khả năng đọc … ở thế  
kỉ XXI” [7]. Do khuôn khổ của bài báo, ở đây chỉ lấy ví  
dụ về việc dạy đọc và KTĐG khả năng đọc VBTT ở Hoa  
Kì. Theo NAEP [8], số lượng VBTT mà HS phải đọc  
hàng năm tăng lên theo từng cấp lớp, được cụ thể hóa  
qua Bảng 1:  
Kay Yopp (2006) [4] khẳng định VBTT có vị trí quan  
trọng trong cuộc sống của trẻ em, do đó rất cần phải dạy  
HS đọc văn bản này ở trường học. Barbara Moss (2008)  
[5] dẫn lời Kamil (2004) khẳng định rằng, không có gì  
quan trọng hơn đối với sự thành công của HS ở trường  
hơn khả năng đọc và viết, các đoạn đọc trong các bài  
kiểm tra chuẩn của NAEPphần lớn là các VBTT (chiếm  
50 - 80%). Jongseong Jeong, Janet S. Gaffney và Jin-Oh  
Choi (2010) [6] cho thấy, VBTT được dạy học tăng dần  
ở các lớp lớn hơn. Dẫn lời Beson (2002), các tác giả này  
cũng cho rằng HS cần thiết phải biết đọc các loại VBTT  
(từ các định dạng in truyền thống sang thế giới kĩ thuật  
số). Đồng thời, họ cũng dẫn lời Schmar - Dobler (2003)  
để khẳng định khả năng truy cập, sàng lọc, đánh giá và  
tổng hợp một loạt các thông tin trên Internet là không  
thể thiếu cho sự thành công và sự sống còn ở trường học  
cũng như tại nơi làm việc của con người.  
Bảng 1: Số lượng VBTT HS phải đọc hàng năm theo NAEP  
Khối  
Văn bản văn học  
Văn bản thông tin  
Lớp 4  
Lớp 8  
Lớp 12  
50%  
45%  
30%  
50%  
55%  
70%  
2.2. Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong các môn học ở  
nước ngoài  
VBTT đã được đưa vào CT giảng dạy môn học tiếng  
mẹ đẻ/ngôn ngữ thứ nhất và văn học của các quốc gia lớn  
trên thế giới như Hoa Kì [7], Singapore,Anh, Úc, Canada  
và nhiều nước khác. CT của các nước kể trên đều có quy  
định rõ ràng về các loại VBTT được dạy đọc ở mỗi lớp  
cũng như mục tiêu dạy học, chuẩn cần đạt, phương pháp  
dạy học (PPDH) và kiểm tra đánh giá (KTĐG) khả năng  
đọc các loại văn bản ấy. GV ở các quốc gia này phải nắm  
được các quy định đó, đặc biệt là nắm được chuẩn đầu ra  
để dạy học theo chuẩn.  
Hoa Kì cũng đã đưa ra chuẩn/yêu cầu cần đạt về kĩ  
năng đọc VBTT trong các môn thuộc hai nhóm KHTN  
và KHXH với mục đích xây dựng được những nền tảng  
hỗ trợ cho HS để học lên đại học và thực hành nghề  
nghiệp sau này. Dưới đây là chuẩn/yêu cầu cần đạt  
về kĩ năng đọc VBTT trong các môn học về KHXH  
qua trường hợp bang California (xem Bảng 2) [7] và  
các chuẩn về kĩ năng đọc VBTT trong các môn học  
về KHTN và kĩ thuật cho HS qua trường hợp bang  
California (xem Bảng 3) [7].  
Điều đặc biệt hơn là Hoa Kì và một số nước khác không  
chỉ đặt vấn đề dạy học đọc hiểu văn bản ở môn học tiếng  
mẹ đẻ/ngôn ngữ thứ nhất mà còn đề cập đến việc dạy học  
Chuẩn được mô tả trên đây đã chỉ ra rằng, trong dạy  
đọc hiểu văn bản ở các môn học về Toán, các môn học học các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử,  
về KHTN (như Vật lí, Hóa học, Sinh học,...) và KHXH Địa lí,... GV ở Hoa Kì, ngoài việc dạy các kiến thức, kĩ  
Bảng 2: Chuẩn/ yêu cầu cần đạt về kĩ năng dọc VBTT trong các môn học về KHXH ở Bang California  
Lớp 6 - 8  
Lớp 11 - 12  
Các ý tưởng chính và các chi tiết  
1. Trích các dẫn chứng nguyên văn và cụ thể để hỗ trợ cho việc 1. Trích các dẫn chứng nguyên văn và cụ thể để hỗ trợ cho việc phân tích các  
phân tích các nguồn tài liệu học tập.  
