Vấn đề dịch thơ Maiakovski ở Việt Nam

TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN  
Soá 9 - Thaùng 4/2012  
VẤN ĐỀ DỊCH THƠ MAIAKOVSKI Ở VIỆT NAM  
HOÀNG KIM THANH(*)  
TÓM TẮT  
Thông qua việc so sánh các bản dịch thơ Maiakovski của một số dịch giả Việt Nam,  
bài viết góp phần khẳng định một mệnh đề của lí thuyết Tiếp nhận văn học: Người dịch là  
một kiểu độc giả đặc biệt, bản dịch là một cách đọc, có vai trò định hướng và định giá  
nguyên tác.  
Từ khoá: bản dịch, dịch giả, cách đọc, nguyên tác, Maiakovski, thơ  
ABSTRACT  
Through the comparison of the translations of Maiakovski’s poems by some  
Vietnamese translators, the article affirms the statement of the theory of literary reception:  
a translator is a special type of readers whose translated text shows how he has read the  
original text, and role is to orient and evaluate it.  
Key words: translation(s), translator, how to read, original text, Maiakovski, poem  
Dịch là một cách đọc – nhận định này Chúng tôi xin nêu trường hợp các bản dịch  
không mới, thậm chí đã thành cách ngôn. thơ V. Maiakovski (1893-1930) của Trần  
Đối với Lí thuyết Tiếp nhận văn học, nó là Dần (1926-1997), Hoàng Ngọc Hiến  
một mệnh đề quen thuộc khi đề cập đến (1930-2011) và Thế Phong (1932) để thấy  
người biên dịch trong vai trò người đọc lí những cách hình dung không hoàn toàn  
tưởng.  
Sau khi được công bố, tác phẩm văn  
giống nhau về nhà thơ Nga vĩ đại.  
Ở Việt Nam, tên tuổi Maiakovski được  
học bắt đầu bước vào hành trình đi tìm số biết đến như một trong những lá cờ đầu của  
phận của mình trong công chúng độc giả. văn học xã hội chủ nghĩa, được trân trọng  
Tuy nhiên, đối với tác phẩm nước ngoài, đưa vào giáo trình đại học. Tuy nhiên,  
còn cần thêm một khâu trung gian nữa – đó những người dịch thơ ông khá thưa thớt, so  
là dịch thuật. Và dịch giả, trong trường hợp với đội ngũ đông đảo dịch thơ A. Pushkin,  
này, là người đọc đầu tiên, có vai trò quan S. Esenin, A. Blok,… Có thể lí giải điều  
trọng trong việc định hướng, định giá này như sau: Thơ Maiakovski không quen  
nguyên tác.  
thuộc lắm với “gu” thẩm thơ của công  
Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi chúng Việt Nam; cú pháp thơ ông khá trúc  
muốn bàn về chính cái tính cách định trắc, thường xuyên xuất hiện từ vựng mới  
hướng và định giá này của người đọc - dịch (do nhà thơ sáng tạo), cách ngắt nhịp điệu  
giả. Khi tiếp cận tác phẩm văn chương không theo thông lệ... Nghĩa là, xông vào  
thông qua bản dịch, thường xuyên xảy ra địa hạt dịch thuật thơ ông phải là những  
trường hợp cùng là một nguyên tác nhưng người có bản lĩnh nghệ thuật và tất nhiên  
có những cách dịch, cách đọc khác nhau.  
phải hiểu, yêu thơ ông.  
Dịch giả của Maiakovski ở Việt Nam  
(*) ThS, Học viện Kĩ thuật Quân sự  
29  
không nhiều, nhưng khá thú vị khi bàn về  
Người thứ ba chúng tôi muốn nói đến  
cách dịch của họ như những cách đọc khác trong tư cách dịch giả của Maiakovski là  
nhau, trong đó không hiếm khi bị chi phối nhà văn Thế Phong. Sự nghiệp văn chương  
bởi ý thức hệ.  
