Cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi

63  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
CẢM QUAN THIỀN ĐẠO TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI  
NGUYỄN CÔNG LÝ*  
NGUYỄN CÔNG THANH DUNG**  
Nguyễn Trãi là một trong vài tác gia lớn của nền văn học cổ điển Việt Nam. Ông  
còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất, một nhà chiến lược quân sự tài ba, một  
danh nhân văn hóa được thế giới tôn vinh. Tuy xuất thân là nhà Nho nhưng  
trong thơ văn và tư tưởng của ông, không chỉ thuần túy thể hiện tư tưởng Nho  
gia mà còn thể hiện tư tưởng thiền Phật và Lão Trang.  
Riêng về cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi, một số nhà nghiên cứu  
cũng đã đề cập đến nhưng chưa đi sâu lý giải cội nguồn và nguyên do. Bài viết  
trình bày cảm quan Thiền đạo của ông qua hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc  
âm thi tập.  
Từ khóa: Nguyễn Trãi, cảm quan Thiền đạo, Ức Trai thi tập; Quốc âm thi tập  
Nhận bài ngày: 31/5/2021; đưa vào biên tập: 02/6/2021; phản biện: 14/6/2021;  
duyệt đăng: 10/8/2021  
1. DẪN NHẬP  
nhưng trong thơ văn của ông không  
chỉ nói tiếng nói của Nho gia mà còn  
thể hiện tư tưởng của thiền Phật và  
Lão Trang.  
Nguyễn Trãi (1380-1442), là một trong  
vài tác gia lớn của nền văn học cổ  
điển Việt Nam. Thơ văn của ông đã  
góp phần vào công cuộc trị nước và  
làm vẻ vang cho đất nước (kinh bang  
hoa quốc 經 邦 華 國 ) như lời của  
Nguyễn Mộng Tuân (2000: 217) đã  
ngợi ca. Xuất thân là một bậc đại nho  
Trong văn học Phật giáo Việt Nam,  
nhất là thơ cổ điển, không riêng gì thi  
kệ, ngữ lục của các vị thiền sư, mà  
sáng tác của các nho sĩ viết về thiền  
Phật đều chịu ảnh hưởng sâu đậm tư  
tưởng triết lý tính Không uyên nguyên  
biện chứng của kinh văn hệ Bát nhã:  
“sắc bất dị không, không bất dị sắc;  
sắc tức thị không, không tức thị sắc;  
*, **  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
64  
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…  
thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như sự phát sinh của nhân duyên khác,  
dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ  
những khâu chính trong dây chuyền  
mười hai nhân duyên, để đi đến  
chứng được đạo quả của Duyên giác  
thừa (Kinh Hoa Nghiêm).  
thị. 色不異空, 空不異色,色即是空,空即是色,  
受,想,行,識,亦復如是.” (sắc chẳng khác  
không, không chẳng khác sắc, sắc tức  
là không, không tức là sắc, các uẩn  
thọ, tưởng, hành, thức, cũng lại như  
thế) (Bát Nhã tâm kinh). Có nhận thức  
được điều này thì mới hiểu rõ cái  
Không chân thật, tức ‘Chân không  
Nếu nhận thức được cái lý duyên khởi  
thì mới rõ được cái lẽ vô thường của  
các pháp, tức tất cả các hiện tượng  
diệu hữu’ uyên áo được ghi lại trong trong thế giới khách quan đều không  
tồn tại vĩnh hằng. Mà khi đã hiểu rõ  
cái lẽ vô thường rồi thì tâm chúng ta  
sẽ không còn chấp ngã (phân biệt cái  
này là của tôi), để đạt đến cái vô ngã  
tự do tự tại.  
