Vẻ đẹp Hoàng Sa, Trường Sa trong thơ Việt Nam đương đại
19
CHUYÊN MỤC
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC
VẺ ĐẸP HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
ĐẶNG VĂN VŨ*
PHẠM THỊ THU THẢO**
Biển đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, trong đó
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo lớn của đất nước. Trước những thách
thức về vấn đề chủ quyền biển đảo, văn học nghệ thuật đương đại Việt Nam đã
và đang hướng về đề tài biển đảo như một xu hướng tất yếu. Trong đó, thơ cũng
cất lên tiếng nói phản ánh tâm tư, tình cảm của người Việt Nam đối với vùng
biển đảo tiền tiêu. Bằng phương pháp hệ thống và thao tác phân tích, tổng hợp;
bài viết bước đầu tìm hiểu vẻ đẹp của Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện
trong thơ Việt Nam đương đại.
Từ khóa: Hoàng Sa, Trường Sa, biển đảo, vẻ đẹp, chủ quyền
Nhận bài ngày: 18/5/2020; đưa vào biên tập: 26/5/2020; phản biện: 21/6/2020;
duyệt đăng: 22/7/2020
lấy Hoàng Sa, Trường Sa làm đề tài
sáng tác lớn.
1. MỞ ĐẦU
Hiện nay, chủ quyền biển đảo nói
chung và quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa nói riêng đang là vấn đề
mang tính thời sự, là mối quan tâm
hàng đầu của nhân dân Việt Nam.
Toàn dân tộc Việt Nam đang chung
một lòng hướng về Hoàng Sa, Trường
Sa ruột thịt. Văn học nghệ thuật cũng
Thơ viết về biển đảo nói chung xuất
hiện từ rất sớm, nhưng thơ viết về
Hoàng Sa, Trường Sa thì chỉ xuất
hiện sau sự kiện Trung Quốc dùng vũ
lực chiếm đóng trái phép quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 với
bài thơ Trường Sa hành của Tô Thùy
Yên. Đặc biệt sau sự kiện Gạc Ma
1988, văn học Việt Nam nở rộ đề tài
về Hoàng Sa, Trường Sa, trong đó nổi
bật là thơ ca.
* Trường Đại học Sài Gòn.
**
Trường THCS Hưng Long, huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
ĐẶNG VĂN VŨ - PHẠM THỊ THU THẢO – VẺ ĐẸP HOÀNG SA, TRƯỜNG SA…
20
Hiện nay, đã có khoảng hơn 10 tập dung ra bức tranh toàn cảnh về thiên
thơ với hàng trăm bài thơ viết về nhiên và con người nơi đảo xa.
Hoàng Sa và Trường Sa.
2.1 Vẻ đẹp trữ tình của Hoàng Sa,
Trường Sa
Thơ viết về biển đảo nói chung và viết
về Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng
không chỉ là tình cảm của cá nhân thi
sĩ mà đã trở thành tiếng nói chung của
hàng triệu trái tim người Việt Nam, trở
thành thơ của lòng yêu nước. Những
vần thơ lúc hào hùng, lúc sâu lắng
thiết tha đã làm cho mỗi người Việt
Nam thấu hiểu hơn về nơi đầu sóng
ngọn gió của Tổ quốc, tự hào hơn về
truyền thống đấu tranh bất khuất,
ngoan cường của lớp lớp cha anh
trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Thơ Việt Nam hiện đại viết về đề tài
biển đảo luôn nổi bật với các cảm
hứng chủ đạo như khẳng định chủ
quyền lãnh thổ, ca ngợi vẻ đẹp thiên
nhiên, con người Việt Nam, nhất là
những ngư dân bám đảo và những
người lính kiên cường đang bảo vệ
chủ quyền đất nước.
Đất nước Việt Nam với trên 3.000km
bờ biển, nên từ xa xưa cuộc sống của
người dân luôn hướng về biển. Biển
là nguồn cội tự bao đời của dân tộc.
Các nhà thơ đem đến cho người đọc
những nhận biết về vùng biển đảo
Việt Nam rộng lớn với hàng nghìn đảo
lớn, nhỏ khác nhau:
Đất nước tôi ba nghìn cây số biển
Ba nghìn đảo nhỏ, đảo to
Cỏ ở đây ánh màu san hô đỏ
Biển chỉ xanh ở chỗ xa bờ…
(Tổ quốc ba nghìn cây số biển -
Nguyễn Ngọc Phú, 2014)
Cũng chính vì thế, vẻ đẹp thiên nhiên
của biển đảo nói chung và của Hoàng
Sa, Trường Sa nói riêng là vẻ đẹp góp
phần làm nên hồn cốt của đất nước.