Dịch giả Việt Nam nổi tiếng nhất của Thơ, truyện, phê bình văn học, khảo luận  
Maiakovski là Hoàng Ngọc Hiến. Ông  
được mệnh danh là “nhà Maiakovski học”. Phong không phải là dịch thơ Maiakovski,  
Danh hiệu này của ông, cho đến nay vẫn là  
duy nhất ở nước ta. Ông viết: “Tôi đã viết hồi kí văn chương Poète Russe của Elsa  
của ông được tính bằng nhiều thể loại:  
và dịch thuật. Thực ra, mục đích của Thế  
ông chỉ thực hiện việc này khi dịch cuốn  
nhiều tiểu luận, đã dịch hàng ngàn trang  
thơ và kịch Maiakovski. Đối với tôi,  
Maiakovski là một sự ám ảnh, một ám ảnh  
lớn”1. Về tiêu chí tín và đạt, có thể trông  
đợi ở những trang dịch của Hoàng Ngọc  
Hiến. Luận án tiến sĩ của ông là viết về  
Triolet (mà ông đặt là Maiakovski và mối  
tình câm), trong đó có nhiều đoạn dài các  
thi phẩm của nhà thơ Nga. Trong tổng số  
113 trang dịch của cuốn Poète Russe, ước  
tính có khoảng 50 trang là thơ.  
Về nguồn dịch, ta thấy chỉ có Hoàng  
Maiakovski. Những người hướng dẫn ông Ngọc Hiến dịch từ nguyên tác tiếng Nga,  
tiếp cận nghệ thuật nhà thơ Nga vĩ đại là  
những chuyên viên có hạng, trong đó có cả  
hai người còn lại dịch thông qua bản tiếng  
Pháp (nghĩa là văn bản bị dịch hai lần), có  
Lili Brick – người phụ nữ nổi tiếng của lúc họ cùng dùng chung bản của Elsa  
Maiakovski.  
Nếu Hoàng Ngọc Hiến là người am cơ hội tiếp xúc với các bản dịch của hai  
tường tiếng Nga, có khả năng dịch  
Maiakovski từ nguyên tác một cách thoải Trần Dần chuyển ngữ từ bản của họ, đối  
mái và khá nhuần nhuyễn, thì Trần Dần  
không có được lợi thế này. Bù lại, ông là tôi thấy nguyên tắc tín và đạt hoàn toàn  
một nhà thơ, say mê một nhà thơ, một thời  
coi Maiakovski là thần tượng thi ca của Triolet là nhà thơ Pháp gốc Nga, có quan  
mình, thậm chí chịu ảnh hưởng rõ rệt xu  
hướng nghệ thuật đó. Hoàng Ngọc Hiến năng bà không hiểu ngôn từ thi ca  
ghi nhận: “Đến nay, tôi đã dịch xong hầu  
hết những tác phẩm chính của Maiakovski. chuyển tải nổi ý tưởng hàm ẩn của ông  
Triolet và Luis Aragon. Chúng tôi chưa có  
nhà thơ Pháp này, nhưng thông qua cách  
chiếu lại với nguyên tác tiếng Nga, chúng  
được đảm bảo. Cũng cần nói thêm, Elsa  
hệ mật thiết với Maiakovski, khó có khả  
Maiakovski, và khó có khả năng bà không  
Còn lại một tác phẩm quan trọng chưa dịch  
được, đó là bản trường ca Cây sáo - cột  
sống. Đây không phải là một tác phẩm khó  
sang tiếng Pháp.  
Để xem cách các dịch giả đọc, tiếp  
nhận Maiakovski, chúng ta thử đối chiếu  
dịch. Nhưng trước mắt tôi có bản dịch của họ dịch như thế nào cùng một văn bản.  
Trần Dần là một bản dịch tuyệt vời. Tôi đã  
dịch đi dịch lại nhiều lần bản trường ca này ca tiêu biểu của thi sĩ Nga là Đám mây mặc  
Chúng tôi chọn vài đoạn trong bốn trường  
nhưng cho đến nay chưa có bản nào sánh  
quần, Cây sáo - cột sống, Vladimir Ilitch  
Lénine và Lớn tiếng.  
được với bản dịch của Trần Dần”2.  
30  
Đoạn đối chiếu 1: Облако в штанах  
Nguyên tác tiếng Nga Bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến  
Bản dịch của Thế Phong  
Я,  
воспевающий Tôi ca ngợi nước Anh và máy móc Tôi tụng ca nhà máy ở Anh  
rất có thể, tôi chẳng là gì hết, chỉ quốc  
машину и Англию,  
может  
просто,  
быть, là vị thánh đồ thứ mười ba trong có lẽ chỉ có mình tôi  
cuốn Phúc Âm thông thường nhất trong số những kẻ thờ ơ với  
Chúa  
в
самом Và trong lúc  
tôi bô bô bậy bạ –  
обыкновенном  
Евангелии  
тринадцатый  
апостол.  
