Bi kịch nhân vật trong tiểu thuyết Sóng ở đáy sông của Lê Lựu

Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
BI KỊCH NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT SÓNG Ở ĐÁY SÔNG  
CỦA LÊ LỰU  
Phan Văn Tiến*, Nguyễn Thị Tuyết Nghi, La Thị Mỹ Hạnh và Phan Mộng Giúp  
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Đô  
(*Email: [email protected])  
Ngày nhận: 11/6/2020  
Ngày phản biện: 11/8/2020  
Ngày duyệt đăng: 21/9/2020  
TÓM TẮT  
Bi kịch là sự xung đột giữa cái đẹp và cái xấu, giữa khát vọng con người với cuộc sống  
không thể thay đổi, không đáp ứng được, là sự dằn vặt về tinh thần mà khó có thể giải thoát  
được. Bi kịch nhân vật diễn ra trong một tình huống cực kì căng thẳng mà nhân vật phát  
triển theo chiều hướng khác nhau. Trong tiểu thuyết Sóng ở đáy sông, nhà văn Lê Lựu miêu  
tả nhân vật với những gian khổ, thiếu thốn lẫn mất mát trong cuộc sống gia đình, về cuộc  
sống mưu sinh cũng như về tình yêu đôi lứa mà nhân vật phải nếm trải. Đó là câu chuyện  
dài về cuộc đời đau thương của nhân vật Núi, một con người giàu ý chí vươn lên nhưng  
không ngừng vấp phải những ngang trái của tình người và trói buộc của những hủ tục,  
khiến cuộc đời anh rơi vào cảnh bế tắc, bi đát. Qua câu chuyện giàu tình tiết, nhà văn Lê  
Lựu đã gởi đi một thông điệp đầy tinh thần nhân đạo về ý nghĩa của tình yêu và vai trò của  
gia đình đối với việc hình thành nhân cách và quyết định hạnh phúc của con người.  
Từ khóa: Bi kịch nhân vật, tiểu thuyết Sóng Ở Đáy Sông  
Trích dẫn: Phan Văn Tiến, Nguyễn Thị Tuyết Nghi và La Thị Mỹ Hạnh, 2020. Bi kịch nhân  
vật trong tiểu thuyết Sóng Ở Đáy Sông của Lê Lựu. Tạp chí Nghiên cứu khoa  
học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 09: 205-220.  
*Ths. Phan Văn Tiến – Giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Đô  
205  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
người lính (truyện ngắn - 1968), Đồng  
bằng chiến sĩ (truyện ký, 1980), Mở  
rừng (tiểu thuyết - 1977), Ranh giới (tiểu  
thuyết - 1977), Thời xa vắng (tiểu thuyết -  
1986), Đại tá không biết đùa (tiểu thuyết -  
1990), Chuyện làng Cuội (tiểu thuyết -  
1993), Sóng ở đáy sông (tiểu thuyết -  
1994), Hai nhà (tiểu thuyết - 2000), Một  
thời lầm lỗi (bút kí - 1988), Trở lại nước  
Mỹ (bút kí - 1989),… Đặc biệt, tiểu  
thuyết Sóng ở đáy sông được nhà văn Lê  
Lựu sáng tác vào năm 1994. Đây là tiểu  
thuyết được ông viết theo đơn đặt hàng  
của nhà xuất bản Hải Phòng. Nó không  
chỉ là nơi ông trưởng thành nghề văn mà  
trong những năm 90 của thế kỉ XX, Lê  
Lựu là một nhà văn có những mối quan  
hệ rộng rãi với những người lãnh đạo  
thành phố. Ông được tạo mọi điều kiện  
để có cơ hội sống và thâm nhập sâu hơn  
vào đời sống của con người nơi đây. Từ  
đó, ông tích lũy được nhiều kinh nghiệm  
thực tiễn cho bản thân về con người  
cũng như vùng đất Cảng. Chính vì  
những hiểu biết sâu sắc ấy, cộng thêm  
ngòi bút sắc sảo của mình mà trong một  
lần gặp chánh phó giám đốc nhà xuất  
bản hai bên đã thỏa thuận: “Lê Lựu viết  
cho nhà xuất bản Hải Phòng một cuốn  
tiểu thuyết, mà từ nhân vật đến cốt  
truyện đều xảy ra tại Hải Phòng”  
(Nguyễn Bích Thu, 1996).  
1. GIỚI THIỆU  
Bi kịch được xem là sự đối thoại với  
hài kịch, nó phản ánh không phải bằng  
sự tự sự mà bằng hành động của nhân  
vật chính, mối quan hệ không thể điều  
hòa giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả  
và cái thấp hèn. Ta cần phân biệt rõ ràng  
giữa bi kịch và nỗi đau thương mất mát.  
Bi kịch thường gắn liền với đau thương,  
mất mát nhưng không phải mọi đau  
thương, mất mát đều là bi kịch. Nó diễn  
ra trong một tình huống cực kì căng  
thẳng mà nhân vật thường chỉ thoát ra  
khỏi nó bằng cái chết bi thảm và gây nên  
những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối  
với công chúng. Theo Aristotle, “bi kịch  
là những sự bắt chước hành động hệ  
trọng và trọn vẹn nhằm dùng hành động  
chứ không phải bằng kể chuyện, bằng  
cách gây nỗi xót thương và nỗi sợ hãi để  
thực hiện sự thanh lọc những nỗi xúc  
động tương tự” (Lê Bá Hán, 1997).  
Nhà văn Lê Lựu là một trong những  
cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt  
Nam sau 1975, với những tác phẩm làm  
thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn, cách  
đánh giá của con người về cuộc sống. Lê  
Lựu là một trong những người đi tiên  
phong trong phong trào đổi mới văn  
chương. Nhà văn chính là người đã vẽ ra  
cho các thế hệ văn sĩ phía sau ông những  
hướng đi cho sự phát triển của tiểu  
thuyết nói chung và các thể loại khác nói  
riêng. Những sáng tác của ông giàu giá trị  
nhân văn và có tầm ảnh hưởng lớn trên  
văn đàn như: Người cầm súng (truyện  
ngắn - 1970), Phía mặt trời (truyện ngắn  
- 1972), Campuchia một câu hỏi lớn  
(truyện ngắn - 1979), Mặt trận của  
Tiểu thuyết Sóng ở đáy sông, một câu  
chuyện dài về cuộc đời đau thương của  
nhân vật Núi khi phải chịu nhiều thiệt  
thòi, bất hạnh từ lúc nhỏ cho đến khi  
trưởng thành mà vẫn không tìm thấy  
được sự bình yên và hạnh phúc. Nhà văn  
đã rất tinh tế trong việc miêu tả tình tiết  
206  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
trong tác phẩm, nó luôn có sức hấp dẫn còn không rõ cha mình làm nghề gì mà  
và thu hút người đọc. Tìm hiểu bi kịch chỉ nghe mọi người nói lại thôi: “Hắn  
nhân vật trong tiểu thuyết Sóng ở đáy không biết cha mình làm gì, chỉ thấy nói  
sông của Lê Lựu, chúng ta sẽ có cách ông làm bàn giấy ở trong Cảng từ hồi  
nhìn về bi kịch nhân vật trong văn học, thời Pháp và khi ta tiếp quản ông vẫn là  
về phong cách viết văn và quan niệm cán bộ bàn giấy ở đấy” (Lê Lựu, 1994).  
của nhà văn về cuộc sống.  
Tuy là cha con với nhau nhưng không  
khi nào được cha nói tới, ông luôn  
nghiêm ngặt với anh, vì thế tình cảm cha  
con cũng không được thân thiết cho lắm.  
