Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật khi miêu tả nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
Vol. 18, No. 4 (2021): 731-744  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
ĐIỂM NHÌN VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT  
KHI MIÊU TẢ NHÂN VẬT ANH HÙNG  
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU 1975  
Trần Thị Nhật, Nguyễn Thị Thu Hằng*  
Trường Đại học Sài Gòn, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thu Hằng – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 01-3-2020; ngày nhận bài sửa: 06-4-2021; ngày duyệt đăng: 24-4-2021  
TÓM TẮT  
Bài viết này nghiên cứu điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam  
sau 1975 về miêu tả nhân vật anh hùng. Từ nhiều góc độ khác nhau của người kể chuyện, các tác  
giả đã khắc họa hình tượng những nhân vật anh hùng trong lịch sử một cách sinh động và đa dạng.  
Khi kể chuyện bằng ngôi thứ ba, nhân vật anh hùng lịch sử xuất hiện với ngoại hình và thần thái hơn  
người, toát lên ánh hào quang thần thánh và là nỗi khiếp sợ của quân thù. Khi thâm nhập vào thế  
giới bên trong nhân vật để trần thuật, từ điểm nhìn chủ quan này, người trần thuật đã sử dụng ngôn  
ngữ nửa trực tiếp cùng độc thoại nội tâm. Lúc này, nhân vật anh hùng dân tộc cũng mang những  
giận hờn, yêu ghét, thậm chí phàm tục, đam mê và khát vọng. Sự linh hoạt di chuyển điểm nhìn trần  
thuật cùng sự thay đổi và kết hợp nhiều giọng điệu kể chuyện: ngợi ca hào sảng, trầm buồn, trữ tình,  
triết lí hay chiêm nghiệm đã góp phần làm nên thành công trong việc xây dựng nhân vật anh hùng.  
Qua phân tích điểm nhìn và giọng điệu trần thuật, bài viết cho thấy sự vận động của thể loại tiểu  
thuyết lịch sử Việt Nam, cũng như năng lực sáng tạo và sự đóng góp của các nhà văn sau 1975 trong  
việc miêu tả nhân vật lịch sử.  
Từ khóa: tiểu thuyết lịch sử; nhân vật anh hùng; điểm nhìn; giọng điệu  
1.  
Dẫn nhập  
Sau năm 1975, sự cởi trói của tư duy cho phép nhà văn có được một nhãn quan mới  
về lịch sử. Sự “lạnh lùng” và “tàn nhẫn” của cái nhìn khoa học về lịch sử đã đưa lại cho nhà  
văn một khả năng mới vượt lên “khoảng nhiễu xạ của cảm xúc” để đưa sáng tác của mình  
vươn tới một chân trời mới. Viết về đề tài lịch sử, tuy các nhà văn vẫn dựa trên các sự kiện,  
nhân vật, biến cố của các vương triều nhưng các nhà tiểu thuyết đã đặt ưu tiên thể hiện lịch  
sử, nhận thức, soi chiếu lịch sử thông qua bút pháp “dã sử”. Bằng chiến lược này, tiểu thuyết  
lịch sử sau 1975 đã có sự vận động đổi mới, cách tân trong nội dung cũng như nghệ thuật  
thể hiện. Một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của nó là sự đổi mới trong phương  
Cite this article as: Tran Thi Nhat, & Nguyen Thi Thu Hang (2021). A narrative view and tone when depicting  
a heroic character in Vietnamese historical novels after 1975. Ho Chi Minh City University of Education Journal  
of Science, 18(4), 731-744.  
731  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
thức xây dựng nhân vật. Khi tìm hiểu phương thức xây dựng nhân vật anh hùng trong tiểu  
thuyết lịch sử giai đoạn này, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh việc đặt nhân vật anh hùng vào  
những tình huống gay cấn căng thẳng, kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật để miêu tả, các tác  
giả đã khéo léo vận dụng điểm nhìn và giọng điệu trần thuật như một trong những phương  
thức thú vị nhằm khắc họa tính cách nhân vật và thể hiện phong cách kể chuyện của mình.  
Đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sự tiết chế hợp lí giữa điểm nhìn khách quan và chủ  
quan, giữa người kể chuyện và nhân vật, giữa nhân vật với nhân vật, giữa nội tâm và sự đối  
thoại. Sự kết hơp này đã tạo điều kiện để nhà văn đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật, khắc  
họa những đau đớn, bi kịch, những giằng xé phức tạp, góp phần lột tả chiều sâu của tính  
cách. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975  
ngày càng thể hiện rõ hơn những trăn trở, suy tư của nhà văn hướng về hiện tại, những câu  
hỏi mang màu sắc đối thoại dành cho mỗi độc giả. Sự thay đổi này phù hợp với thời đại, ngữ  
cảnh và sự tiếp nhận của người đọc.  
2.  
Nội dung  
2.1. Điểm nhìn trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975  
2.1.1. Điểm nhìn khách quan  
Trước 1975, điểm nhìn trong tiểu thuyết lịch sử chủ yếu là điểm nhìn bên ngoài, điểm  
nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba. Nhiều nhà tiểu thuyết giai đoạn này đã đứng trên quan  
điểm của một người kể chuyện “biết hết” để phản ánh, nhìn nhận lịch sử. Bằng cách này, họ  
nuốn cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn khách quan, chân thực về lịch sử (không khác xa so  
với chính sử). Trong tiểu thuyết lịch sử của Tân Dân Tử, Nguyễn Chánh Sắt, Phạm Minh  
Kiên, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân… nhiều trang viết  
khá giống với loại “kể chuyện lịch sử”. Sau 1975, điểm nhìn trong tiểu thuyết lịch sử trở nên  
đa dạng và linh hoạt hơn, kết hợp điểm nhìn khách quan và chủ quan, điểm nhìn bên ngoài  
và bên trong, điểm nhìn tác giả và điểm nhìn nhân vật.  
Với các tiểu thuyết lịch sử mà điểm nhìn khách quan chiếm ưu thế (Phùng Vương của  
Phùng Văn Khai; Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh; Tám triều vua Lý, Bão táp triều  
Trần của Hoàng Quốc Hải; Thông reo Ngàn Hống của Nguyễn Thế Quang…, người kể  
chuyện có thế mạnh bao quát bức tranh toàn cảnh (các sự kiện, biến cố lịch sử), có khả năng  
tạo ra quan điểm chính thống để “dẫn dắt” người đọc. Nhà văn cũng dễ dàng đẩy nhanh mạch  
thời gian tự sự.  