kinh văn mà các vị thiền sư đã thể  
hiện trong thi kệ, ngữ lục. Bên cạnh  
đó, các vị thiền sư còn chịu ảnh  
hưởng tư tưởng triết lý trùng trùng  
duyên khởi của Kinh Hoa nghiêm  
khoa học và biện chứng: “cái này có  
thì cái kia có; cái này mất thì cái kia  
mất; cái này sinh thì cái kia sinh; cái  
này diệt thì cái kia diệt”, cùng hệ thống  
Chúng tôi nghĩ rằng nếu tỏ tường  
được những vấn đề vừa nêu thì có  
thể hiểu rõ nội dung tư tưởng uyên áo  
vi diệu được thể hiện trong những tác  
lý thuyết Thập nhị nhân duyên: vô phẩm của bộ phận văn học này. Đây  
chính là chìa khóa để giải mã những  
tác phẩm văn học Phật giáo Thiền  
tông, nhất là các tác phẩm thuộc các  
thể loại như thi kệ, ngữ lục, niệm tụng  
kệ và tụng cổ.  
minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập,  
xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử, với  
tinh thần vô ngại (không bị ngăn trở),  
tương nhập tương tức, ảnh hưởng tác  
động lẫn nhau. Mười hai nhân duyên  
là một dây chuyền liên tục, chuyền từ  
khâu này đến khâu khác trong một đời  
hay nhiều đời. Do có vô minh qua  
hành ở các đời trong quá khứ nên  
duyên khởi ra thức tâm của đời này.  
Thức tâm ấy, theo nghiệp báo duyên  
sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh  
ra lục nhập, lục nhập duyên sinh ra  
xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức,  
danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là  
Với các nhà Nho trong khu vực văn  
hóa đồng văn, họ không chỉ đơn thuần  
được đào tạo, học tập nơi “cửa Khổng  
sân Trình”, tức thuần túy chịu ảnh  
hưởng tư tưởng và học thuyết của  
Nho gia, mà bên cạnh đó, họ còn đọc  
kinh sách của tam giáo cửu lưu và  
ngoại thư(1). Chính vì thế mà tư tưởng  
của họ thường được tiếp thu từ nhiều  
nguồn tư tưởng và học thuyết khác  
cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã nhau. Các nhà Nho Việt Nam cũng  
gây ra từ trước. Cần nhận rõ hành không ngoại lệ. Đây là nguyên nhân  
tướng của các nhân duyên, hiểu rõ sự để hình thành cảm hứng, cảm quan  
thiền đạo trong thơ văn các nhà Nho,  
tác động của nhân duyên này đối với  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
65  
góp phần làm cho nội dung tư tưởng (Rốt lại, muôn việc đều là hư ảo  
của bộ phận văn học Phật giáo thêm  
phong phú, nhiều sắc màu, trong đó  
có thơ Nguyễn Trãi.  
Thôi đừng bàn chuyện nước Phàm  
mất hay nước Sở còn) (Viện Sử học,  
1976: 274).  
2. CẢM QUAN THIỀN ĐẠO CỦA  
NGUYỄN TRÃI QUA ỨC TRAI THI  
TẬP VÀ QUỐC ÂM THI TẬP  
Hay như bài Lâm Cảng dạ bạc (林港夜  
泊 - Đêm đậu thuyền ở Lâm Cảng)  
được tác giả viết trong những năm  
Nguyễn Trãi đã để lại cho hậu thế tháng xa quê, đau đáu vận nước,  
nhiều áng thơ văn kiệt tác, nhưng cảm sang canh ba mà vẫn trằn trọc không  
quan thiền đạo chủ yếu thể hiện trong yên giấc, nghe tiếng chuông chùa từ  
các tập thơ của ông. Về thơ, ông để xa vọng đến, tác giả suy ngẫm:  
lại hai tập thơ: Ức Trai thi tập (thơ chữ  
膜外虛名身是幻,  
Hán, 107 bài), với những bài như Thu  
夢中浮俗事堪拋  
dạ khách cảm, Lâm Cảng dạ bạc,  
Mạc ngoại hư danh thân thị huyễn  
Mạn hứng 2, Mạn hứng 5, Du sơn tự,  
Mộng trung phù tục sự kham phao.  