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi (2015) cũng
đã ví những hòn đảo ở quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa như những
đứa con kiêu hãnh và dũng mãnh của
Tổ quốc:
2. HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VỚI
VẺ ĐẸP TRỮ TÌNH VÀ HÙNG
TRÁNG
Ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên là nội
dung thường thấy trong văn học.
Không gian biển đảo là không gian
mới lạ với nhiều thi nhân, gợi cho họ
nhiều cảm hứng sáng tạo. Các nhà
thơ viết về Hoàng Sa, Trường Sa với
vẻ đẹp vừa khoáng đạt, bao la, vừa
huyền bí, kỳ ảo, gợi lên nhiều xúc cảm
cho người đọc. Những ai chưa một
lần đến với Hoàng Sa, Trường Sa,
qua những ngôn từ hình ảnh được
các nhà thơ miêu tả vẫn có thể hình
Biển Việt Nam - Thế trụ chẳng xói mòn
Ngàn hòn đảo - Ngàn đứa con kiêu hãnh
Kia Trường Sa, Hoàng Sa bao la
Kia Cồn Cỏ, Lý Sơn dũng mãnh
Đây Sinh Tồn, Song Tử, Gạc Ma...
(Biển Việt - Đỗ Trọng Khơi)
Còn nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ (2013),
với tình cảm tha thiết, ông đã muốn
“ôm ghì” biển cả vào lòng, ông kể tên
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (263) 2020
21
hàng loạt các hòn đảo quen thuộc, Trên cao là trời xanh, xung quanh là
thân thương, như là để nhấn mạnh, biển xanh, trên đảo cây cũng xanh.
khẳng định về sự giàu đẹp của biển
Màu xanh tượng trưng cho sự phát
triển, hòa thuận, tươi mát, màu mỡ.
Màu xanh còn mang ý nghĩa của sự
phát triển, hòa bình, và hy vọng. Bên
cạnh màu xanh chủ đạo của biển, của
trời, bức tranh thiên nhiên ở Trường
Sa còn được nhà thơ điểm xuyến
thêm gam màu đặc biệt của hoa bàng
vuông, hoa phong ba và các loài hoa
khác trên đảo, làm tăng thêm vẻ đẹp
nơi đây:
đảo quê hương:
Muốn ôm ghì bãi san hô - chiến lũy
Những pháo đài vươn sóng Bạch Đằng
giang
Khi Đá Lát, Sinh Tồn, Song Tử
Lúc dịu dàng Tiên Nữ, An Bang…
(Thao thức Trường Sa -
Nguyễn Thế Kỷ)
Với bút pháp liệt kê, các nhà thơ đã
gọi tên từng hòn đảo ở Trường Sa.
Mỗi một hòn đảo được ví như một
đứa con của Tổ quốc thân yêu, mỗi
hòn đảo mang bề thế bao la, dũng
mãnh giữa biển khơi, mãi tồn tại theo
thời gian, không thể xói mòn. Giữa
không gian của trời, nước bao la, vô
tận, hình ảnh những hòn đảo hiện lên
là ghi dấu của chủ quyền đất nước, là
sự sống, là minh chứng cho sự giàu
đẹp của Tổ quốc Việt Nam. Khi nhắc
đến biển là gợi nhớ đến truyền thuyết
con Rồng cháu Tiên, gợi nhắc đến
bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ và đặc
biệt cha Lạc Long Quân là con của
thần Long Nữ, xuất thân từ biển. Điều
này được nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ
(2013) viết trong bài thơ Trường Sa:
Có những điều giản dị
Chỉ nhận ra khi ở Trường Sa
Giản dị như màu hoa
Ở biển chỉ hai màu trắng, tím
Tím hoa muống biển, hoa đậu biển
Trắng hoa bão táp, hoa phong ba,
Hoa đại, hoa trinh nữ hoàng cung, hoa
cây tra,…
Riêng hoa bàng vuông hai màutím- trắng
(Giản dị Trường Sa – Nguyễn Huy
Cường, 2014)
Quần đảo Trường Sa, nơi quanh năm
nắng gió, mưa bão, hơi nước mặn
của biển đến cả vật liệu bằng bê tông
cốt thép cũng hư hỏng, phải thường
xuyên gia cố, nhưng cây bàng vuông
vẫn mọc rễ, cắm sâu vào nền đá san
hô, vươn lên xanh tươi, sum suê, giữa
nơi khí hậu khắc nghiệt. Đặc biệt, loại
cây này chỉ nở hoa vào mùa xuân và
hoa thường nở về ban đêm, vào
khoảng giao thời giữa ngày cũ và
ngày mới. Hoa bàng vuông có hương
thơm thanh khiết, được mệnh danh là
“nữ hoàng của các loài hoa” trên đảo
Biển xanh hát dưới trời xanh
RồngTiên thuở ấy sinh thànhTrường Sa
Trùng khơi nào có ngái xa
Lung linh hạt cát đã là quê hương
(Trường Sa - Nguyễn Thế Kỷ)
Trường Sa đẹp bởi màu xanh của
biển hòa cùng màu xanh của trời.