Tuy mang danh là con bà hai trong một  
gia đình giàu sang có tiếng, thế nhưng so  
với các anh con bà lớn thì cuộc sống của  
mẹ con Núi với họ như hai tầng lớp đối  
nghịch. Trong khi con bà lớn được yêu  
thương đặt cho những cái tên hay họ ý  
nghĩa An, Nam, Quốc, Bình, Yên, Vạn,  
Sự, Như, Ý còn anh em Núi thì lại là  
những cái tên quê mùa, cục mịch Núi,  
Sông, Biển, Cả, Phồn. Trong khi con bà  
lớn được đủ đầy mọi mặt, ăn sung mặc  
sướng, sống với những điều kiện tốt  
nhất.: “Cha và các anh con mẹ cả ở tầng  
hai 2, mỗi người riêng một phòng” (Lê  
Lựu, 1994), còn mẹ con Núi thì lại ở  
tầng dưới với nơi sinh hoạt thì chật chội,  
không được học hành, không được dạy  
dỗ và sống với nhiệm vụ duy nhất là  
phải hầu hạ sao cho những người tầng  
trên cảm thấy hài lòng, nếu không đừng  
mong sống yên trong cái gia đình ấy.  
Cùng là anh em, chảy chung một dòng  
máu nhưng mọi tủi cực, thiệt thòi chỉ  
riêng anh em Núi gánh chịu, phải phục  
vụ người thân như kẻ hầu người hạ: “Cả  
nhà chỉ ăn chung một bữa tối. Giúp mẹ  
dọn cơm xong, thằng nhớn, tức là hắn  
lên đứng ngoài của từng phòng khoanh  
hai tay trước ngực: “Con mời cậu đi xơi  
cơm ạ”, “Con mời anh đi xơi cơm ạ””  
2. NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ BI  
KỊCH NHÂN VẬT TRONG TIỂU  
THUYẾT SÓNG Ở ĐÁY SÔNG CỦA  
LÊ LỰU  
Bi kịch trong tiểu thuyết của Lê Lựu là  
những vấn đề hoàn toàn mới, được ông nhìn  
dưới những góc độ khác nhau từ những mối  
quan hệ bình thường trong cuộc sống. Nó là  
những nỗi đau khổ, bất hạnh của con người  
khi gặp bế tắc, là những bước ngoặt cuộc  
đời, bắt các nhân vật phải cam chịu chứ  
không thể làm khác được. Điều này được  
nhà văn Lê Lựu tái hiện sống động trong  
tiểu thuyết Sóng ở đáy sông qua: bi kịch  
nhân vật trong cuộc sống trong gia đình,  
trong cuộc sống mưu sinh, trong tình  
yêu đôi lứa.  
2.1. Bi kịch nhân vật trong cuộc  
sống trong gia đình  
Trong tiểu thuyết Sóng ở đáy sông,  
nhà văn Lê Lựu xây dựng nhân vật Núi  
có cuộc đời mang nhiều bi kịch trong  
cuộc sống gia đình. Anh sinh ra trong  
một gia đình với người cha có ba người  
vợ. Núi là con cả của bà hai nhưng mẹ  
anh sống trong trong nhà như một con ở  
chẳng có quyền hành gì: “Hắn là thứ ba  
nhưng kể người sống thì hắn là con cả  
của bà hai. Mẹ hắn nguyện là người ở  
nên sống với bà cả vừa là em, vừa là con  
hầu” (Lê Lựu, 1994). Bất hạnh đến nỗi  
207  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
(Lê Lựu, 1994). Rồi đến lúc cả nhà vào làm cha chỉ bảo và dạy dỗ để biết thế  
mâm để ăn cơm, những đứa trẻ ở tầng nào là đúng, thế nào là sai.  
dưới cũng phải kính cẩn: “Đồng loạt  
khoanh tay mời: “Con mời cậu xơi cơm.  
Em mời các anh xơi cơm ạ”” (Lê Lựu,  
1994). Nếu so với các anh cùng cha khác  
Cuộc sống vốn dĩ chẳng bao giờ công  
bằng, mẹ con Núi luôn kính trọng những  
người cao sang ở tầng trên, nhưng những  
con người học cao hiểu rộng ấy lại  
mẹ kia thì anh em Núi nhỏ tuổi hơn rất  
chẳng bao giờ tôn trọng họ. Nhưng cứ  
nhiều, nhưng xét về vai vế thì tất cả đều  
thử một lần bất kính với họ thì sẽ biết  
là con, đều mang cùng dòng máu.  
thế nào là tủi cực, là thân phận thấp hèn:  
Nhưng chẳng hiểu tại sao, anh em Núi  
“Cả khi lên gác, cả lúc quanh mâm cơm,  
cả khi lúc thấy người tầng trên đi về, mẹ  
và các con tầng dưới phải kính cẩn mời  
chào. Nhưng chẳng bao giờ được nghe  
một tiếng nói, một cái phẩy tay, hay một  
cái nhìn đáp lại. Vậy mà không mời,  
phải gọi anh mình là cậu và xưng con,  
đó đâu phải là cách xưng hô của anh em  
ruột thịt. Hiển nhiên, trong mắt những  
người được mời thì mẹ con Núi chỉ là  
những người hầu kẻ hạ và trong bữa  
cơm ấy chẳng ai mời lại. Lời xưng hô  
chào lập tức được “đáp” lại ngay” (Lê  
con cậu, giữa những anh em ngang hàng  
Lựu, 1994). Cứ như tất cả chỉ trực chờ  
với nhau trong cái gia đình ấy như là  
sao cho những con người đáng thương  
một điều mặc định, một quy tắc không  
ấy làm sai để phạt lỗi, để trút giận. Hình  
thể đổi khác mà anh em Núi nhất định  
phạt cho những ai không mời chào đó là  
không được ăn, đứng úp mặt vào tường,  
phải tuân theo và không được phép làm  
sai. Cuộc sống sinh hoạt là thế còn về  
cho đến khi nào được ông chủ căn nhà  
học tập cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn  
lên tiếng tha mới thôi. Nhưng cũng có  
các anh: “Người chơi ghita, người tập  
lúc, ông quên bẵng đi rằng sau bữa cơm  
nặng nề ấy, vẫn còn có một đứa trẻ bụng  
đói đang đợi chờ câu tha lỗi. Còn ông thì  
lại dửng dưng quên đi mặc cho Núi đứng  
piano, người vẽ tranh,… Anh nào cũng  
nói tiếng Tây xì xào như ráng mỡ và  
nhanh như gió” (Lê Lựu, 1994). Cha  
luôn tạo điều kiện cho các anh học hành  
đó đợi hàng giờ.  
đủ thứ nhưng lại không thèm quan tâm  
Qua những chi tiết trên, nhà văn Lê  
Lựu cho chúng ta thấy sự phân biệt đối  
xử trong gia đình, giữa con vợ cả và con  
vợ thứ và đó cũng là nguồn cơn của bi  
kịch nhân vật. Một đứa trẻ bảy tám tuổi  
nhưng Núi đã ý thức được sự bất công,  
sự phân biệt rõ ràng trong gia đình mà  
mình đang sống. Cũng đã nhiều lần anh  
tự hỏi, sao mẹ con anh phải chịu đựng  
những điều bất công ấy: “Con nói mẹ  
nghe nhé. Ông ấy hơn con hai tuổi.  
đến Núi. Ông đã đặt niềm hi vọng vào  
các anh bao nhiêu lại xem nhẹ Núi bấy  
nhiêu. Trong mắt cha, anh như một  
người vô dụng. Phải chăng, anh em Núi  
đâu được biết thế nào là tự trọng, bởi  
hàng ngày họ bị chính những người  
thân, những người đang chảy cùng dòng  
máu chà đạp lên nhân cách của anh em  
mình. Có lẽ, họ “mất dạy” là vì họ  
không bao giờ được người làm chồng,  
208  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
Được dạy từ bé, lại đi học trước tuổi câu khiến người nghe thấy mát dạ và sẵn  
một năm. Con không được ai dạy. Lại đi sàng giúp đỡ đến cùng. Nhưng xét theo  
học muộn một năm. Bây giờ ông ấy lớp góc độ một người cha, thì câu nói ấy như  
5, con cũng lớp 3, kém gì. Mà đã lần nào một cái bình phong che đậy cho một sự  
một năm ông ấy được hai giấy khen như thật ở phía sau, đó là cả một sự vô tâm,  
con chưa? Thế mà việc gì cũng bắt con hời hợt của ông dành cho các con của  
hầu hạ” (Lê Lựu, 1994). Được đi học, mình.  