nguồn tài liệu học tập, kết nối các sự hiểu biết có được từ các chi tiết cụ thể  
đến việc hiểu biết toàn bộ bài đọc.  
2. Xác định các thông tin hoặc các ý tưởng chủ đạo của một 2. Xác định các thông tin hoặc các ý tưởng chủ đạo của một nguồn tài liệu,  
nguồn tài liệu, tổng kết chính xác những điểm khác biệt của của đưa ra một tổng kết chính xác thể hiện rõ ràng các mối quan hệ giữa các chi  
một nguồn tài liệu so với các kiến thức hoặc các quan điểm tiết chính và các ý tưởng.  
trước đó.  
3. Xác định rõ các bước chủ đạo trong việc miêu tả của một bài 3. Đánh giá các lời giải thích khác nhau về các hành động hoặc các sự kiện và  
viết về quá trình có liên quan đến các nghiên cứu về lịch sử/xã xác định lời giải thích nào là phù hợp nhất với dẫn chứng trong bài và khẳng  
hội (Ví dụ: cách một dự thảo luật trở thành luật như thế nào; các định xem các vấn đề không chắc chắn được bài đọc bỏ đi ở chỗ nào.  
tỉ lệ lãi suất được tăng hoặc giảm ra làm sao).  
Số 36 tháng 12/2020  
31  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Lớp 6 - 8  
Kĩ năng và cấu trúc câu  
Lớp 11 - 12  
4. Xác định nghĩa của các từ/cụm từ được sử dụng trong bài đọc 4. Xác định nghĩa của các từ/cụm từ được sử dụng trong bài đọc bao gồm việc  
bao gồm từ vựng ở các lĩnh vực cụ thể đến các phạm vi có liên phân tích cách tác giả sử dụng và chọn lọc nghĩa của một thuật ngữ chính  
quan đến các nghiên cứu lịch sử/xã hội.  
thông qua toàn bộ nội dung bài đọc (Ví dụ: Cách mà Madison định nghĩa từ  
faction trong tác phẩm Federalist số 10).  
5. Mô tả cách một bài đọc diễn đạt các thông tin (Ví dụ: Theo 5. Phân tích một cách chi tiết cách mà các cấu trúc câu được sử dụng trong  
trình tự thời gian, bằng cách so sánh, theo trình tự nguyên nhân bài đọc có độ khó cao, bao gồm cách mà các mẫu câu, các đoạn văn chính  
và hậu quả).  
và các phần lớn hơn của bài đọc đóng góp vào cho toàn bài.  
6. Xác định rõ các khía cạnh của một bài đọc thể hiện được quan 6. Đánh giá các quan điểm khác nhau của tác giả trong cùng một sự kiện hoặc  
điểm và mục đích của tác giả (Ví dụ: ngôn từ mang ẩn ý, bao một vấn đề lịch sử bằng cách đánh giá các luận điểm, các lí do và các dẫn  
gồm hoặc né tránh các dữ liệu thực tế cụ thể).  
chứng của tác giả.  
Kết hợp kiến thức và các ý tưởng  
7. Kết hợp các thông tin bằng hình ảnh (Ví dụ: biểu đồ, các hình 7. Kết hợp và đánh giá các nguồn thông tin khác nhau được diễn tả dưới các  
họa, tranh ảnh, máy quay phim và bản đồ) cùng với các thông hình thức và các phương tiện khác nhau (Ví dụ: Bằng hình ảnh, dữ liệu cũng  
tin khác ở hình thức văn bản, và dưới dạng phần mềm kĩ thuật số. như lời nói) nhằm để tìm ra câu hỏi hoặc giải quyết một vấn đề.  