ĐẶNG VĂN VŨ - PHẠM THỊ THU THẢO – VẺ ĐẸP HOÀNG SA, TRƯỜNG SA…
22
Trường Sa. Với mọi người trên đảo, vẫn tươi xanh giữa đại dương bao la
khi những nụ hoa bàng vuông xuất hùng vĩ.
hiện là tín hiệu mùa xuân đến. Những
Với nhà thơ Lê Thị Mây (2013), bức
nụ hoa ấy tỏa hương, khoe sắc đến
tranh thiên nhiên ở Trường Sa ngoài
mùa hè. Màu tím - trắng của hoa bàng
một màu sóng nước mênh mang còn
vuông là biểu tượng của Trường Sa,
có hình ảnh đỏ rực, chói lọi của vầng
là nét đẹp của thiên nhiên. Loài hoa
mặt trời, tô vẽ nên một Trường Sa rực
này tượng trưng cho sự mạnh mẽ,
rỡ, sừng sững, hiên ngang:
kiên cường, dũng cảm của những con
Sóng và đảo, trời và nước Trường Sa
người đang ngày đêm canh giữ, bảo
Biên giới biển mênh mang
vệ chủ quyền bầu trời, biển đảo của
Mặt trời mọc làm chân cột mốc
Tổ quốc.
Cho từng ngày Tổ quốc bình yên
Ngoài cây bàng vuông, cây phong ba
(Trường Sa - Lê Thị Mây)
cũng là một loài cây rất đặc biệt ở
Mặt trời ngày ngày mọc và lặn xoay
quần đảo Trường Sa:
quanh đảo như một cột mốc chủ
Cây phong ba mọc bình yên
quyền, gợi nhắc về ý thức bảo vệ biển
đảo.
Trên cát trắng của một miền đảo xa
Sinh Tồn, Nam Yết, Sơn Ca…
Nhấp nhô sóng biếc la đà bóng cây
Thân khúc khuỷu, lá to dày
Ngoài sóng biển, gió, cát, cây cối thì
thiên nhiên trên quần đảo Trường Sa
còn được tô điểm thêm những hình
ảnh đẹp thông qua bàn tay lao động
của con người. Quân và dân trên đảo
Trường Sa chấp nhận sự khắc nghiệt
của khí hậu, vượt qua mọi thiếu thốn,
nương vào thiên nhiên để làm cho
cuộc sống hàng ngày trên đảo thêm
tươi mới, thanh bình hạnh phúc hòa
trong tiếng sóng. Nhà thơ Nguyễn Văn
Hiếu (2014) đã khắc họa bức tranh
một Trường Sa nơi ngàn trùng khơi
xa thật yên bình, đầy màu sắc, xanh
mướt mắt với những cảnh vật đầy sức
sống tươi vui như miền đất liền của
Tổ quốc:
Nảy chồi ngay cả những ngày nắng nung
Còn khi trời biển bão bùng
Hồn nhiên cây đứng trần lưng xây thành
Không trốc rễ, không gãy cành
Vẹn nguyên đến cả những nhành non tươi
(Cây phong ba đảo Trường Sa -
Ngô Xuân Hội, 2014)
Do có thể chịu được gió bão, nước
mặn và sống tốt trên bãi cát san hô
nên cây phong ba được trồng trên đảo
để chắn gió, cố định cát. Hoa cây
phong ba nhỏ, có màu trắng, mọc
thành chùm đầu cành. Hình ảnh hàng
cây phong ba vững chải đối mặt với
Vậy mà vẫn rau xanh, những mùng tơi,
biển, trở thành biểu tượng hiên ngang, muống cạn,
bất khuất của quân và dân Trường Sa, Hoa mướp vàng kéo mùa hạ về đây
dù điều kiện sống khắc nghiệt đến đâu
Mấy chú chó con nằm sưởi nắng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (263) 2020
23
Tiếng gà trưa lẫn tiếng sóng ầm ào.