Đề Yên Tử sơn Vân Yên tự, Giang  
(Viện Sử học, 1976: 282)  
hành, Đề Đông Sơn tự, Tống tăng  
(Tạm dịch: Hư danh để ngoài lòng,  
Đạo Khiêm quy sơn, Du Nam Hoa tự,  
tấm thân coi như không có,  
Côn Sơn ca… và tập thơ Nôm Quốc  
Niềm trần tục trong giấc chiêm bao,  
âm thi tập (254 bài) với những bài như  
mọi việc đáng bỏ đi).  
Hoa mộc cận, Ngôn chí 4, Ngôn chí  
Ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng  
thiền Phật có pha chút tư tưởng Lão  
Trang, tuy vậy vẫn không làm giảm đi  
cái hào khí, cái chí cứu nước cứu dân  
của nhà Nho với hoài bão kinh bang  
tế thế:  
10, Ngôn chí 11, Ngôn chí 14, Ngôn  
chí 16, Tự thán 12, Tự thán 27, Tự  
thán 33, Mạn thuật 6, Mạn thuật 8…  
đều là những bài thơ thể hiện cảm  
quan Thiền đạo.  
Những vần thơ mà dưới nhãn quan  
của nhà thơ, qua một thời gian dài  
chiêm nghiệm, ông xem tất cả đều là  
huyễn ảo, là không có thật, chịu ảnh  
hưởng tư tưởng Tính Không của nhà  
Phật ít nhiều có pha tư tưởng Lão  
Trang như trong bài Thu dạ khách  
cảm (秋夜客感):  
一生氣習渾如咋,  
不為羈愁損舊豪  
Nhất sinh khí tập hồn như tạc  
Bất vị ky sầu tổn cựu hào.  
(Thói quen một đời vẫn như y như  
trước,  
Không vì mối sầu mà giảm cái hào khí  
cũ) (Viện Sử học, 1976: 282).  
到頭萬事皆虛幻,  
休論凡亡與楚存.  
Tương tự như trên, bài Mạn hứng kỳ  
nhị (漫興其二), ít nhiều cũng thể hiện  
tư tưởng thiền Phật và Lão Trang  
Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn  
Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn.  
66  
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…  
trong tâm thức của một nhà Nho hành có lần Nguyễn Trãi đến viếng một ngôi  
đạo:  
chùa trên núi, cảnh u tịch và lặng lẽ  
của chốn già lam trong ánh chiều tà  
đã tạo thi hứng với nhiều ý tưởng cho  
nhà thơ, nhưng cuối cùng tác giả chợt  
ngộ ra, nên buông bỏ hết, quên hết,  
chỉ còn lại trong tâm là cái không lời  
(vô ngôn) trong bài Du sơn tự (遊山寺 -  
Viếng chùa trên núi):  
九萬摶風記昔曾,  
當年錯比北溟鵬.  
虛名自嘆成箕斗,  
後學誰將作準繩.  
一片丹心真汞火,  
十年清職玉壺冰.  
優游且復言余好,  
俯仰隨人謝不能.  
短棹繫斜陽,  
匆匆謁上方.  
Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng  
Đương niên thác tỷ bắc minh bằng.  
Hư danh tự thán thành cơ đẩu  
雲歸禪榻冷,  
花落澗流香.  
日暮猿聲急,  
Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng.  
Nhất phiến đan tâm, chân hống hoả  
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.  
Ưu du thả phục ngôn dư hiếu  
山空竹影長.  
箇中真有意,  
欲語忽還忘.  
Đoản trạo hệ tà dương  
Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng  
(Viện Sử học, 1976: 344).  
Thông thông yết thượng phương.  
Vân quy thiền tháp lãnh  
(Tạm dịch: Nương theo gió bay lên  
chín vạn dặm,  
Hoa lạc giản lưu hương.  
Nhật mộ viên thanh cấp  
Nhớ xưa ta từng có chí ấy  
Sơn không trúc ảnh trường.  
Cá trung chân hữu ý  
Dục ngữ hốt hoàn vương (vong)(2).  