anh bắt đầu thấy được giá trị bản thân và  
càng thấm thía những gì đã chịu đựng.  
những lời yêu thương từ cha, để có thể  
Anh em Núi thèm lắm những cái ôm,  
Rồi chiến tranh nổ ra, cuộc sống có cảm nhận được rằng cha vẫn rất yêu  
thể gọi là đầm ấm của Núi bắt đầu bị thương và sẽ không bao giờ bỏ rơi mấy  
chia ra làm ba. Mặc dù, anh không muốn anh em. Từ đó, anh em Núi mới có thêm  
nhưng cuối cùng cũng đành phải chịu động lực để học hành chăm hơn và ngoan  
cảnh cha mẹ một nơi và các con một ngoãn hơn dù ông không bên cạnh. Trái  
ngả: “Gia đình hắn được sẻ làm ba. Anh lại, cái ước muốn của anh vẫn chỉ là ước  
Ý về ở với cậu em út của mẹ cả bên Thủy muốn, bởi cha anh không hề làm như  
Nguyên. Hắn “chỉ huy” ba đứa em về vậy. Ông lại vẫn thái độ lạnh nhạt đó, vẫn  
nhà cậu mợ ở huyện Kinh Môn. Bố mẹ là những câu nói mang đầy tính hình  
hắn ở lại vừa bám sát cơ quan, nhà máy thức, vì từ khi đặt chân về nhà cho đến  
vừa gấp rút chuẩn bị phương án chiến lúc đi ông chỉ nói với anh em Núi vỏn  
đấu, một cuộc chiến đấu một mất một vẹn có vài câu: “Anh em phải bảo ban  
còn với máy bay giặc Mỹ” (Lê Lựu, nhau học hành cho cẩn thận. Cấm không  
1994). Sống xa cha mẹ, một mình Núi được làm việc gì ảnh hưởng đến bố mẹ.  
phải lo cho hai đứa em thơ dại. Mới Đứa nào không ăn lời thì đừng có trách”  
mười sáu tuổi đầu, cái tuổi nữa người (Lê Lựu, 1994). Suy cho cùng, cái mà  
lớn, nữa con nít, tự lo cho mình cũng là ông quan tâm hàng đầu vẫn luôn là cái  
một vấn đề khó khăn thì nay lại phải danh dự cá nhân chứ chẳng yêu thương gì  
gánh lấy trọng trách là chủ của một gia những đứa con thơ dại ấy. Ông là một cái  
đình.  
gì đó rất kinh khủng, đáng sợ cho nên cứ  
mỗi lần ông nói chuyện là mấy anh Núi  
phải đứng ngay ngắn, trang nghiêm nếu  
không sẽ phải nhận lại những hình phạt  
nặng nề không thể đoán trước được. Ông  
đúng là một người cha vô tâm và khắc  
nghiệt, trở thành nỗi khiếp sợ cho những  
đứa con của mình.  
Cha và mẹ Núi vẫn hàng tháng cung  
cấp tiền và gạo cho các con, nhưng số  
lần ông về thăm các con cứ ít dần và như  
một thói quen mặc định, lần nào về ông  
cũng chỉ nói đúng một câu với những  
người ở quê: “Chúng tôi ở xa. Các cháu  
về đây phải cậy nhờ các bác, các dì  
trông nom, dạy dỗ” (Lê Lựu, 1994).  
Núi vẫn biết rằng cha mình luôn là  
Cũng là một câu nói, nếu nhìn từ góc độ một người độc tài, vô tâm và cứng nhắc,  
của những người trong làng thì đó là một luôn đối xử với con đẻ của mình bằng  
209  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
thái độ bình tĩnh, từ tốn đến không thể hết tiết thứ năm hắn mới ngồi lại lớp,  
chấp nhận được. Chẳng bao giờ anh ngoảnh vào tường thưng bằng đất  
được ông hỏi han, tìm hiểu để biết cuộc “nạp” nguyên liệu lấy sức cuốc bộ về”  
sống ở quê của mấy anh em như thế nào. (Lê Lựu, 1994).  
Bởi ông nghĩ bọn chúng ở quê đã có bà  
Nguồn sống và chỗ dựa duy nhất của  
con họ hàng quan tâm giúp đỡ, chứ đâu  
anh em Núi là mẹ, cũng rời xa chúng. Mẹ  
như đứa con trai cưng của mình đang  
Núi mất cùng với đứa em chưa kịp sinh ra  
phải sống một mình nhưng lại vẫn được  
trên bàn mổ vì sinh khó. Đây có lẽ là bi  
đủ đầy mọi mặt. Nhưng làm sao cha có  
kịch lớn nhất mà cuộc đời một đứa trẻ  
thể biết được, những đứa trẻ thơ dại ấy  
phải gánh chịu. Nhà văn đã cảm thông cho  
phải đối mặt như thế nào với cuộc sống  
nhân vật một cách sâu sắc về sự mất mát  
không cha mẹ bên cạnh. Sinh ra và lớn  
và đau thương ấy. Giờ thì đúng thật là chỉ  
lên ở thành phố, dù điều kiện sống  
còn mấy anh em bơ vơ, nương tựa vào  
không đầy đủ nhưng ít ra mấy đứa trẻ ấy  
nhau mà thôi. Tiếng khóc lóc cứ vang dội  
chưa bao giờ phải một mình đối mặt với  
trong căn nhà của một gia đình luôn  
cuộc sống mà không có mẹ. Giờ về sống  
khiếm khuyết một người cha, nỗi đau xót  
nơi làng quê nghèo, lại càng thiếu thốn  
bao trùm những ánh mắt hoang mang, lạc  
nên bọn trẻ sợ lắm, lo lắm bởi tất cả đều  
lõng của những đứa trẻ đáng thương, tội  
nghiệp: “Suốt 4 ngày trời anh em hắn chết  
đi sống lại trong tiếng gào khóc với những  
bàn tay chới với cào vào không gian đòi  
mẹ” (Lê Lựu, 1994). Núi chỉ còn mình  
cha là chỗ dựa, nhưng chỗ dựa ấy từ lâu  
đã không thể trông chờ gì. Mấy ngày trời  
ngập chìm trong nỗi mất mát và nước mắt,  
quá lạ lẫm. Mọi chuyện xung quanh, dù  
to hay nhỏ cũng đều khiến đám trẻ con  
ấy sợ đến nỗi không thể thốt nên lời mà  
ông nào có thấu hiểu: “Một con cóc nhảy  
từ bụi tre ra, làm đám trẻ con, những  
đứa em hắn kêu ré lên thất thanh, lao  
người đi như tránh một quả bom sắp nổ.  
Chúng đã trải qua những đêm thở không  
nhưng người cha ấy lại chẳng một lời an  
ủi động viên các con. Ngược lại, chỉ thấy  
ông hăng hái, say mê kể lể những vất vả,  
ra hơi, trống ngực đánh thùm thùm, cả  
ba đứa ngồi ôm nhau run bần bật khi  
nghe tiếng mèo đi hoang, tiếng chó sủa  
tốn kém khi lo cho vợ mình trong cơn  
sồ lên ở một góc nào đó” (Lê Lựu,  
nguy kịch: “Ông kể về nỗi vất vả và khốn  
1994). Còn ở quê, Núi lại phải một mình  
khổ một mình ông phục dịch vợ ốm trong  
lúc bụng mang dạ chửa giữa bom đạn như  
thế nào? Ông đưa bà vào viện để mổ ra  
sao? Khi cả bà và đứa trẻ tắt thở trên bàn  
mổ ông lại phải chạy vạy ra sao để đưa  
được xác bà về quê theo lời nói “gở” của  
bà trên đường đi đến bệnh viện” (Lê Lựu,  
1994).  
lo cho các em từng miếng ăn, cho đến  
cái áo. Lo làm sao để các em không  
thiếu ăn và lo làm sao để không bị cha  
phạt, còn Núi thì tự lo cho mình qua loa  
miễn no là được: “Vào khoảng 12 giờ  
rưỡi trưa hoặc hơn gì đấy, nghĩa là nữa  
ổ bánh mì đen rắn như cục gạch, suất ăn  
sáng nhưng bao giờ hắn cũng để nhét  
trong cặp sách để đến 11 giờ rưỡi trưa,  
210  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
Mẹ của Núi mất rồi còn cha lại không mến của mẹ mà là những làn khói hương  
quan tâm, cuộc sống của anh và các em từ nghi ngút cay đến xé lòng.  