Trong Bão táp triều Trần, với điểm nhìn khách quan là chủ yếu, Hoàng Quốc Hải đã  
bám sát các sự kiện lịch sử. Với hơn 2000 trang sách, tác giả đã phục dựng đầy thuyết phục  
cả một thời đại từ khởi nghiệp, hưng thịnh đến suy tàn dài tới 175 năm của nhà Trần, trong  
đó khoảng gần một nửa số trang thể hiện sinh động ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên  
Mông oanh liệt của người dân Đại Việt. Gương mặt hàng loạt nhân vật anh hùng hiện ra  
sáng rõ như Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Trần Quốc  
Toản…; các bậc liệt nữ như An Tư công chúa, Huyền Trân công chúa; các vị vua anh minh,  
732  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
sáng suốt và đầy dũng khí như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… Hoàng Quốc Hải không  
chỉ phục dựng không khí, sự kiện, chiến công trong quá khứ, mà qua đó ông muốn tôn vinh  
truyền thống văn hóa, lòng tự tôn dân tộc, ý chí quật cường của cha ông. Qua bộ tiểu thuyết  
đồ sộ, thái độ của nhà văn cũng thể hiện rất rõ ràng, như ông từng tâm sự: “Khát vọng của  
tôi là muốn mở to đôi mắt nhìn vào quá khứ, thấy được những điều kì diệu, và cả những khổ  
đau xưa cha ông ta đã tạo dựng và nếm trải” (Lời tựa tiểu thuyết Bão táp cung đình).  
Trong các tiểu thuyết Ngô Vương của Phùng Văn Khai, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn  
Mộng Giác, Sương mù tháng Giêng của Uông Triều, Trần Quốc Toản của Lưu Sơn Minh,  
khi miêu tả các sự kiện lịch sử trọng đại, những trận đánh lớn…, các nhà văn cũng thường  
dùng điểm nhìn khách quan, kèm theo những đánh giá, ngợi ca của nhà văn. Một cảnh chiến  
trận trong tiểu thuyết Trần Quốc Toản của Lưu Sơn Minh được miêu tả:  
Khi thấy viên tướng Việt trẻ măng hoành giáo cản đường gã, Hắc Đích vung cây thương và  
thúc ngựa xông vào. Và chỉ khi đối trận, gã mới biết rằng mình đã quá coi thường địch thủ.  
Cây giáo cán mềm của viên tướng Việt cứ uốn lượn như một con rồng trắng, xoắn xuýt lấy  
cây thương của Hắc Đích khiến gã không sao phô diễn được hai mươi bảy đường thương tuyệt  
kĩ gia truyền. Mũi giáo sắc nhọn cứ lướt qua lướt lại trước mặt gã như trêu ngươi rồi chỉ nhè  
những chỗ yếu hại mà đâm tới. Đau nhất là viên tướng trẻ con đâm ngang ngọn giáo vào mặt  
gã rồi giật tung những sợi râu quai nón xù xì đang xoắn lại vì bụi đường lẫn mồ hôi… (Luu,  
2017, p.161-162).  
Với điểm nhìn khách quan là chủ yếu, Trần Thanh Cảnh đã xây dựng nhân vật Trần  
Hưng Đạo vừa vĩ đại, cao cả, vừa gần gũi, quen thuộc. Từ ngoại hình, thần thái, dáng vẻ  
đến lời nói, suy nghĩ, hành động, ngài luôn toát lên ánh hào quang thần thánh, những phẩm  
chất hơn người của một “thiên tướng nhà trời”, một “thánh nhân” mang “thiên mệnh cứu  
giúp hộ trì cho muôn dân vượt qua cơn binh lửa tàn khốc”. Với võ công cái thế, sức mạnh  
phi thường, thần thái uy nghiêm, tài đức trọn vẹn, vị tướng nhà Trần vừa có sức hút kì lạ  
với những người xung quanh, vừa là nỗi khiếp sợ kinh hoàng cho quân xâm lược. Trong  
cuộc chiến một mất một còn với quân Nguyên, Hưng Đạo Đại Vương chính là biểu hiện  
cho sức mạnh bất diệt của dân tộc Đại Việt, là linh hồn, điểm tựa tinh thần giúp quân dân  
Đại Việt vượt qua những khó khăn, thử thách. Ngài sẵn sàng quên đi “thù riêng”, chủ động  
hòa giải sự đối kháng ngầm giữa hai chi trưởng - thứ, bỏ ngoài tai những lời gièm pha, tập  
trung mọi sức lực, tâm trí vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì bình yên, hạnh phúc của bách tính  
muôn dân.  
2.1.2. Điểm nhìn chủ quan  
Điểm nhìn chủ quan hay điểm nhìn bên trong là điểm nhìn mà ở đó, tác giả nhập thân  
vào nhân vật, trần thuật theo quan điểm nhân vật. Điểm nhìn này có thể được thể hiện bằng  
lời trần thuật nửa trực tiếp và lời độc thoại nội tâm. Một số tiểu thuyết lịch sử mà nhà văn chú  
trọng đến điểm nhìn chủ quan (Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Hội thề của Nguyễn Quang Thân,  
Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Đất trời của Nam Dao…), lại có thế mạnh trong soi  
733  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
chiếu vào thế giới nội tâm nhân vật anh hùng, miêu tả kĩ những đấu tranh, giằng xé của họ,  
mạch thời gian tự sự chậm lại, các sự kiện lịch sử như trôi đi chậm hơn.  
Trong Đất trời của Nam Dao, nhân vật Nguyễn Trãi được soi chiếu từ cả bên ngoài và  
bên trong. Ở nhiều trang, nhà văn cố gắng thâm nhập vào nội tâm Nguyễn Trãi, xây dựng  
Nguyễn Trãi vượt thoát khỏi cách hình dung vốn có của người đọc. Ông để Nguyễn Trãi trở  
thành nhân vật đầy cá tính và nhiều mâu thuẫn, là nhân vật của những bi kịch kép. Trong  
con người Nguyễn Trãi tồn tại nhiều cực đối cực: lí tưởng nhập thế và tâm lí thoát li; ý chí,  
nghị lực và sự buông xuôi, tiêu cực; niềm tin và sự thất vọng, tình yêu trong sáng và sự đam  
mê dục tính… Nhân vật nhiều khi đau khổ, tự vấn: “Trãi bỗng nhận ra sự yếu đuối của thể  
xác là một bất công của đấng cao xanh. Chữ với nghĩa, giờ tích sự gì?” (Nam Dao, 1999,  
p.75); “Trong cái thế người bị trị cổ kê dưới lưỡi đao đầu kiếm, cớ sao ta vẫn cứ một điều  
nhân nghĩa, hai điều tâm công?... Cớ sao cứ phải lập lại một Luận ngữ, Trung dung?... rằng  
Đạo Thánh là của chung thiên hạ nhưng làm theo đạo thì mỗi nơi một phách, chẳng qua  
chẳng đặng đừng?” (Nam Dao, 1999, p.92).  