(Đi qua mùa giông bão -
2.2 Vẻ hùng tráng của Hoàng Sa,
Trường Sa
Nguyễn Văn Hiếu) Thiên nhiên vùng biển đảo nơi đây
không phải lúc nào cũng thơ mộng,
Hay như sự phấn khích, ngạc nhiên
trữ tình và hiền hòa, bên cạnh vẻ đẹp
quyến rũ của nghìn trùng đảo xa, các
nhà thơ cũng không quên khắc họa
sự khắc nghiệt và dữ dội của thiên
nhiên nơi đảo xa:
của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý (2013)
khi chứng kiến những hình ảnh hết
sức bình dị, thân thương trên đảo:
Trập trùng sóng, trập trùng mây
Giữa bao la biển, ô hay, làng mình!
Cũng vàng hoa mướp rung rinh
Trường Sa ngập đầy gió bão
Trường Sa nắng bụi dữ dằn
Cũng tươi hoa muống trắng tinh cạnh nhà Phong sương làm phai màu áo
Khuya nghe tiếng thở chị Hằng
Mồng tơi ra với Trường Sa
(Chú ở Trường Sa - Nguyễn Lãm
Lá xanh quấn quýt như là đợi em…
Thắng, 2014)
Muốn xem ra đó mà xem
Chỉ với bốn câu thơ, nhà thơ đã khắc
họa rõ nét hoàn cảnh thời tiết không
mấy thuận lợi của một Trường Sa
“ngập đầy gió bão, nắng bụi dữ dằn”,
“phong sương làm phai màu áo”. Quả
thật, điều kiện tự nhiên và khí hậu nơi
đảo xa rất khắc nghiệt: nắng gió, dông
bão thường xuyên, thiếu nước ngọt,
nhiều đảo không có cây. Một số hiện
tượng thời tiết cũng diễn biến khác
với trong đất liền. Khí hậu ở quần đảo
Trường Sa chỉ có hai mùa: mùa khô
và mùa mưa. Cùng với đó là hiện
tượng dông trên vùng biển quần đảo
này rất phổ biến, có thể nói quanh
năm, tháng nào cũng có dông và là
nơi thường có bão lớn đi qua, tập
trung vào các tháng mùa mưa. Tuy
nhiên, giữa sự khắc nghiệt “dữ dằn”
ấy của thiên nhiên, con người vẫn
sống, vẫn sinh tồn như tên gọi của
một hòn đảo nơi đây. Những người
Rau sam trên đá, rau dền trong khay…
(Làng đảo - Nguyễn Hữu Quý)
Giữa nơi muôn trùng sóng nước,
không có đất, chỉ là cát, đá, san hô
mà những con người nơi đảo xa đã
cải tạo thiên nhiên, đã ươm mầm cho
sự sống sinh sôi, làm đẹp thêm cho
cuộc sống bình yên trên đảo. Những
loài rau, với màu vàng rực rỡ của hoa
mướp, màu trắng tinh khôi của hoa
muống ở quê nhà, với những rau
sam, rau dền, mồng tơi bình dị đã
làm dịu đi cái nắng nóng, cái khô cằn
của cát sỏi và cái mặn rát của gió
biển. Hình ảnh này xoa dịu đi nỗi nhớ
nhà của những người lính xa quê,
giúp họ như thấy đất liền thật gần,
thật thân thương và như hiển hiện
ngay bên mình. Những điều bình dị
ấy làm cho người lính vững tay súng
hơn để hoàn thành nhiệm vụ thiêng lính hải quân phải làm nhiệm vụ canh
gác vào ban đêm, họ phải đối diện với
liêng của mình.