đây trở nên bế tắc. Gia đình vốn đã không  
Tình yêu thương của cha mẹ thật sự  
được yên bình, không đủ đầy của anh nay  
rât thiêng liêng, soi sáng cho con để  
lại phải gánh chịu thêm nỗi mất mát lớn  
không phải lạc bước trên đoạn đường  
lao không gì tả xiết. Những đứa trẻ tội  
đời đầy chông gai và cạm bẫy. Thế  
nghiệp ấy như những con gà con lạc mẹ  
nhưng, anh em Núi thì không có may  
mắn đó, tình yêu của mẹ cũng chết theo  
mẹ. Còn tình yêu của cha lại chẳng bao  
giờ được thắp lên dành cho anh em Núi.  
Nên có thể nói, bi kịch về cuộc sống gia  
đình của Núi là những tháng ngày thiếu  
bơ vơ: “Đứa lả người, dựa vào tường  
quay mặt ra. Đứa ngồi xổm trên ghế, gục  
mặt xuống hai cánh tay khoanh ở đầu gối.  
Đứa đứng dựa cột. Đứa ngồi bệt ở chân  
liếp, quay mặt vào.” (Lê Lựu, 1994). Với  
anh em Núi, mất đi người mẹ mà là mất đi  
thốn về mọi mặt, thiếu thốn về vật chất,  
chỗ dựa duy nhất trên cõi đời này: “Ối ối  
thiếu thốn về tình yêu thương của cha  
mẹ, điều mà bất cứ đứa trẻ nào trên đời  
đều có quyền được nhận lấy. Đây cũng  
là nguồn cơn cho những bi kịch về sau  
mẹ ơi! Mẹ nỡ để chúng con đói khát khốn  
khổ, khốn nạn thế này mẹ ơi. Ôi giời đất  
ơi, sao giời lại bắt mẹ tôi đi? Mấy anh em  
tôi biết làm gì nuôi nhau! Ối giời đất ơi!  
của nhân vật.  
Ối mẹ ơi.” (Lê Lựu, 1994).  
2.2. Bi kịch nhân vật trong cuộc  
sống mưu sinh  
Nếu như mẹ của Núi còn sống thì  
chắc cuộc sống của mấy anh em anh sẽ  
Từ bi kịch của một đứa trẻ mất mẹ,  
Núi tiếp tục trải qua bi kịch của một  
người không gia đình. Núi cũng không  
biết làm thế nào để có cái ăn cái mặc để  
sống qua ngày. Bị cha từ mặt, có nhà  
nhưng không thể về, cuộc sống của Núi  
lúc này chẳng khác nào một đứa trẻ mồ  
côi, lang thang đầu đường xó chợ: “Mỗi  
bữa ăn hắn đến một cửa hàng nào đó,  
mua mấy xu nước canh hoặc nước rau  
luộc, kể cả nước lã. Hắn lấy một bát  
nước mắm pha loãng ở trong chiếc chậu  
giặt quần áo, một cái bát đựng tương ớt  
rồi quan sát xem bàn nào có người ăn  
thừa, hắn bê cả “canh” cả mắm, cả ớt  
đến đặt ở bên cạnh và nói: bác (hoặc  
anh hoặc chị) ăn xong cho mượn bát  
đựng cơm. Rồi quan sát tiếp và lại đi  
không phải là những chuỗi ngày cực  
nhọc đến như thế. Núi sẽ có người để  
tâm sự, sẽ có người lắng nghe, giúp anh  
định hướng những con đường mình nên  
đi, che chở anh trước những chông gai  
của cuộc đời. Sẽ có người cho những lời  
khuyên, giúp anh mạnh mẽ trước những  
ngã rẽ mà số phận đã an bài để không  
lầm đường, lạc bước: “Đêm ấy, hắn đi  
tầu xuống ga miền Trung, tay cầm bó  
hương đi bộ về quê ngoại. Khoảng độ  
mười giờ đêm hắn mới lần về đến quê và  
tìm được mộ mẹ mình ở ngay góc sát bờ  
mương” (Lê Lựu, 1994). Giờ thì, anh chỉ  
có thể nói chuyện với nấm mộ của mẹ  
mình và thứ phản hồi lại với anh đã  
không còn là giọng nói dịu dàng trìu  
211  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
“mượn” bát đựng cơm thừa về đổ vào một công việc: “Cậu xem ở cảng có việc  
bát mình” (Lê Lựu, 1994). Những thứ gì làm, bốc vác hay quét dọn, lau chùi gì  
anh ăn không phải là thức ăn dành cho đấy cậu cố xin cho con” (Lê Lựu, 1994).  
con người, đó là đồ thừa từ người khác  
Núi thật sự đâu như ông đã nghĩ là  
và bất kể là món gì, anh cứ đổ trộn vào  
một “đứa lọc lừa”, dối trá, anh vẫn muốn  
mà ăn để không bị đói, cứ xin và gom  
lao động kiếm sống bằng chính khả năng  
rồi ăn chỉ mong sao no bụng chứ không  
và sức lao động của mình. Anh khao  
trông mong gì những bữa ăn đầy đủ cơm  
khát được làm việc, khao khát được  
canh. Anh ăn là để sống chứ không phải  
sống chân chính để các em yên vui mà  
sống để ăn. Anh ý thức được rằng muốn  
học hành. Chỉ mong sao người cha sắt  
có cái để ăn thì phải lao động kiếm tiền,  
đá kia biết và hiểu rằng anh không hề  
nhưng một đứa con nít mới lớn, sức lực  
xấu xa, rồi nghĩ lại sẽ cho anh sống  
trong ngôi nhà đó với các em của mình.  
Núi chỉ mong có thế nhưng anh đâu biết  
yếu ớt vì thiếu ăn, thì có ai thuê để kiếm  
được tiền. Núi không nhà, không tiền,  
không người nương tựa và vất vả mưu  
rằng, sau lời hứa của cha là một sự cố  
sinh.  
tình lãng quên: “Ờ được, cậu cố hỏi xem.  
Núi đã ý thức được rằng muốn có cái Trước mắt, con phải tự giải quyết lấy  
để ăn thì phải lao động kiếm tiền, nhưng việc ăn uống ở ngoài” (Lê Lựu, 1994).  
một đứa con nít mới lớn, sức lực yếu ớt Mặc cho Núi lên tiếng hỏi han hết lần  
vì thiếu ăn, thì có ai thuê để kiếm được này đến lần khác, thậm chí năn nỉ ông  
tiền. Trong cái xã hội bấy giờ, riêng mỗi tìm việc giúp, vì anh ý thức được rằng  
người tự lo cho mình còn không xong thì về nhà kiếm ăn là sẽ nhục, sẽ làm khổ  
có thời gian đâu mà nghĩ đến và lo cho các em nhưng lần nào ông cũng bảo  
những người dưng không cùng ruột thịt. đang hỏi và chưa có câu trả lời. Núi thừa  
Với cha của Núi, cho đứa con tội lỗi ấy biết tính nết của cha nhưng vẫn cố năn  
một chỗ ngủ đã là phước đức lắm rồi. nỉ, van xin: “Hắn mong mỏi được đi  
Ông luôn tạo điều kiện cho các anh con làm. Mong cho các em đừng khổ thân  
bà lớn học hành đủ thứ, còn Núi thì nên hắn không dám nổi khùng” (Lê Lựu,  
không thêm quan tâm đến và xem anh 1994). Núi van lạy ông đừng bắt anh  
như người vô dụng. Từ sáng đến tối, cha phải đi, không phải vì bản thân yếu đuối,  
đi làm về thì anh cũng phải ra khỏi nhà nhút nhát sợ cực: “Sợ lang thang lắm  
và về giống như ông, vì đó là lệnh, là rồi” (Lê Lựu, 1994). Anh sợ cái cảm  
quy ước của ông với đứa con trót gây tội giác lang thang có nhà nhưng không thể  
để đảm bảo rằng Núi sẽ không lấy cắp về, ngủ bờ, ngủ bụi, miếng ăn chẳng có,  
bất cứ thứ gì trong nhà. Cứ thế suốt hàng việc làm cũng không. Nó đáng sợ lắm và  
tháng trời, Núi đáng thương cứ đi lang làm con người ta như rơi vào đáy vực  
thang giữa dòng đời xuôi ngược mà sâu không lối thoát. Chính vì thế, Núi rất  
chẳng biết bám víu vào đâu ngoài lời sợ và càng khát khao có được việc làm  
hứa của cha anh rằng sẽ tìm giúp anh hơn bao giờ hết. Nhưng cuối cùng thì  
212  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
người cha ấy vẫn đối xử: “Cạn tào ráo manh nha từ đây. Nếu như có thể cố  
máng”, “Tôi biết trước sau, anh cũng gắng chờ đến lúc được các em báo rằng  
nói tôi như thế, nên tôi phải từ mặt anh anh đã có việc trước khi thực hiện hành  
hàng năm nay rồi”” (Lê Lựu, 1994).  