Lúc bấy giờ lầm tưởng mình như chim  
bằng ở biển bắc  
Vướng cái hư danh, tự than mình như  
sao cơ, sao đẩu (chỉ hư danh)  
(Tạm dịch: Mái chèo ngắn buộc dưới  
ánh chiều tà  
Kẻ học đời sau, ai lấy ta làm mực  
thước để noi theo?  
Xăm xăm tìm đến viếng cảnh Phật  
Mây về, giường thiền thêm lạnh  
Hoa rụng xuống khiến dòng nước suối  
có hương thơm  
Một tấm lòng son nóng bừng như lửa  
trong lò luyện thuốc tiên  
Mười năm làm quan thanh liêm, lòng  
trắng như băng trong bầu ngọc  
Trời tối dần, tiếng vượn kêu gấp gáp  
Núi vắng vẻ, bóng trúc ngã dài  
Trong ta, thực có ý tưởng  
Thong dong, thư thái là điều ưa thích  
của ta  
Muốn nói, bỗng nhiên lại quên) (Bùi  
Văn Nguyên, 1995: 177).  
Cúi xuống, ngửa lên theo thói người  
đời thì ta không làm được).  
Bài Đề Yên Tử sơn Vân Yên tự (題安  
子山雲煙寺 - Đề ở chùa Vân Yên núi  
Những năm tháng về ở ẩn tại Côn Sơn,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
67  
Yên Tử) viết về thánh địa của thiền Bài Đề Đông Sơn tự (題東山寺 - Đề ở  
phái Trúc Lâm Yên Tử, ngợi ca Phật  
Hoàng Trần Nhân Tông, người khai  
sáng thiền phái này:  
chùa Đông Sơn) được viết nhân một  
lần tác giả đến viếng cảnh chùa, nhớ  
lại ước nguyện khi xưa chưa trọn, nhờ  
tiếng chim kêu mà nhà thơ chợt tỉnh  
ngộ:  
安山山上最高峰,  
纔五更初日正紅.  
宇宙眼窮滄海外,  
笑談人在碧雲中.  
擁門玉槊森千畝,  
掛石珠流落半空.  
仁廟當年遺跡在,  
白毫光裏覩重瞳.  
君親一念久嬰懷,  
澗愧林慚夙願乖.  
三十餘年塵境夢,  
數聲啼鳥喚初回.  
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài  
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.  
Tam thập dư niên trần cảnh mộng  
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi (Viện  
Sử học, 1976: 331).  
Yên sơn sơn thượng tối cao phong  
Tài ngũ canh sơ, nhật chính hồng.  
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại  
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung.  
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu  
Quải thạch châu lưu lạc bán không.  
Nhân miếu đương niên di tích tại  
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng(3)  
(Viện Sử học, 1976: 320).  
(Tạm dịch: Tấm lòng với vua và cha  
mẹ cứ vương vấn mãi  
Khiến suối rừng thẹn giùm cho ta vì  
lời thề xưa chưa trọn  
Giấc mộng trần gian đã lắng chìm ba  
mươi năm nay  
Mấy tiếng chim kêu đã làm ta tỉnh lại).  
(Tạm dịch: Trên dãy núi Yên Tử ở  
ngọn cao nhất  
Sư Đạo Khiêm là người bạn cùng học  
thời thơ ấu với Nguyễn Trãi dưới mái  
trường Nhị Khê của Nguyễn Ứng  
Long, về sau xuất gia, tu hành ở núi  
Chí Linh, nghe tin Nguyễn Trãi về ẩn  
cư tại Côn Sơn, sư chống gậy đến  
thăm, hai người thức trắng đêm trò  
chuyện, hồi tưởng chuyện quá khứ.  
