Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong ca dao, tục ngữ

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (254) 2019  
14  
NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN  
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CA DAO, TỤC NGỮ  
NGUYỄN QUẾ DIỆU*  
Ca dao, tục ngữ là sản phẩm của đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam,  
phản ánh phong phú, đa dạng đời sống sinh hoạt của nhân dân, nhất là mối  
quan hệ giữa con người với con người trong cuộc sống. Trong đó, các chuẩn  
mực đạo đức như: lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất hay  
tinh thần nhân nghĩa và các đức tính trung thực, cần cù, tiết kiệm của người Việt  
Nam cũng được thể hiện trong ca dao, tục ngữ với biểu đạt hết sức ngắn gọn,  
dễ nhớ, dễ đi vào lòng người. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả tập trung phân  
tích làm rõ một số chuẩn mực đạo đức cơ bản được thể hiện qua ca dao, tục  
ngữ.  
Từ khóa: chuẩn mực đạo đức, ca dao, tục ngữ Việt Nam  
Nhận bài ngày: 22/7/2019; đưa vào biên tập: 29/7/2019; phản biện: 2/8/2019; duyệt  
đăng: 8/10/2019  
1. GIỚI THIỆU  
sống tinh thần, giáo dục con người  
hướng đến những giá trị sống tốt đẹp,  
góp phần giúp cho các cá nhân trong  
xã hội định hình khuôn mẫu, lối sống,  
nhân cách của con người Việt Nam từ  
trước tới nay.  
Ca dao, tục ngữ là một bộ phận của  
văn học dân gian, gồm những bài văn  
vần do đông đảo quần chúng nhân  
dân sáng tác, được lưu truyền chủ  
yếu bằng phương thức truyền miệng,  
được phổ biến rộng rãi, có sức sống  
lâu bền và mang đậm bản sắc văn  
hóa dân tộc.  
Chính vì vậy, nghiên cứu những  
chuẩn mực đạo đức cơ bản của  
người Việt Nam trong ca dao, tục ngữ  
vừa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ,  
lưu truyền những giá trị trong cuộc  
sống của các thế hệ đi trước, vừa góp  
phần vào việc xây dựng nền văn hóa  
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và  
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân  
tộc.  
Thông qua ca dao, tục ngữ, con người  
tiếp nhận các giá trị, chuẩn mực đạo  
đức để điều chỉnh hành vi của mình  
phù hợp với yêu cầu của dư luận xã  
hội đặt ra nhằm mục đích hướng con  
người đến chân, thiện, mỹ. Ca dao,  
tục ngữ Việt Nam được xem là “hòn  
ngọc quý” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 11:  
559) bởi nó đóng vai trò nâng cao đời  
2. ĐẠO ĐỨC VÀ CHUẨN MỰC ĐẠO  
ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM  
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -  
Lênin, đạo đức là “một hình thái ý  
* Trường Đại học Trần Đại Nghĩa.  
NGUYỄN QUẾ DIỆU – NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC…  
15  
thức xã hội, là tập hợp những nguyên nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức sẽ  
tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm được cộng đồng, xã hội đồng tình,  
điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử ủng hộ; còn những hành vi, hành  
của con người trong quan hệ với nhau động trái với các nguyên tắc, chuẩn  
và quan hệ với xã hội, chúng được mực đạo đức sẽ bị cộng đồng, xã hội  
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi phê phán, lên án và xa lánh. Hệ thống  
truyền thống và sức mạnh của dư các chuẩn mực, nguyên tắc, quy tắc,  
luận xã hội” (Học viện Chính trị Quốc giá trị đạo đức phù hợp với đời sống  
gia Hồ Chí Minh, 2014: 8).  
của cộng đồng, xã hội sẽ thúc đẩy xã  
hội phát triển một cách tích cực,  
ngược lại, sẽ tạo nên những ảnh  
hưởng tiêu cực đến quá trình phát  
triển của xã hội.  
Đạo đức là một lĩnh vực chỉ xuất hiện  
trong đời sống của xã hội loài người,  
là một phương thức cơ bản để điều  
chỉnh thái độ, hành vi của các cá nhân,  
cộng đồng nhằm giải quyết mối quan Phẩm chất đạo đức cần có ở các cá  
hệ giữa con người với con người nhân, cộng đồng xã hội trong một xã  
cũng như giữa cá nhân với cộng đồng, hội nhất định như trung thành và sẵn  
xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.  
sàng hy sinh vì Tổ quốc; tình yêu  
thương, nghĩa vụ, trách nhiệm của  
con người đối với con người; hoặc  
những phẩm chất như trung thực, cần  
cù, tiết kiệm, giản dị trong cuộc  
sống… Những quan điểm và những  
phẩm chất đạo đức nói trên đã xuất  
hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống  
xã hội, được các hình thái ý thức xã  
hội phản ánh, trong đó có văn học  
nghệ thuật nói chung và ca dao, tục  
ngữ Việt Nam nói riêng.  
