Cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi
63
CHUYÊN MỤC
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC
CẢM QUAN THIỀN ĐẠO TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
NGUYỄN CÔNG LÝ*
NGUYỄN CÔNG THANH DUNG**
Nguyễn Trãi là một trong vài tác gia lớn của nền văn học cổ điển Việt Nam. Ông
còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất, một nhà chiến lược quân sự tài ba, một
danh nhân văn hóa được thế giới tôn vinh. Tuy xuất thân là nhà Nho nhưng
trong thơ văn và tư tưởng của ông, không chỉ thuần túy thể hiện tư tưởng Nho
gia mà còn thể hiện tư tưởng thiền Phật và Lão Trang.
Riêng về cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi, một số nhà nghiên cứu
cũng đã đề cập đến nhưng chưa đi sâu lý giải cội nguồn và nguyên do. Bài viết
trình bày cảm quan Thiền đạo của ông qua hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc
âm thi tập.
Từ khóa: Nguyễn Trãi, cảm quan Thiền đạo, Ức Trai thi tập; Quốc âm thi tập
Nhận bài ngày: 31/5/2021; đưa vào biên tập: 02/6/2021; phản biện: 14/6/2021;
duyệt đăng: 10/8/2021
1. DẪN NHẬP
nhưng trong thơ văn của ông không
chỉ nói tiếng nói của Nho gia mà còn
thể hiện tư tưởng của thiền Phật và
Lão Trang.
Nguyễn Trãi (1380-1442), là một trong
vài tác gia lớn của nền văn học cổ
điển Việt Nam. Thơ văn của ông đã
góp phần vào công cuộc trị nước và
làm vẻ vang cho đất nước (kinh bang
hoa quốc 經 邦 華 國 ) như lời của
Nguyễn Mộng Tuân (2000: 217) đã
ngợi ca. Xuất thân là một bậc đại nho
Trong văn học Phật giáo Việt Nam,
nhất là thơ cổ điển, không riêng gì thi
kệ, ngữ lục của các vị thiền sư, mà
sáng tác của các nho sĩ viết về thiền
Phật đều chịu ảnh hưởng sâu đậm tư
tưởng triết lý tính Không uyên nguyên
biện chứng của kinh văn hệ Bát nhã:
“sắc bất dị không, không bất dị sắc;
sắc tức thị không, không tức thị sắc;
*, **
Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh.
64
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…
thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như sự phát sinh của nhân duyên khác,
dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ
những khâu chính trong dây chuyền
mười hai nhân duyên, để đi đến
chứng được đạo quả của Duyên giác
thừa (Kinh Hoa Nghiêm).
thị. 色不異空, 空不異色,色即是空,空即是色,
受,想,行,識,亦復如是.” (sắc chẳng khác
không, không chẳng khác sắc, sắc tức
là không, không tức là sắc, các uẩn
thọ, tưởng, hành, thức, cũng lại như
thế) (Bát Nhã tâm kinh). Có nhận thức
được điều này thì mới hiểu rõ cái
Không chân thật, tức ‘Chân không
Nếu nhận thức được cái lý duyên khởi
thì mới rõ được cái lẽ vô thường của
các pháp, tức tất cả các hiện tượng
diệu hữu’ uyên áo được ghi lại trong trong thế giới khách quan đều không
tồn tại vĩnh hằng. Mà khi đã hiểu rõ
cái lẽ vô thường rồi thì tâm chúng ta
sẽ không còn chấp ngã (phân biệt cái
này là của tôi), để đạt đến cái vô ngã
tự do tự tại.
kinh văn mà các vị thiền sư đã thể
hiện trong thi kệ, ngữ lục. Bên cạnh
đó, các vị thiền sư còn chịu ảnh
hưởng tư tưởng triết lý trùng trùng
duyên khởi của Kinh Hoa nghiêm
khoa học và biện chứng: “cái này có
thì cái kia có; cái này mất thì cái kia
mất; cái này sinh thì cái kia sinh; cái
này diệt thì cái kia diệt”, cùng hệ thống
Chúng tôi nghĩ rằng nếu tỏ tường
được những vấn đề vừa nêu thì có
thể hiểu rõ nội dung tư tưởng uyên áo
vi diệu được thể hiện trong những tác
lý thuyết Thập nhị nhân duyên: vô phẩm của bộ phận văn học này. Đây
chính là chìa khóa để giải mã những
tác phẩm văn học Phật giáo Thiền
tông, nhất là các tác phẩm thuộc các
thể loại như thi kệ, ngữ lục, niệm tụng
kệ và tụng cổ.
minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, với
tinh thần vô ngại (không bị ngăn trở),
tương nhập tương tức, ảnh hưởng tác
động lẫn nhau. Mười hai nhân duyên
là một dây chuyền liên tục, chuyền từ
khâu này đến khâu khác trong một đời
hay nhiều đời. Do có vô minh qua
hành ở các đời trong quá khứ nên
duyên khởi ra thức tâm của đời này.
Thức tâm ấy, theo nghiệp báo duyên
sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh
ra lục nhập, lục nhập duyên sinh ra
xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức,
danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là
Với các nhà Nho trong khu vực văn
hóa đồng văn, họ không chỉ đơn thuần
được đào tạo, học tập nơi “cửa Khổng
sân Trình”, tức thuần túy chịu ảnh
hưởng tư tưởng và học thuyết của
Nho gia, mà bên cạnh đó, họ còn đọc
kinh sách của tam giáo cửu lưu và
ngoại thư(1). Chính vì thế mà tư tưởng
của họ thường được tiếp thu từ nhiều
nguồn tư tưởng và học thuyết khác
cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã nhau. Các nhà Nho Việt Nam cũng
gây ra từ trước. Cần nhận rõ hành không ngoại lệ. Đây là nguyên nhân
tướng của các nhân duyên, hiểu rõ sự để hình thành cảm hứng, cảm quan
thiền đạo trong thơ văn các nhà Nho,
tác động của nhân duyên này đối với
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
65
góp phần làm cho nội dung tư tưởng (Rốt lại, muôn việc đều là hư ảo
của bộ phận văn học Phật giáo thêm
phong phú, nhiều sắc màu, trong đó
có thơ Nguyễn Trãi.
Thôi đừng bàn chuyện nước Phàm
mất hay nước Sở còn) (Viện Sử học,
1976: 274).
2. CẢM QUAN THIỀN ĐẠO CỦA
NGUYỄN TRÃI QUA ỨC TRAI THI
TẬP VÀ QUỐC ÂM THI TẬP
Hay như bài Lâm Cảng dạ bạc (林港夜
泊 - Đêm đậu thuyền ở Lâm Cảng)
được tác giả viết trong những năm
Nguyễn Trãi đã để lại cho hậu thế tháng xa quê, đau đáu vận nước,
nhiều áng thơ văn kiệt tác, nhưng cảm sang canh ba mà vẫn trằn trọc không
quan thiền đạo chủ yếu thể hiện trong yên giấc, nghe tiếng chuông chùa từ
các tập thơ của ông. Về thơ, ông để xa vọng đến, tác giả suy ngẫm:
lại hai tập thơ: Ức Trai thi tập (thơ chữ
膜外虛名身是幻,
Hán, 107 bài), với những bài như Thu
夢中浮俗事堪拋
dạ khách cảm, Lâm Cảng dạ bạc,
Mạc ngoại hư danh thân thị huyễn
Mạn hứng 2, Mạn hứng 5, Du sơn tự,
Mộng trung phù tục sự kham phao.
Đề Yên Tử sơn Vân Yên tự, Giang
(Viện Sử học, 1976: 282)
hành, Đề Đông Sơn tự, Tống tăng
(Tạm dịch: Hư danh để ngoài lòng,
Đạo Khiêm quy sơn, Du Nam Hoa tự,
tấm thân coi như không có,
Côn Sơn ca… và tập thơ Nôm Quốc
Niềm trần tục trong giấc chiêm bao,
âm thi tập (254 bài) với những bài như
mọi việc đáng bỏ đi).
Hoa mộc cận, Ngôn chí 4, Ngôn chí
Ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng
thiền Phật có pha chút tư tưởng Lão
Trang, tuy vậy vẫn không làm giảm đi
cái hào khí, cái chí cứu nước cứu dân
của nhà Nho với hoài bão kinh bang
tế thế:
10, Ngôn chí 11, Ngôn chí 14, Ngôn
chí 16, Tự thán 12, Tự thán 27, Tự
thán 33, Mạn thuật 6, Mạn thuật 8…
đều là những bài thơ thể hiện cảm
quan Thiền đạo.
