Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing 4.0 tại doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 50, 2021  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0  
TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LỪNG THỊ KIỀU OANH*, LÊ THỊ HỒNG NGỌC, PHAN THỊ MỸ DUNG, LÊ THỊ HẬU,  
NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG, HÀ MINH QUÂN  
Khoa Thương mại Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt. Sự phát triển của công nghệ đã thay đổi tổng thể và toàn diện về cách làm việc, phương thức kinh  
doanh, phương thức marketing của các doanh nghiệp. Trong xu thế chuyển đổi số, marketing 4.0 được ví  
như huyết mạch của các doanh nghiệp hiện nay nói chung và lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng. Nghiên  
cứu này được thực hiện nhằm mục đính đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định sử dụng  
marketing 4.0 tại các doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí  
Minh. Bên cạnh phương pháp nghiên cứu định tính để xác định và điều chỉnh thang đo, nghiên cứu còn sử  
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua thu thập bảng câu hỏi trực tuyến gửi cho 182 doanh  
nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu. Kết quả cho thấy có 4 nhân tố  
ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing 4.0 tại các doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu là:  
(1) Khả năng tương thích, (2) Thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0, (3) Nhận thức tính hữu ích và  
(4) Nhận thức rào cản khi sử dụng. Trong đó nhân tố “Khả năng tương thích” có ảnh hưởng mạnh nhất. Từ  
kết quả đó, nghiên cứu đã đề xuất một số hàm ý quản trị, kiến nghị nhằm nâng cao ý định sử dụng marketing  
4.0 tại các doanh nghiệp.  
Từ khóa. Marketing 4.0, khả năng tương thích, thái độ hướng tới việc sử dụng, nhận thức tính hữu ích,  
nhận thức rào cản, doanh nghiệp xuất nhập khẩu  
FACTORS AFFECTING THE INTENTION TO USE MARKETING 4.0 OF IMPORT-  
EXPORT TRADING SERVICE ENTERPRISES IN HCMC  
Abstract. The development of technology has changed comprehensively the working ways, bussiness  
methods, and marketing strategies of enterprises. In the tendency of digital transformation, marketing 4.0  
can be compared to the backbone of the present companies in general, and import-export businesses in  
particular. The purpose of this paper is to measure the influence of the factors on the intention to use  
marketing 4.0 in the import-export commercial service enterprises in Ho Chi Minh City. In addition to  
qualitative research methods to confirm and adjust the scale, the research also uses quantitative research  
methods through a survey of 182 companies to consider influencing factors to the intention to use marketing  
4.0 in the import-export commercial service enterprises. The result indicated that there are 4 factors  
affecting the intention of using marketing 4.0 in such businesses, which includes: (1) Compatibility, (2)  
Attitude towards the use of marketing 4.0, (3) Perceived usefulness and (4) Perceived barriers to use. In  
which the factor "Compatibility" has the strongest influence. From the results achieved, the study has  
proposed several administrative implications and recommendations to improve the intention to use  
marketing 4.0 in businesses.  
Keywords. Marketing 4.0, compatibility, attitude towards the use, perceived usefulness, perceived barriers  
to use, import-export businesses  
1 GIỚI THIỆU  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra trên toàn thế giới, nó tác động mạnh đến toàn  
bộ các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, các lĩnh vực đời sống, thay đổi thói quen của con người. Đồng  
thời, bước qua năm 2020 với đại dịch Covid-19 được xem như đòn bẩy kích thích sự thay đổi toàn diện  
việc sản xuất, giao thương hàng hóa của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp hoạt động theo phương  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
67  
thức truyền thống đã nhận thấy việc ứng dụng công nghệ trong tìm kiếm khách hàng, marketing, xuất khẩu  
hàng hóa là hướng đi tất yếu.  
Tại Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại cơ hội lớn để phát triển kinh doanh, hợp tác với  
các đối tác nước ngoài hay mở rộng thị trường ra thế giới. Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng  
tạo nên một cuộc đua khốc liệt giữa các doanh nghiệp khi mà khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn trên  
nền tảng số [13]. Nó cũng mở ra kỷ nguyên mới cho ngành marketing: dịch chuyển từ truyền thống sang  
công nghệ số, thuật ngữ marketing 4.0 từ đó được hình thành. Marketing 4.0 xuất hiện trên cơ sở khai thác  
tối đa nền tảng công nghệ thông tin, kết nối, tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp, cũng như đáp ứng được  
các yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng [7]. Với xu thế phát triển hiện nay, marketing 4.0 được xem  
là một phiên bản bắt buộc cần phải có, là một giải pháp tối ưu giúp doanh nghiệp thỏa mãn được nhu cầu  
của khách hàng vì khách hàng không chỉ tìm kiếm sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu cơ bản mà họ cũng cần  
thỏa mãn sự sáng tạo [11].  