Để con người thực sự hành động phù  
hợp với các yêu cầu đã được đặt ra  
trong các phạm trù đạo đức, thì cần  
phải có một hệ thống các nguyên tắc,  
phương pháp, cách thức có ảnh  
hưởng, chi phối hành vi đạo đức của  
con người, để họ hành động cho đúng,  
cho “chuẩn”, được xã hội chấp nhận  
gọi là chuẩn mực đạo đức. Tác dụng  
của các chuẩn mực đạo đức là nhằm  
điều chỉnh hành vi đạo đức của các cá  
nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội mà  
3. NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC  
mục tiêu cao hơn, đó là nhằm mang CƠ BẢN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM  
lại lợi ích cho chính họ.  
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ  
Đồng thời, khi nói đến đạo đức là nói Với tính xã hội vốn có, ca dao, tục  
đến hệ thống giá trị, trong đó, các tiêu ngữ phản ánh chân thực đời sống,  
chuẩn, giá trị của đạo đức được con sinh hoạt của nhân dân ta trong lịch  
người giải quyết một cách phù hợp và sử phát triển của dân tộc dưới dạng  
đúng đắn mối tương quan về mặt lợi những câu nói, lời thơ ngắn gọn.  
ích: lợi ích của con người, lợi ích của Trong đó, nổi bật nhất là các chuẩn  
cộng đồng, xã hội. Trong đời sống, mực về lòng yêu nước, tinh thần đấu  
con người hành động phù hợp với tranh kiên cường, bất khuất, tinh thần  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (254) 2019  
16  
nhân nghĩa, đoàn kết, hay các đức rất sâu lắng. Trong đó, nhiều câu ca  
tính trung thực, cần cù, tiết kiệm của  
nhân dân ta. Những chuẩn mực đạo  
đức ấy được thể hiện một cách tha  
thiết, sâu lắng bằng những lời nói,  
những câu thơ dân gian tuy ngắn gọn  
nhưng hết sức sâu sắc nhằm phản  
ánh và điều tiết các quan hệ xã hội,  
thái độ, hành vi, ứng xử giữa con  
người với con người trong xã hội Việt  
Nam ở những giai đoạn lịch sử nhất  
định.  
dao, tục ngữ nói lên lòng tự hào đối  
với cảnh đẹp thiên nhiên, con người  
tài hoa hay ca ngợi các sản vật của  
các vùng miền của đất nước… Chẳng  
hạn, ca dao Việt Nam đã khắc họa vẻ  
đẹp phong cảnh thơ mộng của vùng  
đất xứ Nghệ  “Đường vô xứ Nghệ  
quanh quanh/ Non xanh, nước biếc  
như tranh họa đồ” (Trung tâm Khoa  
học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,  
2002, tập 15: 158); hay ca ngợi những  
đức tính tốt đẹp của con người, như  
“ ái Xuân Lai, trai Bảo Tháp” (Trung  
tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Quốc gia, 2002, tập 1: 180) (làng  
Xuân Lai và Bảo Tháp thuộc xã Đông  
Cứ, Gia Bình, Bắc Ninh ngày nay).  
Ngày xưa gái Xuân Lai vốn giỏi đan  
tre, trúc, còn trai làng Bảo Tháp lại giỏi  
trồng trọt và làm lọng. Hoặc “Bến Tre  
gái đẹp thiệt thà/ Nói năng nhỏ nhẹ,  
mặn mà có duyên” (Trung tâm Khoa  
học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,  
2002, tập 15: 13 )…, cũng đã đề cập  
đến các đặc trưng nhất định của  
những người con gái, con trai vừa đẹp  
người đẹp nết, lao động giỏi đến từ  
các vùng, miền khác nhau của quê  
3.1. Lòng yêu nước của người Việt  
Nam trong ca dao, tục ngữ  
Yêu nước là “một trong những tình  
cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố  
qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm  
tồn tại của các quốc gia biệt lập” (V.I.  