Để rồi khi chia tay, Nguyễn Trãi tự nhủ  
lòng mình rằng sẽ theo con đường  
của bạn, nghĩa là sẽ tu theo pháp môn  
Thiền đốn ngộ, tức Thượng thừa  
Thiền của Lục tổ Huệ Năng. Trong bài  
Tống tăng Đạo Khiêm quy sơn (送僧道  
謙歸山 - Tiễn sư Đạo Khiêm về núi),  
ông viết:  
Mới đầu canh năm mặt trời đã đỏ rực  
Trong vũ trụ, phóng tầm mắt nhìn ra  
tận ngoài biển xanh  
Người ta nói cười trong làn mây biếc  
Bao bọc trước cửa, trúc rừng như  
giáo ngọc sum suê nghìn mẫu  
Treo trên tảng đá, thạch nhũ như  
những hạt châu lơ lửng giữa tầng  
không  
Di tích vua Trần Nhân Tông năm xưa  
còn đó  
Trong ánh hào quang giữa hai hàng  
lông mày, thấy rõ mắt có đôi con  
ngươi).  
68  
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…  
記曾講學十餘年,  
今又相逢一夜眠.  
且喜夢中拋俗事,  
更尋石上話前緣.  
明朝靈浦還飛錫,  
何日崑山共聽泉.  
老去狂言休怪我,  
臨岐我亦上乘禪.  
(464-549). Sau khi được Ngũ tổ  
Hoằng Nhẫn truyền y bát và tâm ấn,  
nghe lời thầy, Lục tổ Huệ Năng trốn  
về phương Nam rồi đến chùa này  
giảng pháp, truyền đạo Thiền đốn ngộ.  
Trước chùa có dòng Tào Khê trong  
mát, nên dòng thiền của Huệ Năng  
còn gọi là dòng Thiền Tào Khê. Tại  
chùa hiện còn điện lầu thờ y bát mà  
Tổ được trao truyền, và tháp thờ nhục  
nhân của Tổ. Trong bài thơ, Nguyễn  
Trãi có nhắc lại tư tưởng tính Không  
của kinh văn hệ Bát nhã mà Huệ  
Năng đã chứng ngộ qua bài kệ được  
Ngũ tổ ấn chứng truyền tâm:  
Ký tằng giảng học thập dư niên  
Kim hựu tương phùng nhất dạ miên.  
Thả hỷ mộng trung phao tục sự  
Cánh tầm thạch thượng thoại tiền  
duyên.  
Minh triêu Linh phố hoàn phi tích  
Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền.  
Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã  
Lâm kỳ ngã diệc thượng thừa Thiền.  
(Viện Sử học, 1976: 353).  
菩提本無樹,  
明鏡亦非臺.  
本來無一物  
何處惹塵埃.  
(Tạm dịch: Nhớ từng giảng học hơn  
mười năm  
Bồ đề bản vô thụ  
Minh kính diệc phi đài  
Bản lai vô nhất vật  
Hà xứ nhạ trần ai(4).  
Nay gặp lại nhau, ở với nhau một đêm  
Trong giấc mộng, mừng đã rủ bỏ mọi  
việc trần tục  
(Tạm dịch: Bồ đề vốn không phải là  
cây  
Trên tảng đá, cùng nhau nói chuyện  
nhân duyên kiếp trước  
Gương sáng chẳng phải là đài  
Xưa nay chưa từng có vật gì  
Thì chỗ nào mà bụi bám vào?)  
Sáng mai, gậy thần của bạn bay về  
bến Chí Linh  
Biết ngày nào cùng nhau ngồi nghe  
tiếng suối reo ở Côn Sơn  
Đồng thời đánh giá cao tư tưởng của  
bài kệ qua câu “Vô thụ phi đài ngữ  
nhược tân” trong bài Du Nam Hoa tự  
(遊南花寺 - Chơi chùa Nam Hoa):  
神錫飛來幾百春,  
Già rồi, hay nói ngông, bạn đừng lạ về  
tôi  
Đến chỗ ngã rẽ, tôi cũng tu theo đạo  
Thiền thượng thừa).  
寶林香火契前因.  
降龍伏虎機何妙,  
Chùa Bảo Lâm còn gọi là chùa Nam  
Hoa nằm ở thành phố Thiều Dương,  
tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc. Chùa  
xây dựng từ thời vua Lương Vũ Đế  
無樹非臺語若新.  