Trong Hội thề, Nguyễn Quang Thân có nhiều trang thành công soi chiếu nhân vật Lê  
Lợi từ bên trong. Bằng cách để cho nhân vật tự bộc bạch những suy nghĩ thầm kín của mình,  
tác giả đã khắc họa một Lê Lợi sáng suốt, sắc sảo, đồng thời cũng là một con người “nơi sơn  
dã” nhiều dục vọng, lắm nghi kị nhỏ nhen. Lê Lợi hiểu hơn ai hết mình là ai, mình muốn gì;  
hiểu thấu giá trị to lớn của trí thức nhưng không sao bỏ được cái “máu ghét học trò”; vừa  
muốn mình là thánh lại vừa “không tin mình là vị thánh giáng trần” (Nguyen, 2009, p.124);  
“ông thừa nhận mình cũng có nhiều dục vọng bản năng của một con người nơi sơn dã và rất  
sung sướng khi những dục vọng ấy được thỏa mãn” (Nguyen, 2009, p.125). Ông cảm thấy  
“sự khốn khổ” của kẻ làm vua, “muốn “tự nhiên nhi nhiên”. Ông buộc lòng phải cao cả, phải  
anh hùng mà thôi… “Tại sao ta không giữ cô thôn nữ với mùi hương làm lòng ta tan nát ấy  
lại?” (Nguyen, 2009, p.125). Những câu hỏi của Lê Lợi vừa tạo tính đối thoại, vừa tạo sự  
kịch tính, vừa diễn tả chân thực những giằng xé, dằn vặt không thể thổ lộ, giãi bày cùng ai.  
Nguyễn Trãi trong Hội thề cũng được nhà văn trao điểm nhìn bên trong để có thể tự bộc lộ  
những suy nghĩ về chủ tướng, về tướng lĩnh Lam Sơn, về thân phận của bản thân. Trong  
dòng độc thoại nội tâm của Nguyễn Trãi, có thể thấy những day dứt, đau đớn của ông trước  
sự ghẻ lạnh của những người anh em mà ông từng yêu mến:  
Ông có thù oán gì họ không? Không, thật lòng là không. Ông cảm phục lòng dũng cảm gan  
góc xả thân của họ, so với họ thì bọn có học như Lương Nhữ Hốt chỉ là chó lợn mà thôi. Ông  
thương yêu họ, thành tâm muốn gần gũi với họ dù cứ bị hắt ra như người ta coi chừng một kẻ  
lạc loài gian manh, sớm đầu tối đánh bên cạnh mình (Nguyen, 2009, p.258).  
Nguyễn Trãi còn tự soi chiếu mình trong việc bộc lộ lòng trung thành với chủ tướng:  
“Ông chỉ là bầy tôi trung thành với chủ tướng chứ không thể là bằng hữu, chưa bao giờ là  
bằng hữu như bọn Vấn hay Sát” (Nguyen, 2009, p.152); “Ông luôn là khách giữa đám quần  
thần tướng lĩnh của một triều đại đang bắt đầu sửa soạn ngôi thứ. Họ là người nhà, còn ông  
734  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
là khách, mãi mãi là khách” (Nguyen, 2009, p.258). Trong lời tự vấn, nhà văn đã để nhân  
vật Nguyễn Trãi hiện ra với những đau buồn, xót xa rất người sau những cố gắng thể hiện  
lòng trung thành nhưng vẫn bị Lê Lợi nghi ngại, vừa tôn trọng vừa xa cách.  
Trong Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh đã nhìn nhận nhân vật lịch sử với những khía  
cạnh mới, con người với đủ mọi giận hờn, yêu ghét, với những phẩm chất rất đỗi đời thường,  
con người của khát vọng và bi kịch. Hồ Quý Ly, ngoài phẩm chất của một vĩ nhân, còn tồn  
tại những nét đời thường, thậm chí phàm tục. Ông là cả một sự phức tạp và mâu thuẫn, có  
nhìn xa trông rộng và thiển cận, có nhân ái và tàn bạo, có ảo tưởng và thực tế… Người kể  
chuyện đã hóa thân vào nhân vật, đi sâu vào tâm hồn luôn dậy sóng của ông:  
Còn ông, đêm ngày ông phải bận rộn, tâm trạng lúc nào cũng khắc khoải, cuồng nộ. Và những  
đam mê, những khát vọng cho đến lúc thành tựu, thực bụng lúc đó ông thấy kiêu hãnh và thỏa  
mãn... Cái đó có gọi là hạnh phúc không nhỉ? Còn tham vọng thì vẫn như những đợt sóng; đợt  
này qua, đợt khác tới. Và ông lại say sưa đi tìm những tham vọng mới... (Ho, 2006, p.548-  
549).  
Có khi người kể chuyện đi sâu vào tiềm thức nhân vật, buộc nhân vật phải đối diện với  
lương tâm mình: “Nghệ Vương! Ông hãy bình tĩnh lại đi! Hãy hiểu cho tôi... Hãy hiểu đến  
lẽ tuần hoàn...”; “Quý Ly đau một cái đau khủng khiếp, điếng dại cả tâm hồn...” (Ho, 2006,  
p.459). Những lời nói của Quý Ly trong giấc mơ chính là sự tự biện hộ cho mình khỏi sự  
phán xét của tòa án lương tâm. Sau những cải cách được thi hành một cách nóng vội và  
không hiệu quả, Quý Ly luôn trằn trọc suy nghĩ: “Thái sư thở dài. Ông hiểu rằng chế độ mới  
được thi hành còn nhiều trục trặc. Đúng là ban đầu người dân có thể khổ hơn. Tuy nhiên  
Thái sư đang nghĩ ra những giải pháp...” (Ho, 2006, p.537). Khám phá đến tầng sâu kín nhất  
của tâm hồn, người kể chuyện nhìn thấy một Hồ Quý Ly là con người cô đơn tột cùng trên  
đỉnh cao quyền lực. Quý Ly khao khát có được một người hiểu mình. Khi Công chúa Huy  
Ninh mất đi, nỗi cô đơn của Quý Ly càng trở nên lớn lao: “Vì thế, khi bà mất, ông thấy  
choáng váng cô đơn. Những người như ông cô đơn là bạn đồng hành. Ông kiêu hãnh vì sự  
cô đơn ấy. Thậm chí, ông nghĩ phải có sự cô đơn, ông mới làm nên sự nghiệp lớn...” (Ho,  
2006, p.549). Ở đây, với điểm nhìn từ bên trong, những đau khổ, bi kịch của nhân vật được  
thể hiện một cách tự nhiên, chân thực.  
2.1.3. Kết hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn  
Trong nhiều tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975, khi miêu tả nhân vật anh hùng,  
các nhà văn thường chú ý kết hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn. Điểm nhìn trần thuật luôn dịch  
chuyển giữa khách quan và chủ quan, giữa người kể chuyện và nhân vật, giữa các nhân vật  
với nhau. Các tác phẩm thể hiện rõ sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật linh hoạt là Đất trời  
của Nam Dao, Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác,  
Búp sen xanh của Sơn Tùng…  
Chẳng hạn, trong Hội thề, điểm nhìn trần thuật thay đổi và dịch chuyển liên tục, từ  
điểm nhìn khách quan sang điểm nhìn chủ quan. Người trần thuật lúc thì đứng bên ngoài  
735  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
miêu tả chân dung, lời nói, hành động của nhân vật anh hùng; có lúc lại dịch chuyển điểm  
nhìn vào bên trong để khám phá chiều sâu trong tâm hồn, tâm lí, tính cách nhân vật. Khi xây  
dựng hình tượng người anh hùng Lê Lợi, Nguyễn Quang Thân đã khéo léo sử dụng thủ pháp  
dịch chuyển điểm nhìn từ bên ngoài vào bên trong: “Bình Định vương Lê Lợi ngồi trước án  
thư. (…) Ông đọc binh pháp Tôn Tử. Thật mệt. (…) Trông ông bất yên, buồn ngủ nhưng  
không ngủ được” (Nguyen, 2009, p.9-10). Từ ngôn ngữ trực tiếp chuyển dần sang ngôn ngữ  
nửa trực tiếp bày tỏ sự đồng cảm trước vẻ mệt mỏi, có phần chán nản của Bình Định vương  
khi ngồi trước quyển binh pháp ken đầy chữ nghĩa nhưng thường “nhảy múa” trước mặt ông.  