Những vần thơ mà dưới nhãn quan
của nhà thơ, qua một thời gian dài
chiêm nghiệm, ông xem tất cả đều là
huyễn ảo, là không có thật, chịu ảnh
hưởng tư tưởng Tính Không của nhà
Phật ít nhiều có pha tư tưởng Lão
Trang như trong bài Thu dạ khách
cảm (秋夜客感):
一生氣習渾如咋,
不為羈愁損舊豪
Nhất sinh khí tập hồn như tạc
Bất vị ky sầu tổn cựu hào.
(Thói quen một đời vẫn như y như
trước,
Không vì mối sầu mà giảm cái hào khí
cũ) (Viện Sử học, 1976: 282).
到頭萬事皆虛幻,
休論凡亡與楚存.
Tương tự như trên, bài Mạn hứng kỳ
nhị (漫興其二), ít nhiều cũng thể hiện
tư tưởng thiền Phật và Lão Trang
Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn
Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn.
66
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…
trong tâm thức của một nhà Nho hành có lần Nguyễn Trãi đến viếng một ngôi
đạo:
chùa trên núi, cảnh u tịch và lặng lẽ
của chốn già lam trong ánh chiều tà
đã tạo thi hứng với nhiều ý tưởng cho
nhà thơ, nhưng cuối cùng tác giả chợt
ngộ ra, nên buông bỏ hết, quên hết,
chỉ còn lại trong tâm là cái không lời
(vô ngôn) trong bài Du sơn tự (遊山寺 -
Viếng chùa trên núi):
九萬摶風記昔曾,
當年錯比北溟鵬.
虛名自嘆成箕斗,
後學誰將作準繩.
一片丹心真汞火,
十年清職玉壺冰.
優游且復言余好,
俯仰隨人謝不能.
短棹繫斜陽,
匆匆謁上方.
Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng.
Hư danh tự thán thành cơ đẩu
雲歸禪榻冷,
花落澗流香.
日暮猿聲急,
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng.
Nhất phiến đan tâm, chân hống hoả
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu
山空竹影長.
箇中真有意,
欲語忽還忘.
Đoản trạo hệ tà dương
Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng
(Viện Sử học, 1976: 344).
Thông thông yết thượng phương.
Vân quy thiền tháp lãnh
(Tạm dịch: Nương theo gió bay lên
chín vạn dặm,
Hoa lạc giản lưu hương.
Nhật mộ viên thanh cấp
Nhớ xưa ta từng có chí ấy
Sơn không trúc ảnh trường.
Cá trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương (vong)(2).
Lúc bấy giờ lầm tưởng mình như chim
bằng ở biển bắc
Vướng cái hư danh, tự than mình như
sao cơ, sao đẩu (chỉ hư danh)
(Tạm dịch: Mái chèo ngắn buộc dưới
ánh chiều tà
Kẻ học đời sau, ai lấy ta làm mực
thước để noi theo?
Xăm xăm tìm đến viếng cảnh Phật
Mây về, giường thiền thêm lạnh
Hoa rụng xuống khiến dòng nước suối
có hương thơm
Một tấm lòng son nóng bừng như lửa
trong lò luyện thuốc tiên
Mười năm làm quan thanh liêm, lòng
trắng như băng trong bầu ngọc
Trời tối dần, tiếng vượn kêu gấp gáp
Núi vắng vẻ, bóng trúc ngã dài
Trong ta, thực có ý tưởng
Thong dong, thư thái là điều ưa thích
của ta
Muốn nói, bỗng nhiên lại quên) (Bùi
Văn Nguyên, 1995: 177).
Cúi xuống, ngửa lên theo thói người
đời thì ta không làm được).