殿側起樓藏佛鉢,  
龕中遺跡蛻真身.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
69  
門前一派漕溪水,  
洗盡人間劫劫塵.  
Vết nhơ chẳng bén, Bụt làm lòng.  
Chiều mai nở, chiều hôm rụng  
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không(5). (Viện  
Thần tích phi lai kỷ bách xuân  
Bảo Lâm hương hỏa khế tiền nhân.  
Hàng long phục hổ cơ hà diệu  
Vô thụ phi đài ngữ nhược tân.  
Điện trắc khởi lâu tàng Phật bát  
Khám trung di tích thuế chân thân,  
Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy  
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần (Viện  
Sử học, 1976: 383).  
Sử học, 1976: 471).  
Quan niệm này được thiền phái Trúc  
Lâm Yên Tử nêu ra là tiếp thu từ tư  
tưởng tinh hoa của kinh văn Đại thừa  
Phật giáo, cụ thể là tư tưởng Nhất  
thừa pháp, tức Phật thừa mà Đức Thế  
Tôn giảng trong Kinh Hoa Nghiêm,  
Kinh Diệu pháp Liên Hoa. Quan niệm  
này được Trần Thái Tông nêu lại  
trong bài Thiền tông chỉ nam tự (禪宗指  
南序 - Bài tựa sách Thiền tông chỉ  
nam), khi ôngdẫn lại lời của Quốc sư  
Viên Chứng:  
(Tạm dịch: Gậy thần bay đến đây đã  
cách mấy trăm mùa xuân rồi  
Hương hỏa chùa Bảo Lâm vẫn giữ  
theo nhân duyên trước  
Hàng được rồng phục được cọp, sao  
phép màu nhiệm thế?  
山本無佛,  
惟存乎心,  
心寂而知,  
是名眞佛  
Không có cây, không có đài, lời nói  
như mới luôn  
Bên điện dựng lầu để giữ cái bát của  
Phật  
Sơn bổn vô Phật,  
Duy tồn hồ tâm,  
Tâm tịch nhi tri,  
Trong tháp còn để dấu lột xác của  
chân thân  
Thị danh chân Phật.  
Trước cửa một dòng nước Tào Khê  
chảy  
(Trong núi vốn không có Phật,  
Phật chỉ có trong lòng,  
Rửa hết bụi bặm bao nhiêu kiếp của  
nhân gian).  
Lòng lặng lẽ tịch tĩnh mà biết,  
Đó chính là Phật vậy) (Viện Văn học,  
1988: 27).  
Cũng với tư tưởng tính Không cùng  
quan niệm ‘sắc bất dị không, không  
bất dị sắc; sắc tức thị không, không  
tức thị sắc’ của Bát Nhã tâm kinh và  
chủ trương ‘Phật tại tâm’, ‘Bụt là lòng’  
của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã  
được nhà thơ tiếp nhận rồi thể hiện  
trong bài thơ Hoa mộc cận trong Quốc  
âm thi tập:  
Tiếp theo, Phật Hoàng Trần Nhân  
Tông nêu lại trong bài Cư trần lạc đạo  
phú (居塵樂道賦 - Phú ở cõi trần vui với  
đạo):  
Chỉn Bụt là lòng,  
Xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ  
và  
Bụt ở cong nhà;  
Ánh nước hoa in một đóa hồng  
70  
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…  
Chẳng phải tìm xa.  
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy  
Năng mấy sơn tăng làm bạn ngâm.  
(Viện Sử học, 1976: 397).  
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt;  
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta (Viện Văn  
học, 1988: 506).  
Vô tâm là lòng trống rỗng, không  
vướng bận, diễn tả tâm thái giải thoát  
của người tu hành. Trạng thái tâm này  
là kết quả của một quá trình tu tập lâu  
dài. Đối với cảnh bên ngoài, dù đẹp  
hay xấu, trái hay phải, thuận hay  
nghịch, tiếng khen hay tiếng chê, mà  
tâm không hề xao xuyến, không hề  
dấy động, tâm như bất động. Vậy làm  
thế nào đạt được “đối cảnh vô tâm”,  
làm sao sáu căn không dính với lục  
trần? Làm sao mắt thấy sắc không  
dính với sắc, tai nghe tiếng không  
dính với tiếng, mũi ngửi mùi không  
dính với mùi...? Đây chính là tâm yếu  
của người tu hành và là đối tượng của  
tám mươi bốn ngàn pháp tu trong đạo  
Phật. Ở đây, chủ (sơn tăng) và khách  
(thi sĩ) như là một, cùng hòa điệu  
ngâm thơ.  