И когда мой голос  
похабно ухает -  
от часа к часу,  
целые сутки,  
может быть, Иисус  
Христос  
là con chiên thứ mười ba Và  
trong tiếng nói của tôi vang  
lên như tiếng chim kêu đêm  
ô uế giờ này đến giờ khác  
này là đêm đã về  
có lẽ Jésus Christ  
hít hương thơm mysotis từ  
tâm hồn ta.  
biết đâu, ngày đêm  
hết giờ này giờ nọ  
Chúa Kitô cứ ngửi mãi không thôi  
những đoá lưu li của tâm hồn tôi  
(Đám mây mặc quần, 1915)  
(Mây quần hội, 1915)  
нюхает  
моей души незабудки.  
Đoạn đối chiếu 2: Флейта-позвоночник  
Nguyên tác tiếng Nga Bản dịch của Trần Dần  
Bản dịch của Thế Phong  
Будешь за море отдана, Dù em đã thề nguyền bên kia Mà  
спрячешься у ночи в норе - mây nước  
я в тебя вцелую сквозь dù em ẩn mình trong ổ kín  
anh hứa hẹn  
ở bên kia bờ,  
tôi sẽ hôn anh  
туманы  
Лондона ban đêm  
anh sẽ hôn em qua sương  
đục Luân Đôn  
В зное пустыни вытянешь cặp môi lửa đèn lồng héo hắt  
караваны,  
огненные губы фонарей.  
ở bên kia  
bờ sương mù  
Luân Đôn  
Đôi môi lửa  
dưới  
ánh đèn đêm.  
Dù trong bãi bình sa cát  
начеку,-  
где  
львы  
тебе  
под  
chảy  
пылью,  
ветром em đi, dằng dặc đoàn người trong sa mạc  
dù ở nơi đây sư tử đứng nóng cháy  
da thịt  
người  
như  
căng nứt  
và sư tử  
рваной,  
положу Сахарой горящую canh  
щеку.  
anh vẫn áp lên em  
nóng bỏng  
má Sahara anh  
gió quật bụi lầm  
31  
(Ống sáo đốt xương sống,  
1916)  
thay  
người gìn giữ –  
và tôi  
thử  
giả dụ  
là anh  
đã nằm  
dưới bụi, xương  
tan tành  
vì gió  
má tôi  
cháy bỏng  
Sahara.  
(Tiếng sáo của người, 1916)  
Đoạn đối chiếu 3: Владимир Ильич Ленин  
Nguyên tác tiếng Nga Bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến  
Время. Thời gian  
Tôi bắt đầu  
kể chuyện Lênin  
Bản dịch của Thế Phong  
Vào thời kỳ này  
tôi bắt đầu  
Начинаю  
про Ленина  
viết  
рассказ.  
Nhưng phải đâu  
lịch  
Но не потому,  
что горя  
đã nguôi  
sử đời Lénine  
nhưng không phải vậy  
mà người ta  
niềm đau xót,  
нету более - Vì chưng  
время  
nỗi nhớ thương  
потому,  
da diết  
không thấm cảm  
что резкая đã sáng lòng tôi,  
ý thức rọi tâm tình  
стала ясною  
тоска  
nỗi đớn đau  
bây giờ  
осознанною  
là lúc niềm đớn đau  
chia lìa,  
trở thành  
болью.  
[…]  
[...]  
Tôi  
tắm mình  
dưới ánh sáng Lênin  
sự xấu xa lương tâm  
trong  
Я
себя  
để rẽ sóng  
sáng  
под Лениным  
bơi xa  
trên  
[…]  
чищу,  
дальше,  
dòng  
Tôi, tôi tự lau chùi  
sự sáng chói  
Lénine  
чтобы плыть  
cách mạng  
в
революцию (Vlađimir Ilits Lênin, 1925)  
để đào sâu hơn nữa  
32  
cuộc  
cách  
mạng  
(Vladimir Ilitch Lénine,  
1925)  
Đoạn đối chiếu 4: Во весь голос  
Nguyên tác tiếng Nga  
И все  
Bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến Bản dịch của Thế Phong  
Và mọi quân đoàn  
vũ trang đầy đủ nhất,  
hai mươi năm nay trong chiến giới tới cằm  
thắng  
mà hai mươi năm  
trong thành công rải  
Và tất cả  
поверх зубов  
вооруженные войска,  
что двадцать лет в  
победах  
đoàn quân trang bị khí  
пролетали,  
до самого  
tung hoành  
xin hiến dâng người, vô sản của rác  
hành tinh,  
hiến dâng toàn bộ,  
последнего листка  
я отдаю тебе,  
планеты пролетарий.  