Lênin, 1977: 326). Lịch sử hàng nghìn  
năm dựng nước và giữ nước, vừa  
chống chọi với thiên tai, vừa đấu tranh  
chống quân xâm lược đã hun đúc nên  
lòng yêu nước cho các thế hệ người  
Việt Nam. Đối với đất nước ta, yêu  
nước chính là “sợi chỉ đỏ xuyên qua  
toàn bộ lịch sử” (Trần Văn  iàu, 1  0  
100), là một trong những giá trị truyền  
thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.  
Lòng yêu nước của người Việt Nam  
trong ca dao, tục ngữ được thể hiện hương, đất nước.  
qua hệ thống tri thức của nhân dân ta  
Bên cạnh đó, tình cảm của nhân dân  
đối với quê hương, đất nước, đó là  
những tình cảm và ý chí, thúc đẩy mọi  
người dân hành động vì nền độc lập,  
tự do của Tổ quốc.  
Việt Nam đối với quê hương, đất  
nước còn được biểu hiện thông qua  
việc ca ngợi những nghề nghiệp, sản  
phẩm đặc trưng của các vùng, miền  
như  “Bình Lãng rút kén ươm tơ, chợ  
Lòng yêu nước được thể hiện trong  
ca dao, tục ngữ Việt Nam bằng những trâu Quỹ Nhất, bánh đa làng Vò”, “Họ  
Dương lập làng, họ Hoàng đào giếng”,  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
ngôn từ rất gần gũi với cuộc sống,  
sinh hoạt của nhân dân nhưng cũng  
NGUYỄN QUẾ DIỆU – NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC…  
17  
văn Quốc gia, 2002, tập 1: 10 , 1 0)… lòng biết ơn những anh hùng có công  
Khi đề cập đến khả năng “rút kén,  
ươm tơ” người xưa nghĩ ngay đến  
Bình Lãng bởi đây là làng nghề nổi  
tiếng, trở thành thương hiệu của  
người dân nơi đây, còn “Quỹ Nhất” là  
nơi diễn ra mua bán trâu - con trâu  
vốn là “đầu cơ nghiệp” của người Việt  
xưa và nói đến nghề tráng bánh đa thì  
phải kể ngay đến Làng Vò.  
đánh giặc, giữ nước hay ý chí căm thù  
của nhân dân ta đối với kẻ thù  “Bạch  
Đằng giang là sông cửa ải, tổng Hà  
Nam là bãi chiến trường”, “Đánh giặc  
họ Hàn, làm quan học Đặng”, “Hai  
mươi mốt Lê Lai, hai mươi hai Lê Lợi”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 1: 98, 161,  
1  ) đã góp phần giúp nhân dân ta  
ghi nhớ những chiến công lừng lẫy  
trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền  
năm  3 , Lê Hoàn năm   1 và Trần  
Hưng Đạo năm 12  , truyền thống  
đánh giặc của họ Hàn hay nhớ đến  
ngày giỗ của hai vị anh hùng dân tộc  
Lê Lợi, Lê Lai. Hoặc  “Ru con con ngủ  
Đặc biệt, lòng yêu nước còn được thể  
hiện trong ca dao, tục ngữ bằng việc  
đề cao ý chí tự lực, tự cường trong  
xây dựng và bảo vệ đất nước của  
người Việt Nam cũng như phê phán  
các hành vi gây tổn hạn đến đời sống,  
văn hóa của dân tộc và lên án các  
hành vi bán nước, cướp nước của bè cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành  
lũ tay sai, của các thế lực ngoại xâm.  
ông voi/ Muốn coi, lên núi mà coi/ Có  
bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng”,  
“Con ơi con ngủ cho say/ Cha con đi  
giết sạch loài Lang-sa(1) / Lớn lên con  
nối chí cha/ Ra đi giết giặc, nước nhà  
bình yên” (Trung tâm Khoa học Xã hội  
và Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 15:  
251, 262) cho thấy sự căm thù cũng  
như lòng quyết tâm, sẵn sàng hy sinh  
tất cả để đánh đuổi quân xâm lược,  
giành lại độc lập, tự do cho đất nước.  