Rồi đến cuối bài phú, ở bài kệ theo  
thể thất ngôn tứ tuyệt, Trần Nhân  
Tông nêu lên quan niệm về ‘vô tâm’:  
居塵樂道且隨緣,  
饑則湌兮困則眠.  
家中有寳休寻覔,  
對景無心莫問禪  
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên  
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.  
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch  
Đối cảnh vô tâm mạc vân thiền. (Viện  
Văn học, 1988: 510).  
(Tạm dịch: Sống giữa cõi trần hãy tùy  
duyên mà vui với đạo  
Đói thì ăn, mệt thì ngủ  
Trong nhà có sẵn của báu đừng tìm  
đâu khác  
Đối diện với cảnh mà vô tâm thì không  
cần hỏi thiền nữa).  
Một số bài thơ Nôm trong Quốc âm thi  
tập như Ngôn chí số 10, Mạn thuật số  
6, Tự thán số 27, Tự thán số 33 ít  
nhiều cũng mang cảm quan Thiền đạo,  
có pha chút tư tưởng Lão Trang như  
những bài vừa nêu, đặc biệt ở bài  
Mạn thuật số 8 có sự dung hợp ba hệ  
tư tưởng Phật - Nho - Lão, trong đó lại  
một lần nữa, người đọc bắt gặp quan  
niệm Phật tại tâm (Bụt là lòng) mà thi  
nhân đã từng bày tỏ trong bài Hoa  
mộc cận (đã dẫn), hay trong bài Mạn  
thuật số 8:  
Nếu bài thơ Hoa mộc cận đã thể hiện  
trực tiếp và sâu sắc tư tưởng thiền  
đạo với cái lý vô thường, thì những  
bài thơ sau đây ít nhiều mang cảm  
quan Thiền đạo, đề cao cái tâm vắng  
lặng, cái tâm trống không, cái vô tâm,  
có pha chút tư tưởng Lão Trang. Bài  
Ngôn chí số 4 là một ví dụ:  
Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm  
Giơ tay áo đến tùng lâm.  
Rừng nhiều cây rợp hoa chầy động  
Đường ít người đi cỏ kíp xâm.  
Thơ dưới tục hiềm câu dưới tục  
Chủ vô tâm ấy khách vô tâm.  
Thân đà hết lụy thân nên nhẹ  
Bụt ấy là lòng Bụt há cầu? (Viện Sử  
học, 1976: 405).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
71  
Lời thơ là một sự tiếp nối quan niệm tưởng thiền Phật và Lão Trang. Ông  
là người tinh thông tam giáo, cửu lưu.  
Ông am hiểu sâu sắc triết lý tư tưởng  
tính Không của kinh văn hệ Bát nhã,  
tư tưởng Duyên khởi của Kinh Hoa  
Nghiêm, tư tưởng Nhất thừa pháp của  
Kinh Pháp Hoa. Có thể khẳng định,  
Nguyễn Trãi không chỉ là một bậc  
chân Nho mà còn là một thiền gia đã  
có thực hành, am hiểu và ngộ về thiền  
lý, về Phật tính.  
của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời  
Trần mà Phật hoàng Trần Nhân Tông  
từng phát biểu trong Cư trần lạc đạo  
phú.  
3. KẾT LUẬN  
Nguyễn Trãi tuy xuất thân từ “cửa  
Khổng sân Trình” nhưng trong tư  
tưởng của ông không chỉ đơn thuần là  
tư tưởng của Nho gia mà còn có tư  
CHÚ THÍCH  
Bài viết thuộc đề tài khoa học công nghệ cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; mã  
số: C2019-18b-01.  