Với Nguyễn Trãi cũng vậy. Nhà văn để Nguyễn Trãi suy nghĩ về mình, về chủ tướng, về  
thời cuộc. Ngôn ngữ miêu tả nhanh chóng nhập vào thế giới nội tâm:  
Trãi thấy mắt cay xè (…) Ông thấy thương xót nhà vua. Người có bản năng làm người mạnh  
mẽ, người cũng đòi hỏi được yêu, được ân ái, được chiều chuộng, được chăm sóc như ai.  
Nhưng người phải làm tướng, phải làm vua! Gánh trên vai người quá nặng (Nguyen, 2009,  
p.84).  
Trong Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác thường sử dụng linh hoạt cả điểm nhìn  
bên ngoài và bên trong, lời trực tiếp và nửa trực tiếp để thể hiện những mâu thuẫn nội tâm  
của Nguyễn Huệ. Nhà văn đặt nhân vật vào trạng thái cô đơn, phải đối diện, tự vấn với chính  
mình. Khi nghe tin An lấy chồng, nhiều chữ “nếu” đặt ra trong đầu Huệ:  
Nhiều chữ nếu đặt ra đầu những câu giả thiết, và câu nào cũng gây cho anh sự tiếc nuối… Tại  
sao nàng lại có thể yêu thương một người như thế được? Nàng có lầm lẫn không? Nàng lầm  
lẫn về hắn ta hay lầm lẫn về nàng? Câu hỏi oái oăm đó lại quấy rầy Huệ. Anh cảm thấy choáng  
váng phải đưa tay lên chống trán (Nguyen, 2006a, p.710).  
Huệ đấu tranh với bản thân khi đứng trước cửa nhà ông giáo vào cái đêm trước ngày  
An cưới: “Anh mạnh dạn quay lại đường cũ. Nhưng đến ngã rẽ vào nhà thầy, anh lại nghĩ:  
“Thầy đi khép cửa sổ, tức là sắp đi ngủ. Vào quấy rầy Thầy lúc này có tiện không?... Ta đến  
đây làm gì? Để nói gì với Thầy? Với nàng? Ta có điên chưa mà toan tính rồ dại vậy?  
(Nguyen, 2006a, p.699). Những suy tư trăn trở của Huệ trong đêm ở Thăng Long, suy nghĩ  
những giải pháp về vấn đề Bắc Hà:  
Ông phải làm gì đây? Họ Trịnh đã bị lật đổ khỏi phủ chúa… Chế độ vũ trị không thể kéo dài.  
Quyền hành sau này sẽ thuộc về ai? Giao vận mệnh xứ sở xa lạ này (cái xứ sở ông mới quen  
có hai tháng ngắn ngủi) cho sự đau yếu bạc nhược, hay cho sự sợ hãi? Vả lại anh ông ở Quy  
Nhơn đang nghĩ gì khi được tin ông đã đem đại quân vượt qua Luỹ Thầy? (Nguyen, 2006b,  
p.603);  
Ta dừng lại chăng? Ta bằng lòng đứng bên này Luỹ Thầy nhìn ra phía Bắc như một kẻ ngoài  
cuộc, để mặc cho Nguyễn Hữu Chỉnh, họ Lê, họ Trịnh, quận Thạc, quận Liễn cùng lũ quan  
thị xâu xé nhau giữa một đất nước tan hoang… (Nguyen, 2006c, p.39).  
Trong Bão táp cung đình, khi nói về Trần Thủ Độ, Hoàng Quốc Hải luôn chú ý kết  
hợp điểm nhìn của nhiều nhân vật. Trong con mắt của Hoàng tiên sinh, Trần Thủ Độ vừa là  
một anh hùng, vừa là gian hùng: “Thủ Độ quả là một anh hùng, một tay gian hùng. Giỏi! Y  
736  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
cực giỏi, đế nghiệp chắc chắn về tay họ Trần” (Hoang, 2016, p.83). Với Trần Thị Dung,  
Thái Tông, Huệ Tôn, Trần Thủ Độ là một gương sáng: “Ông ấy là một người trọng nghĩa.  
Nhưng là một người sống mẫu mực, nghiêm chỉnh” (Hoang, 2016, p.162); “Quốc Công là  
bậc kì tài có một không hai trong lịch sử nước nhà mà không tự biết, hoặc không cần biết  
đến” (Hoang, 2016, p.416). Còn phe cánh chống đối như Nguyễn Nộn, Đào Hữu thì cho  
rằng Trần Thủ Độ là loại “vũ dũng vô mưu”: “Trần Thủ Độ tuy là nhà hào phú, lắm của,  
nhiều quân, được xem là loại vũ dũng. Nhưng y xuất thân từ đám dân chài, lại vô học, hắn  
chỉ hùng hục như con trâu mộng húc bừa, không có gì đáng sợ” (Hoang, 2016, p.104). Cách  
thức luân chuyển điểm nhìn này giúp nhà văn khắc họa thành công một Trần Thủ Độ mà  
theo ông “không thể đồng tình với các sử gia trung đại”, “mong trả lại sự công bằng cho  
nhân vật lịch sử”.  
Sự luân phiên điểm nhìn trần thuật cũng là một nét đặc sắc trong Gió lửa của Nam  
Dao. Người trần thuật luôn linh hoạt trao điểm nhìn cho các nhân vật để tạo ra sự đối thoại,  
tranh biện. Dưới con mắt của Ngô Thì Nhậm, Huệ là “một thiên tài về mặt quân sự” thỏa  
sức vùng vẫy. Trong mắt của Nhật, Huệ là kẻ “ngạo mạn thách thức”. Dưới cái nhìn của  
người kể, Huệ “từ em một tên ấp trưởng buôn trầu nguồn, đã trở thành phò mã vua Lê, mặc  
sức xoay vần cả một đế chế” (Nam Dao, 2009, p.515). Dưới cái nhìn của Thức: “Huệ đánh  
được xâm lăng nhà Thanh, thì Huệ đáng làm vua” (Nam Dao, 2009, p.538). Còn Nguyễn  
Ánh cho rằng: Huệ là “con cọp, nó tát nó quào rồi nó bỏ đi. Còn ta trời sinh ra ta làm con  
sói. Ta không tát không quào, chỉ biết cắn. Nhưng khác nó, ta cắn vào con mồi rồi thì nhất  
định ta không nhả ra, dù trời có sập cũng vậy!” (Nam Dao, 2009, p.396)… Ở đây, các điểm  
nhìn được đặt cạnh nhau, bổ sung cho nhau, giúp làm rõ hơn bản lĩnh, tài năng, tầm vóc của  
người anh hùng Nguyễn Huệ.  