vi trộm cắp bất thành thì mọi chuyện giờ  
đây đã khác: “Anh có giấy gọi của  
phòng đi làm ở nhà máy Cá Hộp” (Lê  
Lựu, 1994). Cánh cửa hy vọng của cuộc  
đời chỉ vừa kịp hé thì cánh cửa nhà tù đã  
mở rộng cửa để đón chào và tương lai  
anh bế tắc kể từ đây. Thay vì ra tù chí  
thú làm ăn để làm lại cuộc đời thì anh lại  
muốn mưu sinh bằng nghề cũ và quen  
tay, lại thêm tích lũy được nhiều khinh  
nghiệm móc túi từ các bạn tù. Cuối cùng,  
Núi lại đi móc túi để phục vụ cho lối  
sống thích hưởng thụ, sa ngã của mình:  
“Quen tay, hai thằng lại rủ nhau đi móc  
túi, đi trai gái và đánh nhau. Lại tù một  
án ba năm” (Lê Lựu, 1994). Lần này,  
anh lại đi tù và không phải chỉ chín tháng  
như trước mà là ba năm. Điều đó cũng  
chẳng có nghĩa lí gì với con ngựa đang  
điên cuồng này, khi nỗi chán ngán cuộc  
sống lương thiện trong anh đã không còn  
điểm dừng. Núi đã từng rất muốn lương  
thiện, nhưng hết lần này đến lần khác,  
anh nhìn thấy từng cơ hội tuột khỏi tầm  
tay mà không thể nắm lấy. Càng ngày  
anh càng thêm chán nản và đó cũng  
chính là lúc anh trở thành một tên tội  
phạm móc túi có tiếng một vùng: “Thế là  
từ Hà Nội hắn lên thẳng Bắc Giang. Lại  
móc túi, ăn trộm, tranh gái,... Lần này thì  
hắn vào loại “anh chị” khuấy đảo cả  
vùng thị xã về nạn trộm cắp, đĩ điếm” (Lê  
Lựu, 1994).  
Đến khi nỗi uất hận dâng đến tận  
cùng, chính người cha đẻ của mình tước  
đoạt đi cả cơ hội duy nhất để sống lương  
thiện, Núi chẳng còn trông mong thêm  
được bất cứ điều gì từ ông kể cả tình  
nghĩa cha con: “Con cũng không cần bố  
con gì nữa”, “Được ông cứ nhớ lấy” (Lê  
Lựu, 1994). Người cha sau ngần ấy năm  
anh luôn kính trọng, lại trở thành một con  
người tàn nhẫn đến đáng sợ, khiến anh  
chẳng bao giờ muốn nhìn mặt và quyết  
định bỏ đi: “Núi lao người đi trong mưa  
sầm sập lúc 12 giờ đêm. Một đêm mà  
chắc chắn cả ông và hắn còn ghi nhớ  
suốt cả cuộc đời của mỗi người.” (Lê  
Lựu, 1994). Cái đêm mưa gió mù mịt ấy  
là khởi đầu của khoảng thời gian tăm tối  
trong cuộc đời Núi sau này. Tình nghĩa  
cha con chỉ trong một giây phút nóng  
giận đã vỡ tan, cắt đứt vì sự cay nghiệt  
của người cha và sự nóng nảy của người  
con bị dồn vào chân tường. Giá như sự  
khắt khe của người cha biết dừng đứng  
lúc thì sẽ không bao giờ khiến đứa con đẻ  
hận mình như thế. Giá như ông thay sự  
sắp đặt cuộc đời của các con bằng sự cảm  
thông, lắng nghe và thấu hiểu thì mọi  
chuyện có thể sẽ khác. Tất cả đều sẽ  
được hạnh phúc, đều được sống một cuộc  
sống bình thường như bao người khác.  
Núi như là con ngựa đã đi sai đường,  
biết đi sai đường nhưng vẫn cứ muốn  
đâm đầu lao vào, vì cuộc sống mưu sinh.  
Cuộc đời của Núi bắt đầu rẽ sang một  
hướng khác và những bi kịch của đời anh  
Án phạt tù với Núi dường như chẳng  
có gì phải đáng sợ, bởi nó đang dần trở  
thành một gia vị không thể thiếu để thêm  
213  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
thắt vào bi kịch của đời anh. Nếu bản cuộc sống vào tù ra khám dường như  
chất xấu xa của một con người được xếp khiến anh kiệt quệ về nhân cách, anh  
vào loại thứ nhất là chính bản thân họ không còn tha thiết, không trông mong  
muốn vậy và thứ hai là do hoàn cảnh bắt và cũng không hi vọng vào bất cứ điều  
buộc thì Núi sẽ được xếp vào loại thứ gì nữa cho bản thân mình.  
hai. Trước kia, nếu anh là một người  
Nếu như người cha tàn nhẫn là người  
con, người anh, người học trò mẫu mực  
đầu tiên khiến Núi phải đi vào bước  
bao nhiêu thì bây giờ anh lại là một tên  
đường trộm cắp, đánh mất tương lai thì  
móc túi liều lĩnh bấy nhiêu. Cái căn  
Mai, người vợ mới của anh lại là người  
nguyên khiến chàng trai hiền lành ấy trở  
thứ hai phải bắt anh quay lại con đường  
nên như thế chẳng ai khác ngoài cha  
tội lỗi ấy sau một khoảng thời gian Núi  
anh, nên giờ đây với anh, ông chỉ là một  
cố gắng sống lương thiện. Mai đến và  
người dưng không hơn không kém. Anh  
sinh cho Núi một đứa con, anh như vỡ  
sẵn sàng lớn tiếng nếu ông làm anh  
òa trong hạnh phúc, nhưng không được  
không vừa ý chứ không im lặng, sợ hãi  
bao lâu thì cô lại bỏ đi để lại một người  
chồng tội nghiệp cùng đứa con còn đỏ  
hỏn. Núi chẳng công ăn việc làm, phải  
làm sao để sống, làm sao để nuôi đứa  
như xưa: “Tôi vặn cổ ông chớ còn làm  
gì” (Lê Lựu, 1994). Núi của ngày xưa  
chết thật rồi, cái ngoan hiền của anh đã  
bị cái cay nghiệt của cha đã tôi luyện  
con nay ốm mai đau và thế là cùng  
đến mức biến chất như thế đấy. Giờ đây,  
đường, anh đành quay lại nghề cũ. Đó là  
Núi có muốn quay đầu làm lại thì cũng  
cách nhanh nhất để có tiền mà lo cho  
không kịp nữa, vì anh đã đi quá xa. Con  
đứa con bé bỏng của mình. Núi biết rất  
đường anh chọn là một con đường đầy  
rõ mình không nên làm như thế, bởi  
trong lúc làm lại cuộc đời đã có rất nhiều  
tăm tối, nó đã khiến anh không thể quay  
đầu để xác định được đâu là bến bờ. Anh  
người giúp đỡ anh và giờ họ càng không  
càng không thể dừng chân mà neo đậu  
muốn anh lại đi sai đường: “Ai cũng  
khuyên hắn ra viện mà tu tỉnh làm ăn mà  
nuôi con. Hắn đều hứa hẹn sẽ làm như  
thế. Nhưng rồi hắn vẫn ăn cắp tình  
thương yêu đùm bọc, ăn cắp tình thương  
yêu của mọi người. Hắn biết, hắn tiếp  
tục đi ăn cắp là phụ lòng bà con, nhưng  
hắn làm được gì khi không có gì để làm”  
để sống một cuộc sống bình thường:  
“Ngựa quen đường cũ, biết làm thế nào”  
(Lê Lựu, 1994). Với Núi giờ đây tương  
lai là một thứ gì đó vô cùng mịt mờ, nó  
chỉ là một màu đen đến lạnh người, một  
màu đen âm u nhuốm đầy tội lỗi sau  
những song sắt nhà tù.  