Để giành lại và giữ gìn được nền độc  
lập, các thế hệ cha ông ta đã trải qua  
nhiều cuộc kháng chiến chống giặc  
ngoại xâm, khẳng định nền độc lập,  
chủ quyền của dân tộc. Nếu như Lý  
Thường Kiệt khẳng định nền độc lập,  
chủ quyền của dân tộc: “Nam quốc  
sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước  
Nam, vua Nam ở), song song đó, ca  
dao, tục ngữ  “Cổ Loa là đất Đế kinh/  
Trông ra lại thấy tòa thành Tiên xây”,  
“Ruộng ta ta cấy ta cày/ Không  
nhường một tấc cho bầy Nhật Tây/  
Chúng mày lảng vảng tới đây/ Rủ  
nhau gậy cuốc, đuổi ngay khỏi làng”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 15: 142, 251).  
Qua ca dao, tục ngữ lên án những  
hành động tham ô, bán nước của  
quan lại triều đình cũng như sự xâm  
lược của kẻ thù. “Chạy như chạy  
chánh tổng”, “Chạy như chạy lý  
trưởng” (Trung tâm Khoa học Xã hội  
và Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 1:  
Ca dao, tục ngữ Việt Nam ca ngợi tinh 776) ám chỉ những vị trí dễ bòn rút,  
thần đấu tranh kiên cường, bất khuất tham ô của dân. Hay lên án chúa  
Nguyễn vì chúa Nguyễn đã từng giao  
chống giặc ngoại xâm; hoặc nói lên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (254) 2019  
18  
hảo với Pháp, tạo tiền đề cho Pháp mối quan hệ thầy - trò, bè bạn  “Muốn  
vào xâm lược Việt Nam, gieo rắc nỗi sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay  
bất hạnh cho nhân dân ta  “Thằng Tây  
hắn ở bên Tây/ Bởi vua chúa Nguyễn  
rước thầy đem sang/ Cho nhà cho  
nước tan hoang/ Cho thiếp ngậm  
đắng, cho chàng ăn cay” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 15: 272).  
chữ thì yêu lấy thầy” (Trung tâm Khoa  
học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,  
2002, tập 15: 619). Với bạn bè, “Bạn  
bè là nghĩa tương tri, sao cho sau  
trước một bề mới nên” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 1: 439). Thông qua ứng  
xử từ những mối quan hệ này với  
hàng xóm, cộng đồng, xã hội con  
người điều chỉnh hành vi của mình  
cho phù hợp, trên tinh thần tương trợ,  
giúp đỡ lẫn nhau như “tối lửa tắt đèn  
có nhau”, đoàn kết, gắn bó với nhau  
để chinh phục thiên nhiên và hợp lực  
tạo nên sức mạnh chống quân xâm  
lược. Rộng hơn nữa, ca dao, tục ngữ  
đề cập đến các quan hệ “đồng bào”  
trong cùng một đất nước, sẵn sàng  
hành động vì tình thương đối với đồng  
bào, đối với quê hương, đất nước.  
Tình thương ấy không chỉ là giúp đỡ  
nhau vượt qua mọi khó khăn, mà còn  
là sự cảm thông, chia sẻ những nỗi  
đau, mất mát của con người trong một  
cộng đồng, xã hội, như  “Một con  
ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 2: 69 ); “Nhiễu điều phủ  
lấy giá gương/ Người trong một nước  
phải thương nhau cùng” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 15: 625).  
3.2. Nhân nghĩa trong ca dao, tục  
ngữ Việt Nam  
Từ xa xưa, con người Việt Nam vốn  
đoàn kết, tương thân, tương ái,  
nương tựa vào nhau để vừa chống  
chọi với những khắc nghiệt của thiên  
nhiên, vừa đấu tranh chống quân xâm  
lược, do đó, tư tưởng nhân nghĩa của  
con người Việt Nam cũng sớm được  
hình thành.  
“Nhân nghĩa” chính là “lòng yêu  
thương và sự trọng điều phải” (Nguyễn  
Lân, 2006: 1323).  
Con người yêu thương nhau phải  
hành động vì nhau và đó là điều phù  
hợp với đạo lý và lợi ích chung của xã  
hội. Điều này được phản ánh trong ca  
dao, tục ngữ Việt Nam trên một số  
phương diện cụ thể.  
Một là, lòng yêu thương, trước hết  
giữa những con người chung huyết  
thống trong gia đình đến mối quan hệ  
với những người xung quanh và cao  
hơn nữa đó là mối quan hệ giữa cá  
nhân với cộng đồng xã hội. “Ơn cha,  
nghĩa mẹ cao dày/ Tình chồng nghĩa  
vợ thảo ngay trọn đời” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 15: 306, 430). Trong  
Hai là, khuyến khích, cổ vũ cho việc  
thiện, điều tốt, bảo vệ lẽ phải, đồng  
thời phê phán, lên án những thói hư  
tật xấu gây hại cho cộng đồng, xã hội.  