Xây dựng nhân vật anh hùng từ nhiều điểm nhìn là một bằng chứng cho thấy những  
nỗ lực của các nhà văn trong việc cách tân tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975. Bên cạnh  
điểm nhìn bên ngoài, khách quan quen thuộc, nhiều nhà văn đã chú ý dịch chuyển điểm nhìn  
vào bên trong, điểm nhìn chủ quan, giúp soi chiếu sinh động thế giới tâm hồn phức tạp của  
nhân vật anh hùng. Các tác giả cũng chú ý linh hoạt di chuyển điểm nhìn từ tác giả sang  
điểm nhìn nhân vật, góp phần khắc phục sự đơn điệu, áp đặt trong cách bộc lộ thái độ của  
nhà văn.  
2.2. Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975  
2.2.1. Giọng ngợi ca, hào sảng  
Khi miêu tả nhân vật anh hùng, người kể chuyện không thể không đứng trên quan  
điểm dân tộc và cái nhìn của quần chúng nhân dân, trước hết là sự tôn thờ, kính trọng những  
vĩ nhân đã thay trời hành đạo, cứu nước, an dân. Giọng điệu ngợi ca trước hết, thể hiện qua  
những lời văn miêu tả chân dung nhân vật. Trong bút pháp miêu tả ngoại hình, văn xuôi viết  
về đề tài lịch sử vẫn tiếp thu truyền thống của truyện dân gian, của văn học trung đại thể  
hiện người anh hùng. Trong tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, nhân vật anh hùng luôn là người  
737  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
khác thường. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, Lưu Bị có ngoại hình “mình cao bảy thước rưỡi,  
hai tai chảy xuống gần vai, hai tay buông khỏi đầu gối, mắt trông thấy được tai, mặt đẹp như  
ngọc, môi đỏ như son”. Quan Công thì “mình cao chín thước, râu dài hai thước, mặt đỏ như  
gấc, môi như tô son, mắt phượng mày tằm oai phong lẫm liệt”. Trương Phi thì “mình cao  
tám thước, đầu báo mặt tròn, râu hùm hàm én, tiếng vang như sấm”. Trong khi đó, vị quân  
sư Khổng Minh có ngoại hình như tiên đồng giáng thế “mặt đẹp như ngọc, hình dáng thanh  
thoát như tiên”.  
Trần Quốc Tuấn trong Bão táp triều Trần và Đức Thánh Trần toát ra vẻ đẹp tráng kiện,  
mạnh mẽ, có phong thái, cốt cách hơn người; hay là Nguyễn Tất Thành với vẻ đẹp như tiên  
đồng giáng thế trong Búp sen xanh... Cũng với cách thức ấy, giọng điệu ngợi ca cũng thể  
hiện trong lời văn viết về Nguyễn Huệ trong Tây Sơn bi hùng truyện: “Huệ tuy còn niên  
thiếu mà lưng hùm vai gấu, mặt vuông tai lớn, mắt sắc như gươm, ánh nhìn như chớp” (Le,  
2006a, p.30). Và sau này khi đã lập được nhiều chiến thắng, Nguyễn Huệ lại được Lê Đình  
Danh phác họa: “ngồi trên bành voi, oai phong lẫm liệt, bệ vệ uy nghi” (Le, 2006a, p.519).  
Hay một Nguyễn Huệ mang đầy nét đẹp hào hoa, lãng tử trong Hoàng đế Quang Trung:  
Một chàng trai đô khỏe chưa lộ vẻ phong trần, các đường nét được sắp xếp hài hòa cân đối  
trên một khuôn mặt vuông vức, đầy đặn như vừng dương vươn lên với sắc hồng rạng rỡ, trông  
trẻ trung phơi phới và rất uy nghi trên lưng con tuấn mã (Nguyen, 2013, p.130).  
Giọng điệu ngợi ca còn được nhà văn sử dụng trong miêu tả tài năng và phẩm chất của  
người anh hùng. Sự ngưỡng mộ được thể hiện trong những đoạn văn miêu tả người anh hùng  
tả xung hữu đột nơi sa trường: “Lời còn chưa dứt, Ngô Quyền đã như bay từ trên bành voi  
xuống lưng con bạch long câu. Ngô Quyền nắm chắc trường thương, oai phong tế ngựa tiến  
thẳng ra phía trước” (…) “càng đánh càng hăng, đường thương vun vút, khiến Lý Trí Thuận  
không khỏi kinh động trong lòng” (Phung, 2019, p.32). Trong trận Bạch Đằng, hình ảnh của  
Ngô Quyền hiện lên oanh phong lẫm liệt:  
Ngô chủ tướng thân mang giáp trụ, lưng đeo trường kiếm lớn, dầu đội mũ đâu mâu khảm  
ngọc, oai phong đĩnh đạc bước lên chính giữa đàn gỗ… Khi Ngô tướng quân giơ tay về bốn  
phía, sóng người cuồn cuộn dâng lên, những tiếng hô hét vang trời cùng chiêng trống thúc  
lên ầm ầm không dứt…, để ba quân tỏ rõ lòng muốn được đánh giặc, Ngô Quyền ra hiệu cho  
bốn phía cùng yên lặng mới cất tiếng sang sảng như chuông đồng. Giọng Ngô tướng quân  
chưa bao giờ vang ngân và xúc động đến nhường ấy (Phung, 2019, p.349-350).  
Trần Quốc Tuấn trước hết là một võ tướng “giỏi mọi môn võ nghệ. Phi ngựa bắn cung,  
múa gươm, côn quyền cho đến cả môn võ vật truyền thống”; “Khi chàng múa giáo, tiếng gió  
rít lên như bão, xung quanh người chàng chỉ có những vòng tròn liên hoàn bất tận đan kín,  
không thấy người. Gươm giáo tên đạn bắn văng ra hết” (Tran, 2017, p.49). Không chỉ giỏi  
võ nghệ, Trần Quốc Tuấn còn là người có tầm nhìn xa, một thiên tài quân sự. Tài năng ấy  
738  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
làm cho bọn giặc khiếp sợ: “Trần Quốc Tuấn là viên tướng tài số một của Đại Việt” (Tran,  
2017, p.56). Trong con mắt của Trần Thanh Cảnh, Trần Hưng Đạo là “vị tướng nhà trời”.  
Giọng ngợi ca, hào sảng chính là sự tiếp nối truyền thống sử thi khi miêu tả người  
anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1945-1975. Giọng điệu này đã góp phần tạo  
dựng nhiều hình tượng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 như  
những con người tuyệt đẹp, những biểu tượng về ý chí, tinh thần, trí tuệ của con người  
Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, mà nói như Nguyễn Trãi “tuy mạnh yếu từng lúc  
khác nhau/ song hòa kiệt thời nào cũng có”.  