Bài Đề Yên Tử sơn Vân Yên tự (題安
子山雲煙寺 - Đề ở chùa Vân Yên núi
Những năm tháng về ở ẩn tại Côn Sơn,
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
67
Yên Tử) viết về thánh địa của thiền Bài Đề Đông Sơn tự (題東山寺 - Đề ở
phái Trúc Lâm Yên Tử, ngợi ca Phật
Hoàng Trần Nhân Tông, người khai
sáng thiền phái này:
chùa Đông Sơn) được viết nhân một
lần tác giả đến viếng cảnh chùa, nhớ
lại ước nguyện khi xưa chưa trọn, nhờ
tiếng chim kêu mà nhà thơ chợt tỉnh
ngộ:
安山山上最高峰,
纔五更初日正紅.
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中.
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空.
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏覩重瞳.
君親一念久嬰懷,
澗愧林慚夙願乖.
三十餘年塵境夢,
數聲啼鳥喚初回.
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
Tam thập dư niên trần cảnh mộng
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi (Viện
Sử học, 1976: 331).
Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ, nhật chính hồng.
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung.
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không.
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng(3)
(Viện Sử học, 1976: 320).
(Tạm dịch: Tấm lòng với vua và cha
mẹ cứ vương vấn mãi
Khiến suối rừng thẹn giùm cho ta vì
lời thề xưa chưa trọn
Giấc mộng trần gian đã lắng chìm ba
mươi năm nay
Mấy tiếng chim kêu đã làm ta tỉnh lại).
(Tạm dịch: Trên dãy núi Yên Tử ở
ngọn cao nhất
Sư Đạo Khiêm là người bạn cùng học
thời thơ ấu với Nguyễn Trãi dưới mái
trường Nhị Khê của Nguyễn Ứng
Long, về sau xuất gia, tu hành ở núi
Chí Linh, nghe tin Nguyễn Trãi về ẩn
cư tại Côn Sơn, sư chống gậy đến
thăm, hai người thức trắng đêm trò
chuyện, hồi tưởng chuyện quá khứ.
Để rồi khi chia tay, Nguyễn Trãi tự nhủ
lòng mình rằng sẽ theo con đường
của bạn, nghĩa là sẽ tu theo pháp môn
Thiền đốn ngộ, tức Thượng thừa
Thiền của Lục tổ Huệ Năng. Trong bài
Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn (送僧道
謙歸山 - Tiễn sư Đạo Khiêm về núi),
ông viết:
Mới đầu canh năm mặt trời đã đỏ rực
Trong vũ trụ, phóng tầm mắt nhìn ra
tận ngoài biển xanh
Người ta nói cười trong làn mây biếc
Bao bọc trước cửa, trúc rừng như
giáo ngọc sum suê nghìn mẫu
Treo trên tảng đá, thạch nhũ như
những hạt châu lơ lửng giữa tầng
không
Di tích vua Trần Nhân Tông năm xưa
còn đó
Trong ánh hào quang giữa hai hàng
lông mày, thấy rõ mắt có đôi con
ngươi).
68
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…
記曾講學十餘年,
今又相逢一夜眠.
且喜夢中拋俗事,
更尋石上話前緣.
明朝靈浦還飛錫,
何日崑山共聽泉.
老去狂言休怪我,
臨岐我亦上乘禪.
(464-549). Sau khi được Ngũ tổ
Hoằng Nhẫn truyền y bát và tâm ấn,
nghe lời thầy, Lục tổ Huệ Năng trốn
về phương Nam rồi đến chùa này
giảng pháp, truyền đạo Thiền đốn ngộ.
Trước chùa có dòng Tào Khê trong
mát, nên dòng thiền của Huệ Năng
còn gọi là dòng Thiền Tào Khê. Tại
chùa hiện còn điện lầu thờ y bát mà
Tổ được trao truyền, và tháp thờ nhục
nhân của Tổ. Trong bài thơ, Nguyễn
Trãi có nhắc lại tư tưởng tính Không
của kinh văn hệ Bát nhã mà Huệ
Năng đã chứng ngộ qua bài kệ được
Ngũ tổ ấn chứng truyền tâm:
Ký tằng giảng học thập dư niên
Kim hựu tương phùng nhất dạ miên.
Thả hỷ mộng trung phao tục sự
Cánh tầm thạch thượng thoại tiền
duyên.
Minh triêu Linh phố hoàn phi tích
Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền.
Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã
Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa Thiền.
(Viện Sử học, 1976: 353).
菩提本無樹,
明鏡亦非臺.