Рабочего  
tôi sẽ tặng cho họ  
đến trang cuối  
cho mi,  
vô sản địa cầu  
Tất cả vô địch  
của giới thợ thuyền  
luôn luôn là  
thù địch tôi thề hận  
Chúng nó bảo ta  
đi phục vụ  
dưới màu cờ đỏ  
năm khốn khó  
những ngày không có  
ăn  
tận trang cùng, dòng cuối  
kẻ thù của công nhân,  
giai cấp đông ức triệu  
là thù của tôi  
vốn rõ mặt tỏng tong.  
громады  
класса враг -  
он враг и мой,  
отъявленный и Những năm lam lũ  
давний.  
Велели нам  
và những ngày ăn đói  
thôi thúc chúng tôi đi  
dưới ngọn cờ hồng  
идти  
под  
красный флаг  
года труда  
и дни недоеданий.  
[…]  
[…]  
Đến trước  
[…]  
Trước  
Trung ương  
Đảng  
những năm sáng sủa,  
Явившись  
đám C.C.C.  
những năm trong  
в
Це Ка Ка  
идущих đạp lên đầu  
lũ nhà thơ  
sáng  
ở trên  
bịp bợm, giỏi là bọn can đảm  
và bọn ăn  
светлых  
над  
лет,  
бандой  
xoay  
tôi giơ cao lên  
cắp thi ca,  
поэтических  
tấm thẻ Đảng tôi tôi đứng dậy  
рвачей  
и
выжиг я đây,  
như con bài của  
подыму, trăm tập  
Đảng  
как  
sách thơ tôi,  
toàn tập  
33  
большевистский  
партбилет,  
sách Đảng.  
(Lớn tiếng, 1930) Bolchéviks…  
(Giọng nói lớn, 1930)  
tác phẩm của tôi:  
все  
сто  
моих  
томов  
партийных книжек  
Nói đến dịch thuật, người ta thường buộc phải bảo đảm tiêu chí này: Nguyên  
tác có nhã thì bản dịch mới cần nhã. Còn  
như chuyển một nguyên tác không nhã  
thành một bản dịch nhã tức là không tuân  
thủ nguyên tắc tín. Điều này cần đặc biệt  
lưu ý ba nguyên tắc là tín, đạt, nhã. Một  
bản dịch cần vừa đảm bảo độ tin cậy, vừa  
diễn đạt đủ ý, vừa phải tao nhã. Thực ra,  
việc diễn đạt đủ/đạt ý cũng nằm trong tiêu  
chí tín. Chữ tín/đạt này được hiểu không lưu ý khi dịch thơ của các nhà Vị lai4. Các  
phải là lối chuyển dịch từ sang từ (word by tác phẩm của V. Maiakovski là trường hợp  
word), mà là chuyển lại nội dung ngữ như vậy. Thơ ông là một hình thức mới  
nghĩa, văn phong, thậm chí cả nhịp điệu trong việc cắt đứt mọi vần điệu, hoà trộn  
của nguyên tác sang một ngôn ngữ khác. văn ngôn với khẩu ngữ, nhịp điệu biến hoá  
Giữa dịch ngôn ngữ (language translation) khôn lường.  