8. Phân biệt các dữ liệu cụ thể, các ý kiến và các điều chỉnh phù 8. Đánh giá các giả thuyết, các luận điểm và các dẫn chứng của một tác giả  
hợp trong một bài đọc.  
bằng cách khẳng định hoặc không chấp nhận chúng cùng với các thông tin khác.  
9. Phân tích mối quan hệ giữa các nguồn tài liệu chính và thứ cấp 9. Kết hợp thông tin từ các nguồn khác nhau thành một sự hiểu biết mạch lạc  
đề cập đến cùng chủ đề.  
rõ ràng về một ý tưởng hoặc một sự kiện; ghi chú những sự không nhất quán  
giữa các nguồn với nhau.  
Khả năng đọc và mức độ khó của tài liệu  
10. Đến cuối lớp 8, đọc và hiểu bao hàm các tài liệu nghiên cứu 10. Đến cuối lớp 12, đọc và hiểu bao hàm các tài liệu nghiên cứu về lịch sử/xã  
về lịch sử/xã hội. Trong thang điểm về độ khó trong phạm vi lớp hội. Trong thang điểm về độ khó trong phạm vi lớp 11 - CCR, HS có thể đọc  
6-8, HS có thể đọc một cách độc lập và thành thạo.  
một cách độc lập và thành thạo.  
Bảng 3: Chuẩn về kĩ năng đọc VBTT trong các môn học về KHTN và kĩ thuật cho HS ở Bang California  
Lớp 6-8  
Lớp 11-12  
Các ý tưởng chính và các chi tiết  
1. Trích các dẫn chứng nguyên văn và cụ thể để hỗ trợ cho 1. Trích các dẫn chứng nguyên văn và cụ thể để hỗ trợ cho việc phân tích các  
việc phân tích các tài liệu khoa học và kĩ thuật.  
tài liệu khoa học và kĩ thuật, chú trọng đến những sự khác biệt quan trọng do tác  
giả tạo ra và chú trọng đến các thiếu sót và các mâu thuẫn trong bài tường thuật.  
2. Xác định các ý tưởng hoặc các kết luận chủ đạo của một 2. Xác định các ý tưởng hoặc các kết luận chủ đạo của một bài đọc, tổng kết  
bài đọc, đưa ra một tổng kết chính xác về những khác biệt của các khái niệm phức tạp, các diễn biến hoặc các thông tin được diễn đạt trong bài  
bài đọc so với các kiến thức hoặc các ý kiến trước đó.  
bằng cách diễn tả chúng bằng ngữ giải thích theo những thuật ngữ đơn giản hơn  
nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác.  
3. Tuân theo các bước trong một quy trình thử nghiệm/thí 3. Tuân theo các bước trong một quy trình thử nghiệm/thí nghiệm một cách chính  
nghiệm một cách chính xác, sử dụng các biện pháp hoặc thực xác, sử dụng các biện pháp hoặc thực hiện các phần việc kĩ thuật; phân tích các  
hiện các phần việc kĩ thuật.  
kết quả cụ thể dựa trên các lời giải thích trong bài.  
Kĩ năng và cấu trúc câu  
4. Xác định nghĩa của các biểu tượng, các thuật ngữ chính và 4. Xác định nghĩa của các biểu tượng, các thuật ngữ chính và các từ/cụm từ trong  
các từ/cụm từ trong phạm vi cụ thể khi chúng được sử dụng phạm vi cụ thể khi chúng được sử dụng trong một văn cảnh cụ thể về kĩ thuật  
trong một văn cảnh cụ thể về kĩ thuật hoặc khoa học phù hợp hoặc khoa học phù hợp với các bài đọc và các chủ điểm của lớp 11-12.  
với các bài đọc và các chủ điểm của lớp 6-8.  
5. Phân tích cấu trúc câu mà tác giả sử dụng để tổ chức một 5. Phân tích cách bài đọc sắp xếp thông tin hoặc các ý tưởng vào các nhóm phân  
bài viết bao gồm cách các phần chính đóng góp vào cho toàn loại hoặc theo hệ thống cấp bậc; thể hiện sự hiểu biết về các thông tin hoặc các  
bài và cho sự hiểu biết về chủ đề đọc.  