Từ một học sinh giỏi nhất nhì trường (Lê Lựu, 1994). Một mình Núi lo cho  
huyện, tương lai tươi sáng nhưng vì cuộc bản thân mình không bị đói cũng là cả  
sống mưu sinh mà Núi đành để tuột mất một vấn đề, nay lại thêm đứa con thơ dại  
đi cái tương lai ấy. Anh lao kiếm tiền, để không người trông nom. Núi làm gì  
rồi cuối cùng phải rơi vào vũng bùn tội được ngoài việc móc túi để tồn tại và  
lỗi mà chẳng biết ngày ra. Phải chăng,  
214  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
một lần nữa anh đành cho phép bản thân hạ thì cũng không đau đớn bằng lần  
đi vào vết xe đổ của chính mình.  
này.” (Lê Lựu, 1994). Tương lai anh một  
lần nữa đành khép lại sau cánh của nhà tù  
cũng vì tội trộm cắp. Như vậy, tuy cái giá  
mà Núi phải trả cho những việc mình làm  
là hoàn toàn xứng đáng nhưng dù có như  
thế nào thì anh vẫn là một con người rất  
đáng thương. Bao nhiêu bất hạnh cứ đổ  
dồn lên đầu, vì cuộc sống mưu sinh  
khiến anh cùng đường để rồi bước sai  
hướng dẫn đến bế tắc mọi mặt, tương lai  
mịt mù phủ kín cả cuộc đời anh.  
Cùng đường, Núi bế con đi lang  
thang: “Chỗ nào gặp người quen hắn  
ngửa cái mũ mềm bộ đội vẫn đội trên  
đầu ra xin” (Lê Lựu, 1994). Cuộc sống  
của hai cha con là những ngày sống  
trong sự thương hại của những người  
quen, vì thương hai cha con bơ vơ,  
nghèo khó mà cho ít đồng lẻ để đứa nhỏ  
có sữa mà uống, có cái tã để mà thay:  
“Hắn bế con bằng cánh tay chen vào  
chỗ đông, còn tay thì một giơ chiếc làn  
đầy tã lót, chai lọ, vú sữa lên, bàn tay  
dưới móc túi hoặc dùng dao lam rạch túi  
khoác” (Lê Lựu, 1994). Ngày nào cũng  
thế, Núi bế con đi hết nơi này đến nơi  
khác: “Từ chợ Sắt đến Bốn Bính, từ chợ  
Cố Đạo, cửa ga đến chợ Lạc Viên, từ  
cửa hàng bách hóa, hàng gạo, hàng thịt  
đến các xó xỉnh ở phía Cầu Rào.” (Lê  
Lựu, 1994).  
2.3. Bi kịch nhân vật trong tình yêu  
đôi lứa  
Bi kịch của nhân vật Núi không chỉ  
gắn với mối quan hệ với gia đình, không  
chỉ là nỗi nọc nhằn mưu sinh mà còn là  
sự lận đận trong tình yêu đôi lứa. Tình  
yêu đầu đời với Núi giống như một giấc  
mộng đầy nước mắt và sự đau đớn, nó  
đến và đi quá nhanh khiến anh không thể  
nào lường trước được. Người yêu của  
Cái nghiệp trộm cắp dường như chẳng anh là Hiền, một cô giái quê xinh đẹp,  
chịu buông tha cho bất cứ ai đã chạm vào dịu dàng. Họ gặp nhau vào một buổi trưa  
nó dù chỉ một lần. Nó như những liều đầy nắng, khi cái màng của cô bị mắc vào  
thuốc phiện, bởi nó giúp con người giải cành gai: “Anh Núi ơi, làm ơn giúp em  
tỏa và quên đi những ưu phiền trong thực một tay được không?” (Lê Lựu, 1994).  
tại một cách nhanh chóng. Phải chăng, Chẳng biết là cô vô tình hay cố ý, cô để  
con người làm được một lần sẽ muốn làm cái màng mắc vào cành gai rồi nhờ anh  
thêm lần thứ hai và trộm cắp giống thế, giúp để anh có cơ hội tiếp xúc với cô.  
nó có thể giải quyết rất nhanh những vấn Hiền đã để ý đến anh chàng thành phố  
đề về vật chất trong những lúc khốn này từ rất lâu, chính vì lâu nên cô biết rất  
cùng. Điều gì cũng có cái giá của nó và rõ về Núi: “Anh về đây hàng năm giờ rồi,  
cái gái mà Núi phải trả vẫn là những ai còn lạ. Học giỏi, làm nghề nông cũng  
tháng năm bị giam cầm nhưng lần này, giỏi, cả tổng đều biết. Chỉ có anh là  
cảm giác đi tù đã không còn như xưa: không để ý đến dân nhà quê cục mịch  
“Những lần trước đây án tù với hắn dù chúng em.” (Lê Lựu, 1994).  
ngắn hay dài cũng không nặng nề lắm.  
Có ghẻ lở, đói ăn và nạn đầu gấu hành  
215  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
Ngay từ lúc gặp và yêu Núi, Hiền đã quen rất nhiều giám đốc” (Lê Lựu,  
tìm hiểu và biết rất nhiều về anh nhưng 1994). Tất cả những suy tính của anh vẫn  
có một điều mà đến khi biết thì mọi không thể thực hiện được. Những áp lực  
chuyện đã quá muộn. Mọi thứ như sụp mà Hiền chịu đựng đã khiến cô không thể  
đổ khi biết giữa cô và Núi có mối quan cùng anh vun đắp hạnh phúc như hai  
hệ huyết thống với nhau, người mà cô người hẹn ước: “Đến sáng ngày hôm qua  
yêu phải gọi mình là cô họ: “Cô Hiền thì người anh thứ hai và mẹ cô phải đưa  
ngang vai mẹ anh”(Lê Lựu, 1994). Cả cô lên Hà Nội để đêm đi chuyến tàu vào  
đất trời như tối sầm lại, nếu đúng như Quảng Bình, Vĩnh Linh, Thanh Hóa hay  
thế thì anh đã mắc phải tội loạn luân khi Nghệ An gì đấy” (Lê Lựu, 1994).  
ở với cô mình và khiến cô có thai: “Hắn  
thấy người mình như rời ra” (Lê Lựu,  
1994). Niềm hạnh phúc của tình yêu vẫn  
Dẫu cho thế nào đi nữa, Núi vẫn luôn  
rất trân trọng tình yêu với Hiền, đó  
không phải là những cảm xúc nhất thời,  
còn đong đầy trong Núi vẹn nguyên, đâu  
càng không phải là sự vui đùa để tìm  
ngờ giờ đây lại phải đối mặt với một sự  
những khoái lạc. Anh không hề muốn nó  
thật quá xót xa: “Hắn nghe, nước mắt  
tan vỡ, cũng không muốn người mình  
yêu phải ra đi với những nỗi đau mà anh  
chảy xuống má từ lúc nào không để ý”  
(Lê Lựu, 1994). Trớ trêu là Hiền có  
không thể cùng chia xớt. Điều mà Núi  
huyết thống cách nhau đến bảy đời, mặc  
phải đối mặt đó chính là tục lệ, lễ nghi từ  
dầu pháp luật quy định ba đời đã có thể  
đời này sang đời khác của làng, của xã.  