và dịch ý nghĩa (interpretative translation)  
Ba dịch giả trên đây cố gắng chuyển tải  
giới dịch thuật đánh giá cách dịch sau hơn nội dung và hình thức câu thơ của nhà thơ -  
cách dịch trước. Đọc một số đoạn trích chiến sĩ cộng sản Nga, nhưng không phải  
dịch của Thế Phong trên đây, ta dễ có ấn ai cũng thành công. Qua bản dịch của từng  
tượng là dịch ở cấp độ từ và câu, trong khi người, ta nhìn thấy người nghệ sĩ trong cá  
ấy dịch ý nghĩa phải là dịch ở cấp độ văn nhân họ, đồng thời nhìn thấy họ nhìn nhà  
bản. Dịch thuật cũng là một công việc sáng nghệ sĩ Vị lai Maiakovski như thế nào. Ở  
tạo, đòi hỏi mỗi dịch giả là một nhà nghệ bản dịch của Trần Dần, ta thấy nổi bật  
sĩ; dịch phẩm hay/dở phụ thuộc rất nhiều trước hết là phẩm tính của một thi sĩ. Ngoài  
vào điều này. Tuy nhiên, dù có sáng tạo ví dụ mà chúng tôi đưa ra đối chiếu trong  
như thế nào, người dịch vẫn phải trung bài viết này, Trần Dần còn dịch nhiều thi  
thành với nguyên tác về nội dung, văn phẩm khác của Maiakovski với một sự tinh  
phong. Anh ta không có quyền áp đặt nội tế, tài hoa đặc biệt. Tuy nhiên, chất trữ tình  
dung, tư tưởng hay giọng điệu khác cho lai láng trong bản dịch của ông dường như  
nhà văn. Dịch giả buộc phải dạo cùng một hơi nhiều so với nguyên tác, cho nên chưa  
cung đàn mà tác giả biểu diễn. Albert thật sự làm nổi bật tính nguyên sơ và sự  
Karenski khuyến cáo: “Tôi xin nhắc lại thô nhám rất đặc trưng của “quặng lời”  
một điều tâm niệm: Trong lao động dịch Maiakovski. Đặc điểm này được khắc phục  
thuật, phải giới hạn một cách có ý thức cá trong các bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến.  
tính sáng tạo của mình theo hướng có lợi  
Bên cạnh đó, Hoàng Ngọc Hiến còn khá  
thành công trong việc chuyển tải hình thức  
cho tác giả mình dịch”3. Còn chữ nhã, theo  
kinh nghiệm của nhiều dịch giả, không nên thơ bậc thang, với cách ngắt nhịp để tạo ý  
coi là nguyên tắc chung của dịch thuật, bởi và thay cho vần điệu. Ông ý thức được việc  
không phải bất cứ dịch phẩm nào cũng  
cần phải tạo nên những từ ngữ tương  
34  
đương trong tiếng Việt khi chuyển tải các độc giả lĩnh hội được một tinh thần phản  
hình ảnh phóng đại có khả năng đập vào thị kháng nào đó của Maiakovski đối với  
giác người đọc, các từ ngữ có hiệu lực âm chính quyền – điều mà thực ra không thấy  
thanh tối đa dội vào tai người nghe – đặc ở nguyên tác của ông nói chung và trong  
trưng của thơ Vị lai. Bản dịch của Thế bài thơ được Thế Phong dịch nói riêng.  
Phong thiếu vắng khá nhiều điều căn bản Càng về cuối đời, Maiakovski càng thất  
trên, bên cạnh đó có thể quan sát nhiều chỗ vọng vì “vấp đời phàm tục” trong lí tưởng  
dịch còn sai, thậm chí trái nghĩa, cho nên phục vụ xã hội cũng như trong nhiều mối  
khó chuyển tải đến người đọc chân dung quan hệ cá nhân, tinh thần phê phán của  
chân thực về con người cũng như phong ông đối với những bất cập của đời sống  
cách nhà thơ hàng đầu của nền thi ca xã hội càng trở nên sâu sắc, chua chát hơn, nhưng  
chủ nghĩa. Maiakovski trong nguyên tác bảo đó là sự phản kháng chế độ Xô-viết thì  
cao lớn, chói sáng, hào sảng hơn rất nhiều, không phải. Khác với S. Esenin “Sẵn sàng  
thật sự là một tháp đài sững sững, biểu dâng hết lòng mình cho tháng Mười tháng  
tượng cho sức mạnh và vẻ đẹp một thời Năm/ Nhưng riêng thơ mình tôi xin giữ  
lãng mạn cách mạng.  
lại”, Maiakovski từ ngày đầu đến với cách  
Hai dịch giả miền Bắc, dù thông qua mạng xã hội chủ nghĩa cho đến phút cuối  
nguyên tác Nga ngữ hay thông qua bản nghiệt ngã của cuộc đời, vẫn thề nguyện  
dịch trung gian Pháp ngữ, đều nhìn thấy dành toàn vẹn con người và thơ ca cho Xô-  
trong Maiakovski một nhà thơ trung thành viết”6.  