ý tưởng.  
6. Phân tích mục tiêu của tác giả khi đưa ra một lời giải thích, 6. Phân tích mục tiêu của tác giả khi đưa ra một lời giải thích, miêu tả một quy  
miêu tả một quy trình hoặc thảo luận về một thử nghiệm có trình hoặc thảo luận về một thử nghiệm có trong bài; làm sáng tỏ các chủ đề quan  
trong bài.  
trọng vẫn chưa được giải quyết.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
32  
Phạm Thị Thu Hiền  
Lớp 6-8  
Lớp 11-12  
Kết hợp kiến thức và các ý tưởng  
7. Kết hợp các dữ liệu hoặc các thông tin kĩ thuật được diễn 7. Kết hợp và đánh giá các thông tin từ nguồn tư liệu khác nhau được diễn đạt  
đạt bằng lời trong bài cùng với một phiên bản trong đó các dưới các hình thức hoặc các phương tiện đa dạng (Ví dụ, các dữ liệu - số liệu,  
thông tin được diễn đạt bằng hình ảnh (Ví dụ, trong một sơ đồ đoạn phim, các phương tiện đa chức năng) nhằm để diễn đạt một câu hỏi hoặc  
hoạt động, một biểu đồ, khuôn mẫu, đồ họa hoặc bảng biểu). giải quyết một vấn đề.  
8. Phân biệt các dữ liệu thực tế, các điều chỉnh phù hợp dựa 8. Đánh giá các giả thuyết, các dữ liệu, các phân tích và các kết luận trong một  
trên các tài liệu nghiên cứu được tìm tòi và các phỏng đoán bài đọc về khoa học và kĩ thuật, làm sáng tỏ các dữ liệu khi có thể. Thể hiện sự  
có trong bài.  
đồng tình hoặc không đồng tình các kết luận với các nguồn thông tin khác.  
9. So sánh và phân biệt các thông tin thu được từ các cuộc thí 9. Tổng hợp các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (Ví dụ, các bài đọc, các thí  
nghiệm, các sự mô phỏng, các đoạn phim hoặc các nguồn từ nghiệm, các mô phỏng) thành một sự hiểu biết mạch lạc về một quá trình, một  
phương tiện đa chức năng với các thông tin thu được từ việc hiện tượng hoặc một khái niệm, giải quyết các thông tin trái chiều nhau khi có thể.  
đọc tài liệu có đề cập đến cùng chủ đề.  
Khả năng đọc và mức độ khó của tài liệu  
10. Đến cuối lớp 8, đọc và hiểu bao hàm các bài đọc về khoa 10. Đến cuối lớp 12, đọc và hiểu bao hàm các bài đọc về khoa học, kĩ thuật. Ở  
học, kĩ thuật. Ở thang điểm cho độ khó của tài liệu trong phạm thang điểm cho độ khó của tài liệu trong phạm vi lớp 11-CCR, HS có thể đọc một  
vi lớp 6-8, HS có thể đọc một cách thành thạo và độc lập.  
cách thành thạo và độc lập.  
năng của môn học còn phải dạy HS kĩ năng đọc các tài cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, một kiến trúc sư chắc  
liệu học tập. Mức độ cần đạt và sự thành thạo của kĩ năng chắn cần phải làm việc với các con số, nhưng cũng cần  
đọc được tăng dần qua từng năm.  
hiểu cách đọc bản thiết kế và hiểu các khái niệm phức tạp  
như các yếu tố tỉ lệ, các phép đo và những gì các phép đo  
đó thể hiện. Theo các nhà nghiên cứu, ở mức tối thiểu,  
việc đọc hiểu phải là nội dung trọng tâm được dạy học  
cho HS phổ thông vì nó ảnh hưởng đến khả năng làm  
bài kiểm tra (từ các bài kiểm tra thường xuyên đến các  
bài thi định kì). Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh kĩ  
năng đọc hiểu ảnh hưởng đến tất cả các môn học và họ  
tin rằng tất cả các HS có thể được hưởng lợi bằng cách  
thực hành thêm kĩ năng này trong tất cả các môn học.  