Núi thật đau đớn, vì tình yêu chỉ vừa  
mới chớm nở của anh lại bị vùi dập, bởi  
những hủ tục như thế, tại sao phải bắt  
anh gánh chịu tội danh phạm đạo với cô  
mình, một người cô có quan hệ đã bảy  
lấy nhau nhưng: “Luật Nhà nước là cho  
nơi khác, để chỗ tỉnh người ta theo, còn  
làng mình chín mười đời mà bằng vai  
phải lứa đã không lấy được nhau huống  
hồ cháu lại lấy cô.” (Lê Lựu, 1994).  
Sự lầm lỡ đã khiến Hiền ôm nỗi đau đời. Tại sao bao nhiêu cay đắng cuộc đời  
mà đi biệt xứ vì mối tình ngây dại, nhưng cứ đổ dồn lên anh như thế? Anh có thể  
vô tình làm dang dở của cô cả đời con đạp lên dư luận mà sống nhưng Hiền thì  
gái. Còn Núi thì sau cuộc tình ấy đúng không và cô quyết định ra đi với giọt  
thật là anh không mất gì nhưng với anh máu của anh.  
đó là mối tình đầu, là những yêu thương  
xuất phát từ sự chân thành của một con  
người luôn trân trọng hạnh phúc. Bởi Núi  
Tình yêu đầu tan vỡ đã để lại trong  
Núi những sự nuối tiếc và cả sự ân hận  
trong khoảng thời gian dài. Lần đầu  
là một con người có trách nhiệm, anh  
được biết thế nào là tình yêu, lại phải trả  
không hề chối bỏ trách nhiệm với Hiền  
một cái giá quá đắt đã khiến anh như  
khi cô báo có thai, anh vạch ra con đường  
chẳng còn dám tin vào nó và cũng chẳng  
tương lai cho cả hai để xây dựng hạnh  
muốn yêu bất cứ ai. Anh cũng chẳng  
phúc ở phía trước: “Anh sẽ xin cho em  
dám mơ rằng một ngày nào đó, bản thân  
sẽ có được vợ nên anh trân trọng và xem  
học nghề ở nhà máy nào đấy. Bố anh  
216  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
đó là một mối quan hệ nghiêm túc. Có Hai vợ chồng cứ suốt ngày hết cãi vã rồi  
lẽ, Núi sống buông thả trong ngần ấy lại chửi nhau bằng những câu tục tĩu,  
thời gian đã khiến anh thèm muốn một hay thậm chí đánh nhau chỉ vì những  
cuộc sống bình yên bên mái nhà với chuyện tưởng chừng nhưng rất bình  
những việc làm lương thiện. Hạnh phúc thường. Với nỗi khát khao hạnh phúc,  
cứ tiếp nối hạnh phúc, anh nhận được tin Núi bỏ qua và học cách chấp nhận hết,  
Mai đã mang bầu, mừng như bắt được vì đó là bản tính của cả hai. Trước giờ  
vàng và cảm thấy đời mình như thế là luôn là như thế, anh có sửa cũng chẳng  
quá đủ: “Hờ hờ hợ... Con bố đây. Con được và nó cũng không quan trọng, vì  
bố... Thế là chúng mình có con rồi.” (Lê lúc này với Núi đứa con đang lớn lên  
Lựu, 1994).  
từng ngày mới là quan trọng nhất.  
Đứa con của Núi đang từng ngày  
Cuối cùng thì mọi chuyện lại hoàn  
thành hình khiến người làm cha thêm có toàn rẽ sang hướng khác, mặc dù đã  
động lực mà phấn đấu, lao động một lường trước nhưng vẫn không thể kiểm  
cách chân chính: “Sáng: chồng dậy sớm soát được: “Cho đến khi mang bầu đến  
đi thuê xích lô mua các thứ bông bưởi, tháng thứ bẩy cô ta nói phải đi mười  
cam quýt hoặc mít dứa, na ổi,... Mùa ngày về thăm bố mẹ rồi trở lại đẻ. Sau  
nào thức ấy, đem về chờ sẵn ở đầu chợ này hắn mới biết nó lừa hắn. Bao nhiêu  
An Dương đợi vợ khệ nệ “vác bụng ra lần nó định bỏ về, hắn đều đe sẽ giết và  
đứng bán” (Lê Lựu, 1994). Cuộc sống tìm mọi cách để nó không mang đứa con  
vợ chồng cứ thế mà diễn ra và theo từng của hắn đi.” (Lê Lựu, 1994). Mặc cho  
ngày, mặc cho: “Giữa những đống rác Núi có đe dọa và ngăn cản, Mai vẫn bỏ  
xông ra mùi cóc chết hoặc trong một đi cùng đứa con sắp đến ngày sinh, anh  
liều quán bên rãnh nước thải, chứa đựng vừa đau buồn, vừa tức giận mà lại không  
hàng trăm thứ hôi đang rữa ra, sủi lên biết tìm chị ở đâu. Phải chăng, cái anh  
lều xều như không có chỗ nào khắm thối cần bây giờ chỉ là con, chỉ cần Mai sinh  
đến thế, phải lấy bao tải trùm kín mặt, đứa con cho anh thì cô muốn đi đâu anh  
vừa âu yếm nhau vừa lấy tay bịt mũi, lại cũng không cản. Cái nỗi đau trong quá  
thấy thắm thiết vợ chồng” (Lê Lựu, khứ giờ lại tiếp diễn lần thứ hai trong  
1994). Cái thai cứ lớn dần theo niềm cuộc đời Núi: “Hai lần định lấy vợ, hai  
hạnh phúc đang dâng trong lòng Núi. lần sắp có con, đều mất” (Lê Lựu,  
Anh không sợ cực, không sợ khổ, chỉ 1994).  
cần con anh được khỏe mạnh chào đời  
Đang trong lúc đau buồn vì vợ bỏ  
thì dẫu có cực hơn hiện tại gấp trăm  
theo người đàn ông khác thì duyên số lại  
nghìn lần cũng chịu. Nhưng kiểu vợ  
đưa đẩy Núi gặp lại Hồng, người bạn  
chồng ăn ở với nhau, hợp thành một cặp  
thân của Hiền lúc còn ở dưới quê. Cô có  
theo kiểu chắp vá mà không hề có tình  
chồng nhưng chồng lại mất, giờ gặp lại  
bạn cũ và hai người lại đến với nhau  
yêu thì làm sao tránh khỏi những bất  
đồng khi cả hai không hề hiểu gì nhau.  
trong khi vợ Núi chỉ vừa đi có vài ngày:  
217  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
“Cô đã tỏ rõ mình là người chủ gia đình. phải cháu là kẻ sống cốt để cho hắn chơi  
Cô đưa hắn đi mua vải may lại vỏ chăn, bời giải trí khuây khỏa lúc vợ không có  
mua màn, gối, riđô, mắc áo, đưa tiền nhà” (Lê Lựu, 1994).  
hắn đi mua bộ quần áo mới,...” (Lê Lựu,  
1994). Sự đảm đang, dịu dàng đó của  
Núi căm hận vợ bao nhiêu thì lại càng  
yêu thương con bấy nhiều, nên vì thế mà  
Hồng làm Núi chỉ biết ước ao và tưởng  
anh không thể đuổi cô đi khi đứa con thơ  
mình đang nằm mơ vì mới đấy mà anh  
vẫn còn đang cần bú sữa mẹ. Hàng ngày,  
lại có thêm một người vợ, một người  
người cha vì thương con mà cố gắng  
phụ nữ khác xa người vợ vừa mới bỏ  
nhường nhịn người vợ hư đốn, anh cần  
anh mà đi. Hồng vun vén cho căn nhà  
mẫn làm việc nhưng Mai thì chẳng chịu  
của cả hai, bày ra cách để kiến tiền và  
yên phận, cô cứ phải chọc Núi nổi điên  
làm ăn rất khấm khá, khiến anh rất hãnh  
mới chịu nỗi. Rồi vào một ngày, cũng vì  
cái thói nói chuyện hỗn hào mà anh đã  
diện về cô.  