với lí tưởng cộng sản đến từng con chữ,  
Dịch thuật được coi là sự mở đầu đọc  
từng dấu phẩy, đến hơi thở cuối cùng, văn bản của người dịch và là sự nối tiếp  
nguyện hiến dâng trọn vẹn mình cho “vô đọc của độc giả sau đó, góp phần quan  
sản của hành tinh”. Ở bản dịch của Thế trọng định hướng tiếp nhận cũng như xác  
Phong, ta thấy không phải hoàn toàn như định giá trị tác phẩm nghệ thuật. Việc  
vậy. Ông dịch Poète Russe lần đầu vào chuyển tải trung thành và có tính nghệ  
năm 1963, trong hoàn cảnh Sài Gòn tiếp thuật một nguyên tác sang ngôn ngữ khác  
nhận văn học Nga nhiều điều cơ bản khác đòi hỏi lòng say mê, kiên trì, lao động  
với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Phạm Thị nghiêm túc. Maiakovski là một hiện tượng  
Phương nhận xét: “Thế Phong có một cách đặc biệt của văn hoá đọc. Để tiếp cận được  
“đọc” khác so với cách “đọc” của Hoàng với ông, cần phải có những bản dịch thật  
Ngọc Hiến. Cách đọc đó hình như phù hợp sự biết “đọc” ông, “nghe” được ông. Làm  
với một tinh thần muốn nhìn thấy sự phản được điều ấy, thì dù cho ý thức hệ, cảm  
kháng của người nghệ sĩ đang sống “sau  
bức màn sắt”5. Đọc từng đoạn cũng như  
toàn bộ văn bản thơ dịch trong Maiakovski  
– thi sĩ Nga hay mối tình câm của nàng,  
quan thẩm mĩ của người đọc thế hệ sau có  
chuyển hướng cơ bản so với thời đại ông,  
nghệ thuật của ông vẫn mãi trường tồn.  
Chú thích:  
1 Hoàng Ngọc Hiến (2005), Từ Maiakovski đến Evtusenko, Nxb Đà Nẵng, tr. 5.  
2 Hoàng Ngọc Hiến (2005), Sđd, tr. 7.  
35  
3
Karenski, A. (1996), “Cá tính sáng tạo của dịch giả và “thính giác tu từ”, Văn học nước  
ngoài, số 3, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội, tr. 221.  
4
Chủ nghĩa Vị lai (Futurism, Футуризм): tên gọi chung của một trong những trào lưu  
tiên phong chủ nghĩa trong nghệ thuật thập niên 1910 - 1920, thịnh hành chủ yếu ở Ý và  
Nga. Các nhà Vị lai tuyên truyền phá hủy các hình thức và quy ước của nghệ thuật cũ, vì  
lợi ích của việc sáp nhập nghệ thuật với quá trình tăng tốc cuộc sống thế kỉ XX. Đặc trưng  
của xu hướng này là nghiêng về hành động, chuyển động, sức mạnh, tốc độ, sự phong đại;  
đề cao dấu hiệu thị giác; từ ngữ được giải phóng khỏi khuôn khổ cứng nhắc của thứ tự cú  
pháp, của kết nối logic; từ bỏ lối viết tuyến tính; xây dựng văn bản trên sự tương đồng giữa  
nhiều hình thức.  
5 Phạm Thị Phương (2010), Văn học Nga tại đô thị miền Nam 1954-1975, Nxb Đại học Sư  
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 86.  
6 Phạm Thị Phương (2010), Sđd, tr. 86.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hoàng Ngọc Hiến (2005), Từ Maiakovski đến Evtusenko, Nxb Đà Nẵng.  
2. Karenski, A. (1996), “Cá tính sáng tạo của dịch giả và “thính giác tu từ”, Văn học  
nước ngoài, số 3, Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội.  
3. Маяковский Владимир Владимирович (1978), Полное собрание сочинений.  
Москва, Издательство “Правда”.  
4. Maiakovski, V. (1987), Trường ca, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu, Hà Nội, Nxb  
Văn học.  
5. Maiakovski, V, Trường ca Ống sáo đốt xương sống, Trần Dần dịch, Nguồn:  
6. Phạm Thị Phương (2010), Văn học Nga tại đô thị miền Nam 1954-1975, Nxb Đại học  
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  
7. Triolet, Elsa (1963), (1968), (2004), Maiakovski và mối tình câm, Thế Phong dịch,  
Nxb Tổng hợp Đồng Nai.  
* Nhận bài ngày 13/3/2011. Sửa chữa xong 31/3/2012. Duyệt đăng 5/4/2012.  
36  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 20760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề dịch thơ Maiakovski ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_dich_tho_maiakovski_o_viet_nam.pdf