Như vậy, không thể phủ nhận vai trò của việc đọc VBTT  
và dạy đọc hiểu loại văn bản này trong việc nâng cao kết  
quả học tập và phát triển năng lực tự học của người học.  
Theo các nhà nghiên cứu của Hoa Kì, trong vài thập  
kỉ qua, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy ý nghĩa  
của những gì HS đọc được và quy trình dạy đọc có hiệu  
quả trong việc giúp HS trở thành người đọc/người học  
tốt. Những hướng dẫn đọc của GV ở tất cả các môn học  
thường bao gồm việc yêu cầu HS sử dụng một tập hợp  
các kĩ năng như xác định từ, tìm ý chính, xác định cách  
trình bày thông tin trong văn bản, so sánh và đối chiếu các  
văn bản…Thông qua việc thực hiện các bài tập (trong đó  
có đọc một số tài liệu để phục vụ cho việc làm bài tập),  
GV sẽ đánh giá xem HS có khả năng đọc hay không. Đa  
số các văn bản mà HS phải đọc để phục vụ cho việc học  
tập ở trường phổ thông là VBTT. Do đó, việc dạy đọc  
VBTT cho HS có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập và  
cải thiện kết quả học tập của HS. Khi lớn lên, HS được  
yêu cầu sử dụng các kĩ năng đọc hiểu trong nhiều lĩnh  
vực. Từ việc đọc sách đến đọc các tài liệu tham khảo, HS  
sẽ sử dụng kĩ năng đọc hiểu không chỉ trong môn Ngữ  
văn mà trong tất cả các môn học. Chẳng hạn, với môn  
Toán, HS phải vận dụng kĩ năng đọc để đọc các con số và  
tìm cách giải các phương trình... Khi HS phải vật lộn với  
các vấn đề về từ ngữ, họ sẽ gặp khó khăn trong việc giải  
toán và ứng dụng những kiến thức và kĩ năng Toán học  
vào đời sống. Điều tương tự cũng xảy ra với bất kì môn  
học nào. Các lớp học về môn Khoa học có thể không yêu  
cầu HS có một sự tinh tế trong cách viết, nhưng môn học  
này đòi hỏi HS phải đọc sâu một khối lượng tài liệu tham  
khảo rất lớn. Nếu HS không thể hiểu đầy đủ các khái  
2.3. Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong các môn ở Việt  
Nam  
Qua khảo sát CT GPPT, SGK tất cả các môn học cùng  
274 GV Ngữ văn, 414 GV các môn Toán, Vật lí, Hóa học,  
Sinh học, Lịch sử, Địa lí,... cùng 2744 HS cấp THPT,  
có thể thấy: CT GDPT (2006) và SGK môn Ngữ văn  
hiện hành - môn học giữ vai trò chủ đạo trong việc phát  
triển khả năng đọc cho HS Việt Nam - chưa đề cập đến  
việc dạy đọc hiểu VBTT. Nhiều bài học trong SGK môn  
Ngữ văn được biên soạn dưới dạng các VBTT (như các  
bài nghiên cứu về văn học và ngôn ngữ, các bài hướng  
dẫn HS kĩ năng viết, các bài có chủ đề về các vấn đề  
xã hội,...), nhưng khi dạy các bài này, GV chưa coi đó  
là VB mà HS cần đọc, không yêu cầu HS sử dụng các  
chiến thuật, kĩ năng đọc VB để nhận biết, phân tích, đánh  
niệm khoa học này, kiến thức này sẽ không giúp họ làm giá và sử dụng thông tin trong đó mà chủ yếu giảng văn  
được gì nhiều khi cố gắng áp dụng nó vào thế giới thực. (giảng giải, cắt nghĩa nội dung trong SGK) và yêu cầu  
Nghiên cứu này cũng chỉ ra trong đời sống, khả năng đọc HS ghi nhớ nội dung của bài học. Các đề kiểm tra, đề  
Số 36 tháng 12/2020  
33  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
thi trong môn Ngữ văn chưa coi trọng yêu cầu đọc hiểu  
VBTT của HS.  