Những câu tục ngữ, ca dao  “Có đức  
NGUYỄN QUẾ DIỆU – NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC…  
19  
mặc sức mà ăn” (Trung tâm Khoa học xâm vừa chống chọi với thiên tai và  
Xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2002, cải tạo thiên nhiên đã góp phần to lớn  
tập 2: 133); hoặc  “Làm trai đứng ở  
trên đời/ Sao cho xứng đáng giống nòi  
nhà ta/  hé vai gánh đỡ sơn hà/ Sao  
cho tỏ mặt mới là trượng phu” (Trung  
tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Quốc gia, 2002, tập 15: 1092) qua đó  
nhắn nhủ mọi người biết tôn trọng lẽ  
phải và biết cách xử sự cho đúng mực,  
hợp tình hợp lý trong cuộc sống.  
trong việc hình thành, mở mang nền  
văn hóa dân tộc. Nền kinh tế nông  
nghiệp và đời sống xã hội ở nông thôn  
đã tạo nên sự cố kết và tính cộng  
đồng về mặt dân cư và lãnh thổ của  
các làng, xã. Sự cố kết này dựa trên  
quan hệ láng giềng, huyết tộc hoặc  
dòng họ, hình thành nên quan hệ nhà -  
làng - nước hết sức bền vững của dân  
tộc Việt Nam. Chính vì vậy, để củng  
cố mối liên kết nhà - làng - nước ấy,  
những đòi hỏi về mặt đạo đức cũng  
được đặt ra cho con người sống trong  
cộng đồng xã hội, đó là con người cần  
phải có các đức tính như  trung thực,  
cần cù, tiết kiệm.  
Ba là, bên cạnh sự cổ vũ cho việc làm,  
hành động vì lẽ phải, thì đồng thời lên  
án những hành vi bất nghĩa, phê phán  
những thói hư tật xấu nhằm chống cái  
ác, hướng con người tới cái thiện. “Ác  
giả ác báo, hại nhân nhân hại”, “Cấy  
ác thì gặt ác” (Trung tâm Khoa học Xã  
hội và Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 2:  
629, 631); “Ra tay cầm lửa đốt trời,  
chẳng may lửa rớt lửa rơi xuống đầu”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 2: 640);  
“Nghĩa nhân chi thứ cường quyền/  
Chúng chỉ vì tiền sinh chuyện hại dân”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 15: 636).  
Đức tính trung thực, cần cù, tiết kiệm  
của con người Việt Nam phản ánh  
qua ca dao, tục ngữ khá sâu sắc  “Ăn  
ngay nói thật, mọi tật mọi lành”,  
“Những người tính nết thật thà, đi đâu  
cũng được người ta tin dùng” (Trung  
tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Quốc gia, 2002, tập 2: 618, 624);  
“Người gian thì sợ người ngay/ Người  
ngay chẳng sợ đường cày khúc khiu”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 15  10 5) đã  
đề cao đức tính trung thực của người  
Việt Nam. Con người muốn sống với  
nhau có nghĩa, có tình thì trước hết  
không chỉ phải trung thực, thẳng thắn  
với nhau, mà còn phải tìm mọi cách  
để ngăn chặn các biểu hiện của sự  
giả dối, như  “Bịa láo ông Táo bẻ  
răng”, “Một lời nói dối, sám hối bảy  
ngày” (Trung tâm Khoa học Xã hội và  
3.3. Đức tính trung thực, cần cù,  
tiết kiệm của con người Việt Nam  
trong ca dao, tục ngữ  
Lịch sử dựng nước và giữ nước của  
dân tộc Việt Nam gắn liền quá trình  
hình thành và phát triển nền kinh tế -  
xã hội nông nghiệp truyền thống. Từ  
xa xưa, các thế hệ cha ông ta đã khai  
hoang lập ấp, phát triển chăn nuôi và  
trồng trọt, hình thành các cộng đồng  
dân cư. Hàng ngàn năm qua dân tộc  
Việt Nam vừa đấu tranh chống ngoại  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (254) 2019  
20  
Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 2: 619, tiết kiệm là tính hoang phí. Phê phán  
thói hoang phí ở con người được  
nhấn mạnh để nhắc nhở nhau tránh  
thói hư tật xấu này: “Có đồng nào xào  
đồng ấy”, “Ít chắt chiu hơn nhiều phung  
phí”, “Làm một tấc, ăn một thước”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 2: 689, 691).  