(1) Tam giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Cửu lưu: Chín dòng tức chín học phái của  
Trung Quốc thời cổ đại, từ trước đời Tần đến đầu đời Hán. Đó là: Nho gia, Đạo gia, Âm  
Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia, Nông gia. Ngoại thư:  
từ dùng để chỉ chung các loại sách không phải của Nho giáo, nằm ngoài Nho giáo.  
(2)  
Bài này trong công trình Nguyễn Trãi toàn tập của Viện Sử học ghi phiên âm đầu đề là  
Tiên Du tự nhưng nguyên tác chữ Hán in kèm theo lại ghi là Du sơn tự 遊山寺 (tr. 372-373),  
phải chăng là do phiên âm nhầm. Trong nhiều bộ Hợp tuyển, Tinh tuyển, Tổng tập, Ức Trai  
di tập bổ sung, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên đều ghi là Du sơn tự. Chúng tôi ghi theo Tổng  
tập và các bộ thi tuyển khác.  
(3)  
Nhan đề của bài thơ này trong tất cả bộ bộ Hợp tuyển, Tinh tuyển, Tổng tập, Ức Trai di  
tập bổ sung, Nguyễn Trãi toàn tập, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên và ngay cả bộ sách gốc  
Ức Trai di tập của Dương Bá Cung (bản khắc in năm 1868) đều ghi tên chùa là Hoa Yên.  
Theo chúng tôi Hoa Yên tự là do vua Lê Thánh Tông (1442-1497) đặt lại khi đến viếng cảnh  
chùa (nửa cuối thế kỷ XV). Thời thiền sư Huyền Quang viết bài phú và Nguyễn Trãi viết bài  
thơ này, tên chùa là Vân Yên. Chính vì thế, chúng tôi đề nghị nên ghi tên nhan đề bài phú  
của sư Huyền Quang và bài thơ của Nguyễn Trãi là Vân Yên tự (Vịnh Vân Yên tự phú; Đề  
Yên Tử sơn Vân Yên tự).  
(4) Trong Pháp bảo đàn kinh.  
(5)  
Về bài thơ này, bản Nguyễn Trãi toàn tập của Viện Sử học ghi nhan đề là Cây mộc cận,  
trong khi các bản của Bùi Văn Nguyên (Ức Trai di tập bổ sung và Thơ quốc âm Nguyễn Trãi);  
của Mai Quốc Liên - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (Nguyễn Trãi toàn tập tân biên và các  
bộ Hợp tuyển, Tổng tập) đều ghi là Mộc cận hoặc Hoa mộc cận (Hoa dâm bụt). Và chữ đầu  
của câu hai là ‘Vện’ (Bùi Văn Nguyên); ‘Vẫn’ (Mai Quốc Liên). Ở đây chúng tôi ghi theo bản  
của Viện Sử học do Đào Duy Anh phiên âm, dịch và chú giải.  
72  
NGUYỄN CÔNG LÝ - NGUYỄN CÔNG THANH DUNG – CẢM QUAN THIỀN ĐẠO…  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Văn Nguyên (chủ biên). 1995. Tổng tập văn học Việt Nam - tập 4. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
2. Nguyễn Mộng Tuân. 2000. Tặng Gián nghị đại phu Nguyễn công (Tặng quan Gián  
nghị đại phu họ Nguyễn), in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 4. Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội (tái bản).  
3. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. 2001. Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Mai Quốc  
Liên (chủ biên). Hà Nội: Nxb. Văn học.  
4. Viện Sử học. 1976. Nguyễn Trãi toàn tập. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội (tái bản).  
5. Viện Văn học.1988. Thơ văn Lý-Trần - tập 2, Quyển thượng. Hà Nội: Nxb. Khoa học  
Xã hội.  
pdf 10 trang baolam 29380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cảm quan Thiền đạo trong thơ Nguyễn Trãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcam_quan_thien_dao_trong_tho_nguyen_trai.pdf