2.4. Định hướng dạy học đọc hiểu văn bản thông tin ở các môn  
học trong thời gian tới  
Ở nhà trường phổ thông của Việt Nam, tiếng Việt là  
công cụ giao tiếp nói chung và là phương tiện học tập  
cho tất cả các môn học. Môn học nào cũng cần phải sử  
dụng tiếng Việt theo quy tắc chung và yêu cầu đặc thù  
của mỗi môn học (hệ thống thuật ngữ, khái niệm, cách  
diễn đạt, mô tả…). Nhưng việc rèn luyện kĩ năng đọc,  
viết, nghe, nói… của HS ở Việt Nam lâu nay chỉ được  
coi là trách nhiệm của các GV Ngữ văn. “CT của Việt  
Nam sắp đến cần trao thêm trách nhiệm này cho GV các  
bộ môn khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,  
Khoa học... Qua việc rèn luyện đọc, viết, nghe, nói, GV  
những bộ môn nói trên sẽ giúp HS nắm tốt hơn những  
kiến thức khoa học hữu quan. Kéo theo đó là yêu cầu  
trong CT đào tạo GV các bộ môn đều phải có môn dạy  
tiếng mẹ đẻ trong học thuật và môn đào tạo GV dạy đọc,  
viết, nghe, nói trong lĩnh vực bộ môn của mình, điều  
mà CT đào tạo GV của Mĩ đã làm từ lâu” [3]. Để giúp  
cho HS tiến bộ trong học tập, GV các môn học KHXH,  
KHTN và kĩ thuật trong thời gian tới không nên chỉ dạy  
các kiến thức môn học mà còn phải có trách nhiệm rèn  
luyện cho HS kĩ năng đọc để lĩnh hội tri thức và thực  
hành các kĩ năng, kĩ xảo trong những lĩnh vực mà môn  
học đó đề cập đến.Theo đó, việc dạy học đọc hiểu VBTT  
trong các môn học ở Việt Nam trong thời gian tới nên đi  
theo những định hướng sau đây:  
Tất cả các bài học trong các SGK môn Toán, Vật lí,  
Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,... đều được biên soạn  
dưới dạng VBTT, gồm cả văn bản đơn phương thức và  
đa phương thức dạng đơn giản (có sự kết hợp giữa kênh  
chữ và các hình tĩnh - chưa có văn bản kĩ thuật số). Để có  
thể tiếp thu được các tri thức từ các môn học hoặc thực  
hiện các kĩ năng theo một quy trình nhất định, HS phải  
đọc các VBTT này trong SGK. Tuy nhiên, các tác giả  
SGK rất ít khi hoặc không đưa ra các yêu cầu đối với HS  
về việc vận dụng các chiến thuật, kĩ năng trong khi đọc  
các loại VBTT đó để tìm kiếm thông tin, lí giải thông tin,  
đánh giá thông tin và vận dụng thông tin vào thực tiễn  
học tập và đời sống. Sau mỗi văn bản hoặc mỗi phần của  
văn bản, các tác giả SGK thường yêu cầu HS tái hiện lại  
nội dung kiến thức cơ bản mà văn bản đã cung cấp để trả  
lời câu hỏi, bài tập. Nhiều VBTT là các kênh hình chỉ  
đưa vào để minh họa, trang trí cho bài học chứ chưa được  
khai thác để phục vụ cho bài học. Việc bỏ đi các kênh  
hình này nhiều khi không ảnh hưởng đến thông tin của  
bài học. GV dạy các môn này cũng ít khi hướng dẫn HS  
cách đọc hiểu các VBTT trong SGK (như các bảng biểu,  
hình vẽ, tranh ảnh...) mà chủ yếu cho HS tự đọc rồi giảng  
bài (giảng giải, cắt nghĩa nội dung trong SGK) và yêu  
cầu HS ghi nhớ nội dung của bài học. GV dạy các môn  
học này đều cảm thấy xa lạ với vấn đề dạy HS đọc hiểu  
VBTT trong SGK và cho rằng nhiệm vụ dạy HS đọc hiểu  
là của GV Ngữ văn. Do đó, GV chưa có phương pháp và  
chưa nắm được yêu cầu về dạy đọc hiểu VBTT cho HS.  
Trong các đề thi, đề kiểm tra, ít thấy sự xuất hiện của các  
VBTT và yêu cầu HS đọc để làm bài.  