623) nhằm điều chỉnh hành vi của các  
cá nhân trong cộng đồng, xã hội.  
Hay: “Buông tay cày lại quay tay cuốc”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 1: 325); “có  
làm, có ăn”, “Có khó nhọc mới có lọc  
có rang” (Trung tâm Khoa học Xã hội  
và Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 2:  
134)…; hay các câu ca dao “Cày đồng  
đang buổi ban trưa/Mồ hôi thánh thót  
như mưa ruộng cày”, “Ai ơi chớ bỏ  
ruộng hoang/ Bao nhiêu tấc đất, tấc  
vàng bấy nhiêu”, “Muốn no thì phải  
chăm làm/ Một hạt lúa vàng chín giọt  
mồ hôi” (Trung tâm Khoa học Xã hội  
và Nhân văn Quốc gia, 2002, tập 15:  
659, 676, 1106) nói lên đức tính cần  
cù, chịu thương, chịu khó. Bên cạnh  
đó phê phán thói lười biếng: “Ăn thì ăn  
miếng ngon, làm thì chọn việc cỏn con  
mà làm”, “ iàu đâu đến thằng lười”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 2: 130,  
136)…; “ iàu đâu đến kẻ ngủ trưa/  
Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày”  
(Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân  
văn Quốc gia, 2002, tập 15: 1116).  
4. KẾT LUẬN  
Tư tưởng đạo đức trong ca dao, tục  
ngữ Việt Nam là một hình thái ý thức  
xã hội, được hình thành, phát triển  
trên cơ sở, nền tảng của đời sống  
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch  
sử. Ca dao, tục ngữ Việt Nam được  
xem như là một “bộ bách khoa toàn  
thư về kiến thức (…), tôn giáo, triết  
học của nhân dân” (Đinh  ia Khánh -  
Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn,  
2002: 15) và nó góp phần nâng cao  
nhận thức, gìn giữ và lưu truyền hệ  
thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư  
duy của con người, trong đó có đạo  
đức. Các câu nói ngắn gọn, khúc chiết,  
vần điệu nhưng gần gũi và sâu sắc về  
mọi phương diện của đời sống không  
chỉ là những bài học sinh động đối với  
tất cả mọi người mà còn góp phần to  
lớn trong giáo dục, điều chỉnh hành vi  
của con người hướng đến chân -  
thiện - mỹ.  
Tiết kiệm để để dành khi ốm đau, cơ  
nhỡ, khi thiên tai, địch họa là đức tính  
cần thiết của người Việt Nam  “Ăn  
bữa mai để củ khoai bữa mốt”, “Tiết  
kiệm sẵn có đồng tiền/ Phòng khi túng  
nhỡ không phiền lụy ai” (Trung tâm  
Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc  
gia, 2002, tập 2: 687, 6 2). Đối lập với  
Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa  
hiện nay, những tư tưởng đạo đức  
trong ca dao, tục ngữ Việt Nam vẫn  
chứa đựng nhiều giá trị tích cực cần  
được phát huy trong điều kiện mới.  
CHÚ THÍCH  
(1) Lang-sa: Pháp.  
NGUYỄN QUẾ DIỆU – NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC…  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
21  
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2014. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014 của Ban  
chấp hành Trung ương Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng  
yêu cầu phát triển bền vững đất nước.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà  
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
3. Đinh  ia Khánh (chủ biên) - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn. 2002. Văn học dân  
gian Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
4. Hồ Chí Minh. 2011. Toàn tập - tập 6, tập 11. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
5. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 2000. Giáo trình Đạo đức học. Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia.  
6. V.I. Lênin. 1977. Toàn tập - tập 41. Mátxcơva  Nxb. Tiến bộ.  
7. Nguyễn Lân. 2006. Từ điển từ và ngữ Việt Nam. TPHCM: Nxb. Tổng hợp TPHCM.  
8. Nguyễn Như Ý (chủ biên). 1999. Đại từ điển tiếng Việt. Hà Nội  Nxb. Văn hóa - Thông  
tin.  
9. Trần Văn  iàu. 1  0. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội  
Nxb. Khoa học Xã hội.  
10. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia. 2002. Tổng tập văn học dân  
gian người Việt - tập 1, tập 2, tập 15. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 22280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong ca dao, tục ngữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_chuan_muc_dao_duc_co_ban_cua_nguoi_viet_nam_trong_ca_d.pdf