本來無一物
何處惹塵埃.
(Tạm dịch: Nhớ từng giảng học hơn
mười năm
Bồ đề bản vô thụ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai(4).
Nay gặp lại nhau, ở với nhau một đêm
Trong giấc mộng, mừng đã rủ bỏ mọi
việc trần tục
(Tạm dịch: Bồ đề vốn không phải là
cây
Trên tảng đá, cùng nhau nói chuyện
nhân duyên kiếp trước
Gương sáng chẳng phải là đài
Xưa nay chưa từng có vật gì
Thì chỗ nào mà bụi bám vào?)
Sáng mai, gậy thần của bạn bay về
bến Chí Linh
Biết ngày nào cùng nhau ngồi nghe
tiếng suối reo ở Côn Sơn
Đồng thời đánh giá cao tư tưởng của
bài kệ qua câu “Vô thụ phi đài ngữ
nhược tân” trong bài Du Nam Hoa tự
(遊南花寺 - Chơi chùa Nam Hoa):
神錫飛來幾百春,
Già rồi, hay nói ngông, bạn đừng lạ về
tôi
Đến chỗ ngã rẽ, tôi cũng tu theo đạo
Thiền thượng thừa).
寶林香火契前因.
降龍伏虎機何妙,
Chùa Bảo Lâm còn gọi là chùa Nam
Hoa nằm ở thành phố Thiều Dương,
tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc. Chùa
xây dựng từ thời vua Lương Vũ Đế
無樹非臺語若新.
殿側起樓藏佛鉢,
龕中遺跡蛻真身.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
69
門前一派漕溪水,
洗盡人間劫劫塵.
Vết nhơ chẳng bén, Bụt làm lòng.
Chiều mai nở, chiều hôm rụng
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không(5). (Viện
Thần tích phi lai kỷ bách xuân
Bảo Lâm hương hỏa khế tiền nhân.
Hàng long phục hổ cơ hà diệu
Vô thụ phi đài ngữ nhược tân.
Điện trắc khởi lâu tàng Phật bát
Khám trung di tích thuế chân thân,
Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần (Viện
Sử học, 1976: 383).
Sử học, 1976: 471).
Quan niệm này được thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử nêu ra là tiếp thu từ tư
tưởng tinh hoa của kinh văn Đại thừa
Phật giáo, cụ thể là tư tưởng Nhất
thừa pháp, tức Phật thừa mà Đức Thế
Tôn giảng trong Kinh Hoa Nghiêm,
Kinh Diệu pháp Liên Hoa. Quan niệm
này được Trần Thái Tông nêu lại
trong bài Thiền tông chỉ nam tự (禪宗指
南序 - Bài tựa sách Thiền tông chỉ
nam), khi ôngdẫn lại lời của Quốc sư
Viên Chứng:
(Tạm dịch: Gậy thần bay đến đây đã
cách mấy trăm mùa xuân rồi
Hương hỏa chùa Bảo Lâm vẫn giữ
theo nhân duyên trước
Hàng được rồng phục được cọp, sao
phép màu nhiệm thế?
山本無佛,
惟存乎心,
心寂而知,
是名眞佛
Không có cây, không có đài, lời nói
như mới luôn
Bên điện dựng lầu để giữ cái bát của
Phật
Sơn bổn vô Phật,
Duy tồn hồ tâm,
Tâm tịch nhi tri,
Trong tháp còn để dấu lột xác của
chân thân
Thị danh chân Phật.
Trước cửa một dòng nước Tào Khê
chảy
(Trong núi vốn không có Phật,
Phật chỉ có trong lòng,
Rửa hết bụi bặm bao nhiêu kiếp của
nhân gian).
Lòng lặng lẽ tịch tĩnh mà biết,
Đó chính là Phật vậy) (Viện Văn học,
1988: 27).
Cũng với tư tưởng tính Không cùng
quan niệm ‘sắc bất dị không, không
bất dị sắc; sắc tức thị không, không
tức thị sắc’ của Bát Nhã tâm kinh và
chủ trương ‘Phật tại tâm’, ‘Bụt là lòng’
của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã
được nhà thơ tiếp nhận rồi thể hiện
trong bài thơ Hoa mộc cận trong Quốc
âm thi tập:
Tiếp theo, Phật Hoàng Trần Nhân
Tông nêu lại trong bài Cư trần lạc đạo
phú (居塵樂道賦 - Phú ở cõi trần vui với
đạo):
Chỉn Bụt là lòng,
Xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ
và
Bụt ở cong nhà;
Ánh nước hoa in một đóa hồng
70
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…
Chẳng phải tìm xa.