Về mục tiêu dạy đọc hiểu văn bản: Góp phần bồi  
dưỡng và nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS  
(tập trung vào khả năng đọc hiểu), giúp HS lĩnh hội tốt  
hơn tri thức và kĩ năng của các môn KHXH, KHTN và  
kĩ thuật để nâng cao kết quả học tập.  
Về chuẩn đọc hiểu văn bản: Với việc đọc hiểu VBTT  
trong môn Ngữ văn, cần đáp ứng các yêu cầu cần đạt đã  
được mô tả trong CT GDPT môn Ngữ văn (2018). Với  
việc đọc hiểu VBTT trong các môn học khác, cần tham  
khảo cách làm của Hoa Kì và các nước khác (như đã nêu  
ở trên) để vận dụng vào thực tế của Việt Nam một cách  
linh hoạt. Đặc biệt, cần lưu ý đây chỉ là chuẩn về kĩ năng  
đọc văn bản, các chuẩn này không thay thế các chuẩn  
về nội dung trong các môn học đó mà chỉ là sự bổ sung  
thêm cho chúng.  
Về văn bản đọc hiểu: Các VBTT được HS đọc hiểu  
bao gồm các bài học trong SGK hoặc tài liệu tham khảo  
từ nhiều nguồn khác nhau của môn học đó. Các VB này  
có tính chất phi hư cấu, sử dụng nhiều thuật ngữ khoa  
học chuyên sâu và được trình bày dưới nhiều dạng ngôn  
Hiện nay, các VBTT trong SGK các môn học ở Việt  
Nam (kể cả SGK Ngữ văn) đều là các văn bản in (phần  
nhiều là in đen trắng và là văn bản đơn phương thức, ít  
có văn bản đa phương thức), không có văn bản kĩ thuật  
số. Vì thế, HS chưa được làm quen với việc đọc các văn  
bản đa phương thức phức tạp và các văn bản kĩ thuật số  
ở trong nhà trường. Trên thực tế, các loại văn bản này rất  
phổ biến và cần thiết trong đời sống.  
Điều này dẫn đến hệ quả là khả năng đọc VBTT của  
HS còn kém, dẫn đến việc tự tìm và đọc các tài liệu tham  
khảo còn ít và không có hiệu quả. Khả năng thẩm định  
các tài liệu mà HS sưu tầm được (nhất là tài liệu đọc  
ở trên mạng internet) chưa cao, nên nhiều khi HS lấy  
những thông tin không chính xác từ các nguồn chưa  
được kiểm duyệt. Nguyên nhân là kĩ năng, chiến thuật  
đọc chưa được chú trọng rèn luyện thông qua đọc các ngữ và định dạng khác nhau, bao gồm cả các văn bản kĩ  
VBTT có trong SGK. Điều này cũng dẫn đến khả năng thuật số.  
tự học (thông qua đọc) của HS chưa cao. Lên đại học,  
Về PPDH đọc hiểu: Với môn Ngữ văn, GV tiến hành  
việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên gặp nhiều khó dạy học đọc hiểu văn bản theo yêu cầu của CT GDPT  
khăn vì không có kĩ năng đọc và chưa ứng dụng được môn Ngữ văn 2018. Với các môn học Toán, KHTN và  
những thông tin từ văn bản vào thực tiễn đời sống.  
KHXH, người tiến hành dạy đọc hiểu văn bản chính là  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
34  
Phạm Thị Thu Hiền  
GV của các môn học này. Để hướng dẫn HS đọc hiểu giải thích và đánh giá thông tin từ văn bản.  