Cứ tưởng hạnh phúc bình dị đó sẽ ở đánh cô đến mức bể đầu phải nhập viện:  
yên đó với anh nhưng không, Mai lại “Cái ghế con vẫn ngồi ăn cơm, chỉ là  
quay về với đứa con mới sinh trên tay. tiện tay hắn vớ được. Hắn đập vào đầu  
Cô thấy Hồng trong căn nhà của mình và nó, cũng không có chủ định dùng chỗ  
thế là một trận đánh ghen với sự chứng góc ghế đập. Nhưng góc ghế lại làm một  
kiến của những “người háng xóm hóng mảng da đầu sâu hoắm, con vợ hắn ngã  
chuyện”. Núi đứng hình trước đứa con vật ra.” (Lê Lựu, 1994). Vợ nhập viện,  
mà không hề màng đến Hồng đang bị cô Núi phải vừa chăm con vừa bồi bổ cho  
vợ hung hăng của mình đánh đuổi. Anh cô vợ bị anh đánh đến đổ máu. Trớ trêu  
vẫn đứng im như một pho tượng, nhu thay, trong khi Núi phải đi làm vất vả để  
nhược và sợ hãi không một lời biện hộ kiếm tiền bồi bổ lại cho cô “béo đỏ phây  
cho Hồng, mặc cho Mai dùng những lời phây” thì một lần nữa, cô bỏ cha con  
lẽ khó nghe để chửi. Điều đó có gì khó Núi mà đi. Lần này thì đi thực sự vì cô  
hiểu đâu, khi người vợ đầy mưu tính ấy đã rảnh rang rồi: “Người ta bảo ả đã lên  
rất rõ điểm yếu của Núi chính là đứa ngồi trong cabin chiếc xe tải đi từ tám  
con, cô dùng đứa con như một tấm bùa hoánh rồi” (Lê Lựu, 1994). Mai cứ hết  
hộ mạng để quay về căn nhà mà Hồng lần này tới lần khác đến rồi biến mất,  
và Núi đã dày công xây đắp thời gian khiến cuộc sống của Núi trở nên rối bời.  
qua. Bao nhiêu tiền bạc, vốn liếng làm Mọi thứ lại một lần nữa đổ vỡ, lại thất  
ăn cô đều giành hết, Hồng ra đi với bàn vọng, lại mất lòng tin, lại phải sống một  
tay trắng cùng sự nhục nhã trước bao mình với biết bao lo toan và bế tắc.  
ánh mắt gièm pha và những lời xúc  
phạm nặng nề của Mai và những người  
khác: “Đời cháu cũng đã khổ nhiều lắm,  
gặp cảnh tội nghiệp của hắn, cháu thấy  
Trong lúc đau buồn vì vợ bỏ theo  
người đàn ông khác thì duyên số lại đưa  
đẩy Núi gặp lại Hồng, người bạn thân  
của Hiền lúc còn ở dưới quê. Cô có  
mình có thể cùng vun đắp lại, chứ đâu  
chồng nhưng chồng lại mất, giờ gặp lại  
218  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
bạn cũ chẳng hiểu lí do gì đã khiến hai những kẻ bất lương. Còn tình cảm vợ  
người lại đến với nhau trong khi vợ Núi chồng, nó không đơn giản chỉ là sự chung  
chỉ vừa đi có vài ngày: “Cô đã tỏ rõ sống để có đôi, để không cô đơn mà nó là  
mình là người chủ gia đình. Cô đưa hắn phải sự thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau.  
đi mua vải may lại vỏ chăn, mua màn, Con người ta sẽ tránh được những bi kịch  
gối, riđô, mắc áo, đưa tiền hắn đi mua cuộc đời nếu được sống trong những gia  
bộ quần áo mới,...” (Lê Lựu, 1994). Sự đình mà mọi người biết quan tâm và yêu  
đảm đang, dịu dàng đó của Hồng làm thương nhau. Với ý nghĩa đó, Lê Lựu đã  
Núi chỉ biết ước ao và tưởng mình đang đóng góp cho nền văn học Việt Nam  
nằm mơ, vì mới đấy mà anh lại có thêm thêm một tác phẩm đặc sắc.  
một người vợ, một người phụ nữ khác xa  
người vợ vừa mới bỏ anh đi. Hồng vun  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Văn Dương, Lê Đình Lục, Lê  
vén cho căn nhà của cả hai, bày ra cách  
Hồng Vân, 2007. Giáo trình Mĩ học đại  
để kiến tiền và làm ăn rất khấm khá,  
cương. Nxb. Giáo dục.  
khiến anh rất hãnh diện về cô.  
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn  
Như vậy, trong tình yêu đôi lứa thì  
Khắc Phi, 1997. Từ điển thuật ngữ văn  
Núi là người không được may mắn và  
học. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
gặp nhiều trắc trở. Anh luôn khao khát  
3. Trần Mạnh Hảo, 2012. Nhà văn Lê  
một tình yêu chân thành, một mái ấm gia  
Lựu đã bán linh hồn cho ai.  
chieulang.com.vn, Truy cập ngày  
05/3/2020.  
đình hạnh phúc nhưng cũng không được.  
Bởi tình yêu của Núi là thứ tình yêu  
ngang trái, chấp vá nên chẳng bao giờ  
4. Phạm Nhật Linh, 2008. Tiểu thuyết  
Lê Lựu khi nhân vật bật lại tác giả.  
voca.cand.com.vn/doisong, Truy cập  
ngày 15/4/2019.  
duy trì được lâu, dù anh đã cố gắng hết  
sức.  
3. KẾT LUẬN  
Qua tiểu thuyết Sóng ở đáy sông, bằng  
cái nhìn đầy thấu cảm, nhà văn Lê Lựu  
phản ánh những bi kịch mà nhân vật phải  
trải qua trong cuộc sống gia đình và tình  
yêu đôi lứa. Tác phẩm toát lên giá trị  
nhân đạo và ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi  
tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của gia  
đình đối với đối với nhân cách và hạnh  
phúc của một con người. Những đứa con  
chỉ có thể nên người khi chúng nhận  
được tình yêu thương và sự giáo dục tốt  
từ cha mẹ. Bằng ngược lại, chúng có thể  
đi sai đường và trở nên tha hóa, thành  
5. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn,  
2009. Văn học Việt Nam 1975 – Những  
vấn đề nghiên cứu và giảng dạy. Nxb.  
Giáo dục.  
6. Lê Lựu, 1994. Sóng ở đáy sông.  
Nxb. Hải Phòng.  
7. Đỗ Hải Ninh, 2013. Tiểu thuyết Lê  
Lựu thời đổi mới. Tạp chí Văn nghệ  
Truy cập ngày 17/9/2019.  
8. Nguyễn Bích Thu, 1996. Số phận  
của tiểu thuyết. Nxb. Tác phẩm mới.  
219  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 09 - 2020  
TRAGEDY CHARACTERS IN LE LUU’S NOVEL SONG O DAY SONG  
Phan Van Tien*, Nguyen Thi Tuyet Nghi, La Thi My Hanh and Phan Mong Giup  
Faculty of Linguistics and Literature, Tay Do University  
(*Email: [email protected])  
ABSTRACT  
Tragedy is the conflict between beauty and evil, between human aspirations and  
irreversible, unfulfilled life. It is the spiritual torment that can not be liberated. Tragedy  
characters takes place in an extremely stressful situation where the character develops in a  
different direction. In the novel Song o day song, writer Le Luu describes the character  
with hardships, deprivations and losses in family life, a living life as well as the love of a  
couple that the character has to experience. It is a long story about the traumatic life of the  
Nui character, a man rich in the will to rise up but constantly encounter the contrary of  
human love and the bondage of customs, causing his life to fall into a standstill, stuck,  
tragic. Through a story rich in details, writer Le Luu has sent a message full of  
humanitarian spirit about the meaning of love and the role of the family in the formation of  
personality and the decision of human happiness.  
Keywords: Song O Day Song novel, tragedy characters  
220  
pdf 16 trang baolam 24920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bi kịch nhân vật trong tiểu thuyết Sóng ở đáy sông của Lê Lựu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbi_kich_nhan_vat_trong_tieu_thuyet_song_o_day_song_cua_le_lu.pdf