2.2.2. Giọng trữ tình, đằm thắm  
Lịch sử dân tộc có những trang dữ dội, oanh liệt, với chiến công vang dội chống  
ngoại xâm, những cuộc nội chiến đẫm máu, nhưng lịch sử cũng có những trang êm đềm  
trong hòa bình, những khung cảnh, vùng đất, con người đầy chất thơ. Các nhà văn thường  
sử dụng giọng điệu trữ tình trong tiểu thuyết để miêu tả thiên nhiên, tình yêu hay những  
xúc động nội tâm khi xây dựng nhân vật anh hùng. Giọng trữ tình chủ yếu được được nhà  
văn sử dụng để đi sâu phân tích những diễn biến tinh tế, thầm kín trong tâm trạng nhân  
vật. Đây là đoạn văn thể hiện tình thương của người kĩ nữ với Nguyễn Trãi (Hội thề -  
Nguyễn Quang Thân):  
Ông ấy yêu nàng, chăm sóc nàng như một chàng công tử tốt bụng lại hào hoa, phong nhã  
chẳng chút thô lậu võ tướng… Có khi ông ta khóc. Tự dưng nàng thấy thương ông ta, nàng  
chưa từng có chồng nhưng nàng nghĩ nếu có chồng chắc nàng cũng thương chồng mình như  
thế (Nguyen, 2009, p.68).  
Có khi giọng điệu trữ tình lại được dùng để thể hiện những hoài niệm, nuối tiếc của  
Nguyễn Trãi về quá khứ: “Ôi những ngày tuyệt vời ấy đâu rồi? Thân phụ thân mẫu không  
còn, ông đã mất tất cả, mất hết… ông đã mất hẳn cuộc đời thanh xuân cũ, cuộc đời ông  
quý ông yêu biết bao vì không giấu ai, ông thừa nhận mình cũng có nhiều dục vọng bản  
năng của một con người nơi sơn dã và rất sung sướng khi những dục vọng ấy được thỏa  
mãn”. Khi thể hiện những niềm vui, nỗi buồn của người anh hùng, tác giả cũng sử dụng  
giọng trữ tình:  
Nguyễn Trãi sung sướng vì hôm nay nhà vua đã quyết đoán nhanh chóng. Người tự ví mình  
với con chim ưng sáng suốt, dũng mãnh, nhưng ông thấy Người còn hơn thế. Cuộc dấy nghĩa  
đã đến hồi kết thúc và chính ông cũng thấy ngỡ ngàng vì quá mừng rỡ khi đoạn kết diễn ra  
mĩ mãn. Lòng ông nhẹ nhàng, thảnh thơi và phơi phới như vừa trở về nhà sau một buổi vãn  
cảnh chùa (Nguyen, 2009, p.288).  
Với Hồ Qúy Ly, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng giọng điệu trữ tình đầy cảm xúc khi  
miêu tả tâm trạng của Hồ Quý Ly sau khi đọc xong Minh Đạo Luận của Sử Văn Hoa:  
“Chao ôi! Minh Đạo! một dàn nhạc khổng lồ mà những nhạc công vẫn còn tấu lên những  
điệu khúc theo cách của họ” (Nguyen, 2006, p.503).  
Giọng trữ tình còn được nhà văn sử dụng để miêu tả những cung bậc cảm xúc của tình  
yêu. Trong Đức Thánh Trần, hai giọng điệu chủ đạo mà nhà văn xây dựng khi miêu tả nhân  
739  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
vật Trần Quốc Tuấn đó là giọng ngợi ca hào sảng và giọng trữ tình. Nếu như giọng ngợi ca  
với mục đích đề cao phẩm chất, vẻ đẹp của người anh hùng thì giọng trữ tình được nhà văn  
sử dụng để thể hiện những cảm xúc thăng hoa đến tột đỉnh trong tình yêu của Trần Quốc  
Tuấn. Đây là đoạn văn đầy cảm xúc miêu tả cảnh ân ái của Trần Quốc Tuấn và Quế Lan tại  
nương dâu bên dòng Thiên Đức:  
Cả nương dâu xanh ngát bên bờ sông Thiên Đức hân hoan ca hát. Gió sông ào ạt thổi, nắng  
xuân nhảy nhót reo vui mừng mối duyên trời. Lúc họ trao mình vào nhau, một đàn chim hồng hạc  
thốt nhiên tự trên trời cao sà xuống mép nước. Những con linh điểu đẹp đẽ vươn mình tắm rửa trên  
dòng nước ngọt lành của con sông. Chúng nhảy nhót gù nhau, những đôi cánh rộng lớn giang ra vẫy  
gọi trong vũ điệu huyền bí. Những cái cổ kiêu hãnh thon thả vươn lên mê đắm. Từ những đôi mỏ  
hồng xinh xắn, những tiếng yêu âu yếm như tiếng thầm thì của tình yêu thần thánh thăng hoa…  
(Tran, 2017, p.31).  
Trong Sông Côn mùa lũ, tác giả cũng dùng những đoạn văn giàu chất thơ thể hiện tâm  
trạng Nguyễn Huệ trước thiên nhiên hoặc trước tình yêu của An: “Huệ đứng bên cửa sổ nhìn  
những giọt lá me vàng rơi đều, rơi đều, lòng bập bềnh bồi hồi. Buổi sáng qua mau trong cảm  
giác bảng lảng đó của tâm hồn Huệ” (Nguyen, 2006a, p.296). Mối tình Huệ - An ở Quy  
Nhơn như những nốt nhạc trữ tình đan xen giữa những không gian chiến trận, thường hiện  
lên trong tâm trí của người anh hùng dân tộc.  
2.2.3. Giọng triết lí - chiêm nghiệm  
Trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1945-1975, giọng điệu chủ yếu là giọng sử thi.  
Nguyễn Thị Bình cho rằng: “Nếu nhìn đại thể, văn xuôi nước ta từ 1945 đến 1975 tương đối  
nhất quán về giọng điệu: giọng khẳng định, ngợi ca của một cái nhìn tin tưởng lạc quan bao  
trùm (những biến thái có thể là hào hùng, hào sảng, đanh thép, vui tươi, trang nghiêm tự hào,  
đầm ấm tin yêu” (Nguyen, 2012, p.82). Đến giai đoạn sau 1975, với xu thế dân chủ, soi xét  
lại các giá trị và đi tìm kiếm các giá trị mới, tiểu thuyết lịch sử có sự gia tăng giọng triết lí,  
chiêm nghiệm. Giọng điệu này lên ngôi khi nhà văn muốn đối thoại, chất vấn lịch sử, rút ra  
các bài học từ lịch sử để định hướng cho hiện tại. Trong bài viết Kí ức nhân loại qua con  
mắt của nhà văn, Uông Triều cho rằng: “Tôi thường viết khá nhiều về vua Trần Nhân  
Tông… Tôi thường tự hỏi không biết vua Trần Nhân Tông đã nghĩ gì. Đôi khi có những tình  
tiết hư cấu tôi lại đắn đo, không biết mình có đoán trúng ý ngài không” (Hoi, 2013, p.463).  