văn bản trong các môn học khác (trừ môn Ngữ văn), GV  
cần nắm vững PPDH bộ môn mà mình đảm nhiệm, nắm  
vững đặc điểm của các loại văn bản thường dùng trong  
CT, SGK và các nguồn tài liệu khác có liên quan đến  
môn học, đồng thời cũng phải nắm vững nội dung thông  
tin mà HS cần đọc được cũng như những chiến thuật  
để nhận ra, phân tích, đánh giá, vận dụng các nội dung  
thông tin đó. Việc hướng dẫn HS đọc hiểu VBTT trong  
các môn học khác sẽ không diễn ra theo trình tự của giờ  
dạy học đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ văn mà tùy  
thuộc vào mục đích của văn bản/bài học, kết hợp với  
PPDH bộ môn, GV sẽ hướng dẫn HS tìm kiếm, lựa chọn,  
3. Kết luận  
Để hiện thực hóa được những định hướng trên, cần  
có những nghiên cứu cụ thể hơn về cách dạy đọc hiểu  
VBTT trong các môn học. Đồng thời, cần đưa vào CT  
đào tạo của các trường sư phạm, CT bồi dưỡng thường  
xuyên dành cho GV những nội dung liên quan đến dạy  
học đọc hiểu VBTT ở trường phổ thông, nhằm giúp HS  
trở thành người có năng lực đọc thành thạo, từ đó nâng  
cao hiệu quả học tập và vận dụng tốt những gì đã đọc  
vào thực tiễn.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Duke, N, (2000), 3.6 minutes per day: The scarcity of  
informational texts in first grade, Reading Research  
Quarterly, 35.  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình giáo dục  
phổ thông môn Ngữ văn.  
[3] Michael R. Graves, (2011), Teaching Reading in the 21st  
century: Motivating All Learners (fifth edition), Pearson,  
p.302.  
[4] Ruth Helen Yopp and Hallie Kay Yopp, (2006),  
Informational Texts as Read-Alouds at School and Home,  
Journal of Literacy Reseach, 38(1), 37–51, Copyright ©  
2006, Lawrence Erlbaum Associates, Inc.  
University), (2010), Availability and Use of Informational  
Texts in Second, Third.  
[7] California State Board of Education, (2013), Common  
Core State Standards for English Language Arts, Literacy  
in History/Social Studies, Science, and Technical Subjects  
for California Public Schools Kindergarten Through  
Grade Twelve (lấy từ http://www.cde.ca.gov)  
[8] National Assessment Governing Board, U.S. Department  
of Education, (2008), Reading Framework for the 2009  
National Assessment of Educational Progress.  
[9] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình giáo dục  
phổ thông - Chương trình tổng thể.  
[5] Barbara Moss, (2008), The Information Text Gap: The  
Mismatch Between Non-Narrative Text types in Basal  
Readers and 2009 NAEP Recommended Guidelines,  
Journal of Literacy Research, 40:201–219, 2008.  
[6] Jongseong Jeong and Janet S. Gaffney (University of  
Illinois at Urbana - Champaign), Jin-Oh Choi (Keimyung  
[10] Bùi Mạnh Hùng, (4/2013), Chuẩn Chương trình cốt lõi  
của Mĩ và một số liên hệ với việc đổi mới Chương trình  
Ngữ văn ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học  
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số chuyên về Nghiên  
cứu Giáo dục học.  
ORIENTATIONS ON TEACHING READING INFORMATIONAL TEXTS  
IN SCHOOL SUBJECTS  
Pham Thi Thu Hien  
VNU University of Education,  
Vietnam National University, Hanoi  
182 Luong The Vinh, Thanh Xuan,  
Hanoi, Vietnam  
ABSTRACT: The lessons in the textbooks and learning materials of all subjects in  
high schools in Vietnam as well as other countries in the world are compiled  
in the form of informational text. In order to learn these subjects, students  
need to know how to read these texts. However, the ability and effectiveness  
of reading informational texts of school students in Vietnam is not high due  
to lack of instruction on reading skills. This has a great impact on the quality  
of learning as well as reading competence to self-study of students. In many  
countries around the world, teachers of all subjects must teach students  
how to read and understand the informational texts. Objectives, types of  
texts, content and standards for reading comprehension of the informational  
texts in some countries are specified in the curriculum. In order to meet the  
requirements of practice and international trends, it is necessary to have  
specific orientations on teaching reading informational texts in Vietnamese  
schools in the near future.  
Email: hienpham17[email protected]  
KEYWORDS: Informational text; reading comprehension; subjects; high schools; self-study.  
Số 36 tháng 12/2020  
35  
pdf 6 trang baolam 25500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Định hướng về dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong các môn học ở trường phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdinh_huong_ve_day_hoc_doc_hieu_van_ban_thong_tin_trong_cac_m.pdf