ĐẶNG VĂN VŨ - PHẠM THỊ THU THẢO – VẺ ĐẸP HOÀNG SA, TRƯỜNG SA…
24
không gian vắng lặng đến nỗi có thể phải lúc nào cũng được miêu tả trực
nghe được “tiếng thở của chị Hằng”. tiếp, lại càng không mới lạ, nên thơ
Nhà thơ dùng bút pháp nhân hóa để như những người mới lần đầu ra đảo.
thiên nhiên có hồn hơn, để sự giao Thiên nhiên của Trường Sa trong con
cảm giữa thiên nhiên và con người mắt của những nhà thơ - chiến sĩ là
được nâng lên đến mức có thể thấu thiên nhiên mạnh mẽ, dữ dội và có
hiểu được nhau, có thể nghe được phần khắc nghiệt. Điều này có thể
tiếng thở của nhau như tri kỷ tri âm. nhận thấy rõ trong thơ của nhà thơ
Khi ấy, chị Hằng không còn là ánh Trần Đăng Khoa. Với tập thơ Trường
trăng vô tri vô giác nữa, mà sống động, Sa gồm 16 bài viết về quần đảo
gần gũi, chứa chan tình cảm.
Trường Sa thiêng liêng, nhà thơ Trần
Đăng Khoa (2014) đã có đến 9 bài nói
đến vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây. Ví
như:
Phong cảnh Trường Sa bao la, nhấp
nhô đảo nổi, đảo chìm theo thủy triều,
nhưng thiên nhiên Trường Sa khắc
nghiệt, phong ba, bão tố, hiểm nguy
rình rập:
Lúc nào biển cũng là biển động
Sóng ngả nghiêng ầm vỡ quanh nhà
Trường Sa đảo nổi, đảo chìm
Thủy triều xuống, thủy triều lên vơi đầy
Trời rộng cao, biển sâu dày
(Chim sơn ca trên đảo Sơn Ca -
Trần Đăng Khoa)
Và kể cả những lúc:
Mồ hôi trộn máu nơi đây mặn mòi
Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng
(Nhà giữa biển - Phạm Đình Ân, 2014)
Đá củ đậu bay như lũ chim hoang
Trường Sa với vị trí tiền tiêu, nơi chắn
sóng của Tổ quốc, giống như một
người anh cả, luôn phải vững vàng,
che chở cho đất liền hậu phương. Trải
qua hàng nghìn năm dựng nước và
giữ nước, biết bao trận hải chiến
quyết liệt đã diễn ra để giữ vững chủ
quyền đất nước, mồ hôi và máu của
cha ông, của những người đi trước đã
quyện cùng nước biển tạo nên vị mặn
đến xót lòng. Bởi thế nên khi đứng
trước không gian mênh mông của trời,
hòa cùng chiều sâu vô tận của biển,
nhà thơ thấy đất nước mình to đẹp và
thật hào hùng.
(Lính đảo hát tình ca trên đảo - Trần
Đăng Khoa)
Hoặc như bài thơ Hát về hòn đảo
chìm, Trần Đăng Khoa (2015) viết:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Dưới chân sóng mây. Trên đầu sóng
nước
Chim đập cánh bạt vào cửa bạt
Nhưng ở xa thì chẳng thấy gì đâu
Chỉ thấy đại dương đen sẫm một màu
Chảy vật vờ dưới sắc trời tỉnh táo
(Hát về hòn đảo chìm - Trần Đăng
Khoa)
Nhà thơ bằng đôi mắt quan sát tinh
tường đã miêu tả lại thiên nhiên nơi
đây dù là khắc nghiệt nhưng vẫn vô
cùng sống động. Đối với các chiến sĩ
Đặc biệt, đối với những nhà thơ từng
là chiến sĩ làm nhiệm vụ ở Trường Sa,
vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây không
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 7 (263) 2020
25
làm nhiệm vụ nơi hải đảo, những hình ngoại bang dòm ngó. Vì thế, dù khí
ảnh như: sóng ngả nghiêng, sóng mây, hậu khắc nghiệt nhưng người Việt
sóng nước, gió rát mặt, đá bay, chim Nam vẫn tiếp nối nhau “Sinh Tồn” trên
đập cánh… trở nên hết sức quen Hoàng Sa, Trường Sa vì chủ quyền
thuộc, gần gũi, làm cho cuộc sống đất nước.
giữa biển khơi bớt hiu quạnh. Tất cả
3. KẾT LUẬN
là những mảnh ghép nhỏ để tạo nên
Trước những diễn biến phức tạp về
bức tranh Trường Sa hoàn mỹ, đa
vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo
chiều.