Giọng triết lí - chiêm nghiệm thể hiện trong những suy tư của tác giả, của nhân vật anh  
hùng khi nghĩ về vận mệnh, tương lai của đất nước, về những bài học cần rút ra, những dự  
định không thể thực hiện. Đó là khi Lê Lợi tự chất vấn cái giá và mặt trái của ngai vàng khi  
bản thân đang ở tột đỉnh vinh quang: “Ta đang là ông vua trên chót vót đỉnh cao quyền lực  
hay chỉ là một kẻ khốn khổ bị tước đoạt mất cuộc đời thú vị, sung sướng, tự do mà ta nuối  
tiếc?” (Nguyen, 2009, p.125-126). Hay sự chiêm nghiệm về so sánh giá trị của cung kiếm  
và chữ nghĩa, sách lược: “Kẻ giỏi cung đao hay công trạng nhiều lại có quyền khinh rẻ người  
hay chữ đến thế sao? Phải chăng đó là chuyện thường tình của mọi thời?” (Nguyen, 2009,  
p.128). Trong tiểu thuyết của mình, Nguyễn Quang Thân đã đặt gần như toàn cuộc khởi  
740  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
nghĩa Lam Sơn vào trong những suy tư, chiêm nghiệm của Nguyễn Trãi và Lê Lợi. Nhiều  
trang viết như là những cuộc luận bàn về anh hùng, về nhân tình thế thái dưới hình thức tự  
vấn của nhân vật, đồng thời đó cũng là những tự vấn khắc khoải trong tâm tư người đọc.  
Giọng triết lí, chiêm nghiệm đôi khi được nhà văn sử dụng để chất vấn lịch sử như khi  
Nguyễn Mộng Giác đánh giá vai trò lịch sử của các cá nhân (Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc):  
“Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là những cá nhân ở đúng vào vị trí vươn lên của một thế hệ  
mới. Dĩ nhiên (…) có tài trí đủ để nhận lãnh vai trò lịch sử, nhưng họ không hoàn toàn chủ  
động. Tình thế đẩy họ tiến lên, đám đông thúc họ đứng dậy” (Nguyen, 2006a, p.375). Những  
con người như Nguyễn Huệ có “sự quả cảm, trầm tĩnh và thông minh thiên phú” nhưng  
“bước đầu họ có lúng túng với vai trò mới, họ cảm thấy bị đưa đẩy nên phải quyết định vội,  
nhưng dần dần quen với vai trò lịch sử, họ tự tin hơn, chính lúc đó khả năng trí tuệ của họ  
mới biểu lộ toàn diện để đối phó với các biến cố dồn dập, các thử thách lớn lao mà từ xưa  
đến nay họ chưa từng gặp phải” (Nguyen, 2006a, p.375). Nguyễn Mộng Giác không đánh  
giá thấp vai trò của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, nhưng ông cũng suy tư nhiều về những  
mầm mống của thất bại ngay khi xuất hiện cảnh “nồi da xáo thịt” giữa hai anh em Nguyễn  
Huệ và Nguyễn Nhạc. Trong Sông côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác đã trả lời những câu hỏi  
ấy bằng việc dẫn ra những nguồn sử liệu, một của ta, một của người ngoại quốc, ghi lại lập  
trường của Nguyễn Nhạc về vấn đề Bắc Hà: “Trong cuộc hội kiến giữa Chapman và Nguyễn  
Nhạc năm 1778 (…) Nguyễn Nhạc cho biết ước vọng cao nhất của mình là chiếm cả giang  
sơn Nam Hà, từ Lũy Thầy vào đến Gia Định. Chỉ chừng ấy thôi! Trong cuộc hội kiến với  
vua Chiêu Thống nhà Lê tám năm sau (1786) tại kinh đô Thăng Long, Nguyễn Nhạc cũng  
nhắc lại điều ấy cho các quan nhà Lê nghe. Nói chuyện với dân Nghệ An, Nguyễn Nhạc  
cũng nhún nhường tự coi là “họ ngoại của chúa Nam Hà” (Nguyen, 2006c, p.113-114). Tác  
giả đã nhìn thấu lực cản lịch sử không ở đâu xa mà chính là ở người anh cả của Nguyễn Huệ:  
“Rõ ràng, trước sau như một, Nguyễn Nhạc chỉ muốn dừng lại bên này Lũy Thầy… Cho  
nên, nếu không có vụ nồi da xáo thịt thì cái cớ thống nhất cũng không thể thành tựu được”.  
Giọng điệu từ suy tư chuyển sang phán xét nhân danh lịch sử:  
Cho nên, nếu Nguyễn Huệ xứng đáng nhận lấy vinh quang vì can đảm hi sinh cái tiểu tiết để  
phụng sự cái đại cuộc, thì chính Nguyễn Huệ phải một mình chịu trách nhiệm về sự yếu đuối  
của mình. Ông dám bất tuân lệnh vua anh vượt qua Lũy Thầy, nhưng không đủ sức mạnh ý  
chí và sự lạnh lùng để vượt qua cái lũy vô hình là tình máu mủ (Nguyen, 2006c, p.114).  
Phải chăng sự yếu đuối của Nguyễn Huệ đã bỏ lỡ cơ hội lịch sử, sinh ra ranh giới Bến  
Ván và “nuôi dưỡng” di họa cho Tây Sơn:  
Bến Ván! Bến Ván! Cái tên ấy sắc như một lưỡi gươm chém đứt thân thể của xứ sở, chém đứt  
ước vọng thống nhất của một người anh hùng dám một mình chịu đựng tất cả tai tiếng, dèm  
pha, đàm tiếu thực hiện cho được cao vọng của mình. Những dao động thanh toán nội bộ sau  
biến cố quan trọng này, tất nhiên không thể tránh khỏi. Kể tỉ mỉ làm gì những điều vụn vặt  
741  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
ấy!”. Nguyễn Huệ dù bị tác giả phê phán, cũng vẫn được cảm thông: “Làm sao được! Ngoài  
khối óc, ông còn có trái tim nhạy cảm! (Nguyen, 2006c, p.117).  
Giọng triết lí – chiêm nghiệm đôi khi còn được các nhà văn dùng để nói lên những  
trăn trở, suy ngẫm của người anh hùng về cuộc sống nhân sinh. Đó là những suy ngẫm của  
Nguyễn Trãi (Đất trời) về sự sống và cái chết: “Liều chết để tìm ra đường sống? Có thể lắm.  
Nhưng nếu không chỉ xuất phát từ bản năng mà là một chọn lựa thì liều chết để tìm ra đường  
sống lại là một nghịch lí oái oăm và thê thảm nhất của loài người” (Nam Dao, 2007, p.127);  
“Điều kì diệu của sự sống là trong từng cái nhỏ nhoi” (Nam Dao, 2007, p.155). Nói về tình  
yêu với Tổ Quốc, Nguyễn Trãi chiêm nghiệm: “Yêu một người, khó vô cùng. Yêu non sông  
xã tắc dễ hơn vì tình yêu đó trừu tượng. Nó được gạn lọc qua chữ nghĩa thánh hiền, biến  
thành một thứ thần quyền dính dấp u mê. Mà đã u mê, còn gì là ý thức. Không ý thức, làm  
sao có tự do?” (Nam Dao, 2007, p.306). Để tìm cách đối xử khéo léo với tên hàng xóm luôn  
đầy ắp dã tâm, Nguyễn Trãi (Hội thề) nghĩ rằng: “Muốn anh hàng xóm côn đồ không sang  
đánh ta, phá nhà ta, giết lợn gà của ta thì có một cách là đi lại với y, coi y như hàng xóm.  