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy
Năng mấy sơn tăng làm bạn ngâm.
(Viện Sử học, 1976: 397).
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt;
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta (Viện Văn
học, 1988: 506).
Vô tâm là lòng trống rỗng, không
vướng bận, diễn tả tâm thái giải thoát
của người tu hành. Trạng thái tâm này
là kết quả của một quá trình tu tập lâu
dài. Đối với cảnh bên ngoài, dù đẹp
hay xấu, trái hay phải, thuận hay
nghịch, tiếng khen hay tiếng chê, mà
tâm không hề xao xuyến, không hề
dấy động, tâm như bất động. Vậy làm
thế nào đạt được “đối cảnh vô tâm”,
làm sao sáu căn không dính với lục
trần? Làm sao mắt thấy sắc không
dính với sắc, tai nghe tiếng không
dính với tiếng, mũi ngửi mùi không
dính với mùi...? Đây chính là tâm yếu
của người tu hành và là đối tượng của
tám mươi bốn ngàn pháp tu trong đạo
Phật. Ở đây, chủ (sơn tăng) và khách
(thi sĩ) như là một, cùng hòa điệu
ngâm thơ.
Rồi đến cuối bài phú, ở bài kệ theo
thể thất ngôn tứ tuyệt, Trần Nhân
Tông nêu lên quan niệm về ‘vô tâm’:
居塵樂道且隨緣,
饑則湌兮困則眠.
家中有寳休寻覔,
對景無心莫問禪
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vân thiền. (Viện
Văn học, 1988: 510).
(Tạm dịch: Sống giữa cõi trần hãy tùy
duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà có sẵn của báu đừng tìm
đâu khác
Đối diện với cảnh mà vô tâm thì không
cần hỏi thiền nữa).
Một số bài thơ Nôm trong Quốc âm thi
tập như Ngôn chí số 10, Mạn thuật số
6, Tự thán số 27, Tự thán số 33 ít
nhiều cũng mang cảm quan Thiền đạo,
có pha chút tư tưởng Lão Trang như
những bài vừa nêu, đặc biệt ở bài
Mạn thuật số 8 có sự dung hợp ba hệ
tư tưởng Phật - Nho - Lão, trong đó lại
một lần nữa, người đọc bắt gặp quan
niệm Phật tại tâm (Bụt là lòng) mà thi
nhân đã từng bày tỏ trong bài Hoa
mộc cận (đã dẫn), hay trong bài Mạn
thuật số 8:
Nếu bài thơ Hoa mộc cận đã thể hiện
trực tiếp và sâu sắc tư tưởng thiền
đạo với cái lý vô thường, thì những
bài thơ sau đây ít nhiều mang cảm
quan Thiền đạo, đề cao cái tâm vắng
lặng, cái tâm trống không, cái vô tâm,
có pha chút tư tưởng Lão Trang. Bài
Ngôn chí số 4 là một ví dụ:
Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm
Giơ tay áo đến tùng lâm.
Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động
Đường ít người đi cỏ kíp xâm.
Thơ dưới tục hiềm câu dưới tục
Chủ vô tâm ấy khách vô tâm.
Thân đà hết lụy thân nên nhẹ
Bụt ấy là lòng Bụt há cầu? (Viện Sử
học, 1976: 405).
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021
71
Lời thơ là một sự tiếp nối quan niệm tưởng thiền Phật và Lão Trang. Ông
là người tinh thông tam giáo, cửu lưu.
Ông am hiểu sâu sắc triết lý tư tưởng
tính Không của kinh văn hệ Bát nhã,
tư tưởng Duyên khởi của Kinh Hoa
Nghiêm, tư tưởng Nhất thừa pháp của
Kinh Pháp Hoa. Có thể khẳng định,
Nguyễn Trãi không chỉ là một bậc
chân Nho mà còn là một thiền gia đã
có thực hành, am hiểu và ngộ về thiền
lý, về Phật tính.
của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời
Trần mà Phật hoàng Trần Nhân Tông
từng phát biểu trong Cư trần lạc đạo
phú.