hiện nay, các nhà thơ Việt Nam
Và nơi hải đảo xa là biết bao sản vật
đương đại đã dùng những vần thơ
quý hiếm mà mẹ thiên nhiên đã hào
đẹp đẽ, sinh động và chân thành, tha
phóng ban tặng cho con người.
thiết để khơi dậy ý thức bảo vệ biển
Cá quẫy trắng trời
đảo trong lòng mọi người dân Việt
Nam. Thông điệp mà các nhà thơ gửi
gắm, đó là: người Việt Nam phải giữ
gìn biển đảo, một phần lãnh thổ thiêng
Cánh tay trần cuộn sóng
Cá ngừ đại dương ăn sống
Cá thu cá bóp nướng than hồng…
(Biển mặn - Nguyễn Trọng Tạo, 2015) liêng của đất nước. Có thể nói, với
hàng loạt bài thơ, trường ca viết về
Người Việt Nam luôn tự hào về đất
Hoàng Sa, Trường Sa trong thơ Việt
nước có “rừng vàng biển bạc”. Song,
Nam đương đại, các nhà thơ đã cắm
vùng biển ở Hoàng Sa, Trường Sa
thêm những cột mốc chủ quyền bằng
không chỉ phong phú về sản vật mà
văn chương cho vùng lãnh hải thiêng
còn có vị trí đắc địa về giao thông phát
liêng trên Biển Đông vào lòng mỗi
triển kinh tế... trên Biển Đông, nên
người dân Việt Nam.
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa luôn
nằm trong “tâm điểm” bị các thế lực
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Đỗ Trọng Khơi. 2015. “Biển Việt”, trong Những con mắt biển. Đà Nẵng: Nxb. Đà
Nẵng.
2. Lê Thị Mây. 2013. “Trường Sa”, trong Người sau chân sóng. Hà Nội: Nxb. Quân
đội Nhân dân.
3. Ngô Xuân Hội. 2014. “Cây phong ba đảo Trường Sa”, trong Biển đảo tổ quốc tôi.
Hà Nội: Nxb. Văn học.
4. Nguyễn Hữu Quý. 2013. “Làng đảo”, trong Hạ thủy những giấc mơ. Hà Nội: Nxb.
Lao động.
5. Nguyễn Huy Cường. 2014. “Giản dị Trường Sa”, trong Biển đảo tổ quốc tôi. Hà
Nội: Nxb. Văn học.
6. Nguyễn Lãm Thắng. 2014. “Chú ở Trường Sa”, trong Biển đảo tổ quốc tôi. Hà Nội:
ĐẶNG VĂN VŨ - PHẠM THỊ THU THẢO – VẺ ĐẸP HOÀNG SA, TRƯỜNG SA…
26
Nxb. Văn học.
7. Nguyễn Ngọc Phú. 2014. “Tổ quốc ba nghìn cây số biển”, trong Biển đảo tổ quốc
tôi. Hà Nội: Nxb. Văn học.
8. Nguyễn Thế Kỷ. 2013. “Thao thức Trường Sa”, trong Về tổ. TPHCM: Nxb. Trẻ.
9. Nguyễn Thế Kỷ. 2013. “Trường Sa”, trong Về tổ. TPHCM: Nxb. Trẻ.
10. Nguyễn Trọng Tạo. 2015. Biển mặn. Hà Nội: Nxb. Hội Nhà văn.
11. Nguyễn Văn Hiếu. 2014. “Đi qua mùa giông bão”, trong Trong gió Trường Sa.
Hà Nội: Nxb. Kim Đồng.
12. Phạm Đình Ân. 2014. “Nhà giữa biển”, trong Trong gió Trường Sa. Hà Nội: Nxb.
Kim Đồng.
13. Trần Đăng Khoa. 2014. “Lính đảo hát tình ca trên đảo”, trong Tuyển tập Trường
Sa. Hà Nội: Nxb. Văn học.
14. Trần Đăng Khoa. 2014. “Chim sơn ca trên đảo Sơn Ca”, trong Tuyển tập
Trường Sa. Hà Nội: Nxb. Văn học.
15. Trần Đăng Khoa. 2015. “Đảo chìm Trường Sa”, trong Hát về hòn đảo chìm. Hà
Nội: Nxb. Văn học.
Bạn đang xem tài liệu "Vẻ đẹp Hoàng Sa, Trường Sa trong thơ Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ve_dep_hoang_sa_truong_sa_trong_tho_viet_nam_duong_dai.pdf