Chỉ có nước lã mới rửa được máu, lấy máu rửa máu chỉ làm bẩn mãi thêm” (Nguyen, 2009,  
p.274). Có khi là suy nghĩ của Nguyễn Trãi về chữ nhẫn của kẻ quân tử: “Nhẫn là quý, là sự  
nhường nhịn của kẻ có học trước tâm địa vô học xấu xa để một lòng cho tình thế ổn định.  
Nhưng nếu sống chỉ có chữ nhẫn thì rất có thể mang tiếng là kẻ hèn” (Nguyen, 2009, p.82-  
83).  
Như vậy, để khắc họa sinh động hình tượng người anh hùng, các tác giả đã sử dụng  
phối hợp, linh hoạt nhiều sắc giọng: giọng ngợi ca, hào sảng, giọng trữ tình tha thiết, giọng  
suy tư chiêm nghiệm. Ngoài các sắc giọng chủ yếu trên, các nhà văn còn sử dụng một số  
giọng khác như giọng khách quan trung tính, giọng hoài niệm, xót xa, giọng hài hước,  
humor.  
3.  
Kết luận  
Cùng với sự đa dạng, phong phú trong loại hình nhân vật anh hùng, kết hợp hài hòa  
giữa yếu tố chính sử và yếu tố hư cấu trong xây dựng nhân vật, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam  
sau 1975 cũng có bước tiến lớn trong việc vận dụng, sáng tạo các phương pháp, thủ pháp  
xây dựng nhân vật. Các nhà văn cũng sáng tạo, kết hợp hài hòa nhiều thủ pháp để xây dựng  
nhân vật như xây dựng nhân vật qua tướng mạo, chân dung bên ngoài; qua lời nói, hành  
động; đặc biệt là chú trọng thể hiện thế giới nội tâm với nhiều phức tạp, giằng xé, bi kịch.  
Các tác giả đã vận dụng linh hoạt, kết hợp, luân chuyển nhiều điểm nhìn, nhiều sắc thái giọng  
điệu trong thể hiện nhân vật anh hùng, đặc biệt chú trọng nhiều hơn điểm nhìn bên trong,  
quan tâm thể hiện thế giới nội tâm phức tạp, đầy chất người của các anh hùng. Giọng điệu  
thể hiện nhân vật anh hùng cũng có sự đan xen, phối hợp nhiều sắc thái, có giọng ngợi ca,  
hào sảng, có giọng trữ tình đằm thắm, có giọng triết lí suy tư. Đặc biệt, giọng triết lí, suy tư,  
chiêm nghiệm được thể hiện với mật độ cao trong nhiều tiểu thuyết.  
742  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Trần Thị Nhật và tgk  
Tuyên bố về quyền lợi: Cá c tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Central Committee of Theory, Literary and Art Review (2013). Sang tao van hoc nghe thuat ve de  
tai lich su [Creative literary art on the subject of narrative history]. Hanoi: National Political  
Publishing House.  
Le, D. D. (2006a). Tay Son bi hung truyen (Tap 1) [Tay son tragic storyline (Episode 1)]. Hanoi:  
Cultural and Infomaiton Publishing House.  
Le, D. D. (2006b). Tay Son bi hung truyen (Tap 1) [Tay son tragic storyline (Episode 1)]. Hanoi:  
Cultural and Infomaiton Publishing House.  
Nam Dao (1999). Gio lua [Wind and Fire]. Canada: Poetry & Literary Publishing House.  
Nam Dao (2007). Dat troi [Earth and Heaven]. Danang: Da Nang Publishing House.  
Nguyen, M. G. (2006a). Song Con mua lu (Tap 1) [Con river flood season (Episode 1)]. Hanoi:  
Literary Publishing House.  
Nguyen, M. G. (2006b). Song Con mua lu (Tap 2) [Con river flood season (Episode 2)]. Hanoi:  
Literary Publishing House.  
Nguyen, M. G. (2006c). Song Con mua lu (Tap 3) [Con river flood season (Episode 3)]. Hanoi:  
Literary Publishing House.  
Nguyen, T. B. (2012). Van xuoi Viet Nam sau 1975 [Vietnamese prose after 1975]. Hanoi: University  
and Professional Education Publishing House.  
Hoang, Q. H. (2016). Bao tap cung dinh [Royal storms]. Hanoi: Literary Publishing House.  
Nguyen, T. H. (2013). Hoang de Quang Trung [Quang Trung King]. Hanoi: Cultural and Infomaiton  
Publishing House.  
Phung, V. K. (2019). Ngo Vuong [ Ngo King]. Hanoi: Literary Publishing House.  
Nguyen, X. K. (2006). Ho Quy Ly [Ho Quy Ly]. Hanoi: Woman Publishing House.  
Luu, M. S. (2017). Tran Quoc Toan [Tran Quoc Toan]. Hanoi: Literary Publishing House.  
Nguyen, Q. T. (2009). Hoi the [The festival swears]. Hanoi: Woman Publishing House.  
Tran, D. S. (2004). Tu su hoc (Tap 1) [Science of narrative]. Hanoi: Ha Noi University of Education  
Publishing House.  
Tran, T. C. (2017). Duc Thanh Tran [His Holiness Tran]. Hanoi: Writers Association Publishing.  
743  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 731-744  
A NARRATIVE VIEW AND TONE  
WHEN DEPICTING A HEROIC CHARACTER  
IN VIETNAMESE HISTORICAL NOVELS AFTER 1975  
Tran Thi Nhat, Nguyen Thi Thu Hang*  
Saigon University, Vietnam  
*Corresponding author: Nguyen Thi Thu Hang – Email: [email protected]  
Received: March 01, 2021; Revised: April 06, 2021; Accepted: April 24, 2021  
ABSTRACT  
This article examines the point of view and narrative tone in Vietnamese historical novels post  
1975 on the depiction of heroic characters. From different perspectives of storytellers, authors of  
many novels have variedly portrayed heroic figures in history. When telling a story from a third-  
person point of view, the authors depict a historical hero with superior and divine appearance and  
charisma. He is also a threat to any enemy. When narrating from the character's inner world,  
narrators used semi-direct language and inner monologue. That is when narrator's mentality  
penetrates into the inner world, the character's torment, suffering, and restlessness. At this time, the  
national hero also has anger, love, and hate, even mundane; but also restlessness, passion, and  
longing. The flexibility and constant movement of narrative point of view contribute to the success  
of the authors to build heroic characters. Besides, the variation and the combination of many voices  
in telling the story - sometimes the voice of praise is loud, sometimes the voice is deep, and it is  
deeply emotional, lyrical, or philosophical, then contemplative. Through the analysis of the point of  
view and narrative tone, we can also see the progress of the Vietnamese historical fiction genre, the  
capacity, and creativity, the contributions of post-1975 writers in describing the events and historical  
figures.  
Keywords: historical novels; heroic characters; point of view; tone  
744  
pdf 14 trang baolam 24240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật khi miêu tả nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdiem_nhin_va_giong_dieu_tran_thuat_khi_mieu_ta_nhan_vat_anh.pdf