3. KẾT LUẬN
Nguyễn Trãi tuy xuất thân từ “cửa
Khổng sân Trình” nhưng trong tư
tưởng của ông không chỉ đơn thuần là
tư tưởng của Nho gia mà còn có tư
CHÚ THÍCH
Bài viết thuộc đề tài khoa học công nghệ cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; mã
số: C2019-18b-01.
(1) Tam giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Cửu lưu: Chín dòng tức chín học phái của
Trung Quốc thời cổ đại, từ trước đời Tần đến đầu đời Hán. Đó là: Nho gia, Đạo gia, Âm
Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia. Ngoại thư:
từ dùng để chỉ chung các loại sách không phải của Nho giáo, nằm ngoài Nho giáo.
(2)
Bài này trong công trình Nguyễn Trãi toàn tập của Viện Sử học ghi phiên âm đầu đề là
Tiên Du tự nhưng nguyên tác chữ Hán in kèm theo lại ghi là Du sơn tự 遊山寺 (tr. 372-373),
phải chăng là do phiên âm nhầm. Trong nhiều bộ Hợp tuyển, Tinh tuyển, Tổng tập, Ức Trai
di tập bổ sung, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên đều ghi là Du sơn tự. Chúng tôi ghi theo Tổng
tập và các bộ thi tuyển khác.
(3)
Nhan đề của bài thơ này trong tất cả bộ bộ Hợp tuyển, Tinh tuyển, Tổng tập, Ức Trai di
tập bổ sung, Nguyễn Trãi toàn tập, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên và ngay cả bộ sách gốc
Ức Trai di tập của Dương Bá Cung (bản khắc in năm 1868) đều ghi tên chùa là Hoa Yên.
Theo chúng tôi Hoa Yên tự là do vua Lê Thánh Tông (1442-1497) đặt lại khi đến viếng cảnh
chùa (nửa cuối thế kỷ XV). Thời thiền sư Huyền Quang viết bài phú và Nguyễn Trãi viết bài
thơ này, tên chùa là Vân Yên. Chính vì thế, chúng tôi đề nghị nên ghi tên nhan đề bài phú
của sư Huyền Quang và bài thơ của Nguyễn Trãi là Vân Yên tự (Vịnh Vân Yên tự phú; Đề
Yên Tử sơn Vân Yên tự).
(4) Trong Pháp bảo đàn kinh.
(5)
Về bài thơ này, bản Nguyễn Trãi toàn tập của Viện Sử học ghi nhan đề là Cây mộc cận,
trong khi các bản của Bùi Văn Nguyên (Ức Trai di tập bổ sung và Thơ quốc âm Nguyễn Trãi);
của Mai Quốc Liên - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (Nguyễn Trãi toàn tập tân biên và các
bộ Hợp tuyển, Tổng tập) đều ghi là Mộc cận hoặc Hoa mộc cận (Hoa dâm bụt). Và chữ đầu
của câu hai là ‘Vện’ (Bùi Văn Nguyên); ‘Vẫn’ (Mai Quốc Liên). Ở đây chúng tôi ghi theo bản
của Viện Sử học do Đào Duy Anh phiên âm, dịch và chú giải.
72
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bùi Văn Nguyên (chủ biên). 1995. Tổng tập văn học Việt Nam - tập 4. Hà Nội: Nxb.
Khoa học Xã hội.
2. Nguyễn Mộng Tuân. 2000. Tặng Gián nghị đại phu Nguyễn công (Tặng quan Gián
nghị đại phu họ Nguyễn), in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4. Hà Nội: Nxb. Khoa
học Xã hội (tái bản).
3. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. 2001. Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Mai Quốc
Liên (chủ biên). Hà Nội: Nxb. Văn học.
4. Viện Sử học. 1976. Nguyễn Trãi toàn tập. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội (tái bản).
5. Viện Văn học.1988. Thơ văn Lý-Trần - tập 2, Quyển thượng. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội.
Bạn đang xem tài liệu "Cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cam_quan_thien_dao_trong_tho_nguyen_trai.pdf