Tuy nhiên, việc sử dụng marketing 4.0 không phải được chấp nhận bởi tất cả các doanh nghiệp, mặc dù  
những lợi ích của marketing 4.0 mang lại là rõ ràng. Nhiều doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu tại  
Việt Nam vẫn còn lo ngại và chưa thực sự mạnh dạn trong việc ứng dụng marketing 4.0 và công nghệ trong  
việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Trong khi đó, marketing 4.0 đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp  
thương mại xuất nhập khẩu bởi vì khách hàng của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài, tất cả hoạt động  
marketing ở thị trường nước ngoài. Việc sử dụng internet, công nghệ số sẽ giúp cho doanh nghiệp có được  
thông tin chính xác, tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại những nước  
phát triển đã biết cách ứng dụng công nghệ để tìm hiểu về thị hiếu khách hàng, phân tích thói quen tiêu  
dùng và xây dựng chiến lược xúc tiến. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu tại Việt  
Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn chưa triển khai phổ biến việc ứng dụng công  
nghệ 4.0. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn rất bị động với các xu thế mới, họ chưa hiểu rõ bản chất của  
cách mạng công nghiệp 4.0, do vậy chưa tận dụng được xu thế công nghệ đến lĩnh vực của mình. Tính đến  
24/07/2020, tỷ lệ doanh nghiệp xuất nhập khẩu có tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử chỉ chiếm  
20%, tỷ lệ hình thức quảng bá doanh nghiệp qua mạng xã hội chiếm 73%, báo điện tử 58% và các công cụ  
tìm kiếm chiếm 69% và tỷ lệ thiết lập mối quan hệ với đối tác mới qua nền tảng số đang ở mức 17% [5].  
Một trong những trở ngại lớn các doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu khi triển khai marketing  
4.0 là thiếu vốn, công nghệ, nguồn nhân lực; năng lực quản trị yếu; các doanh nghiệp ngại thay đổi, chưa  
nghiên cứu và nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhạy dẫn đến hàng hóa sản xuất không được  
tiêu thụ; chi phí tiếp thị lớn mà không mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp [6]. Các nghiên cứu  
marketing 4.0 hiện nay mới chỉ áp dụng cho tất cả doanh nghiệp chứ chưa có hướng tiếp cận một cách đầy  
đủ về vấn đề marketing 4.0 của các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu tại Việt Nam hay thành phố  
Hồ Chí Minh. Việc nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing 4.0 của các  
doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu sẽ mang lại cả ý nghĩa về mặt lý luận và ý nghĩa thực tiễn  
đối với các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu trong việc ứng dụng marketing 4.0 tại doanh nghiệp.  
Phần tiếp theo của nghiên cứu sẽ trình bày cơ sở lý thuyết từ đó xây dựng nên các giả thuyết hình thành mô  
hình nghiên cứu cho đề tài. Sau đó, nghiên cứu sẽ chỉ ra các phương pháp nghiên cứu để nhằm thực hiện  
được mục tiêu nghiên cứu ban đầu. Kết quả nghiên cứu là một phần quan trọng của bài nghiên cứu này.  
Cuối cùng, nghiên cứu cũng nêu lên các hạn chế của nghiên cứu để từ đó làm tiền đề cho các bài nghiên  
cứu tiếp theo.  
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1 Marketing 4.0  
Theo Kotler và các cộng sự (2017) [12], marketing 4.0 là phương pháp tiếp cận marketing kết hợp giữa các  
tương tác trực tuyến và trực tiếp, giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, pha trộn giữa phong cách và giá  
trị thực tế trong quá trình xây dựng thương hiệu; và quan trọng nhất là sự bổ trợ lẫn nhau giữa kết nối máy  
- máy và tiếp xúc trực tiếp người - người nhằm tăng cường cam kết gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp  
[12]. Marketing 4.0 là sự phát triển, kế thừa các lý thuyết và thực hành của marketing truyền thống và  
marketing số, nó là một sự kết hợp pha trộn giữa markeing hiện đại và marketing truyền thống chứ không  
phải là loại trừ. Marketing 4.0 lấy con người làm trung tâm (không phải khách hàng hay sản phẩm làm  
trung tâm) với sự hỗ trợ của công nghệ nền tảng (mạng xã hội, phần mềm quản lý quan hệ khách hàng,  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
68  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
internet…) để tạo ra các kết nối giao tiếp nhanh chóng và dễ dàng giữa doanh nghiệp với khách hàng. Đồng  
thời marketing 4.0 vẫn sử dụng các hình thức tiếp thị truyền thống (như địa điểm/cửa hàng, hội thảo/sự  
kiện, truyền miệng…) để tạo ra sự tin tưởng và trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng đối với thương hiệu  
[18]. Như vậy có thể nói rằng marketing 4.0 là hình thức tiếp thị có tương tác hai chiều giữa doanh nghiệp  
và khách hàng bằng cả phương phức trực tiếp và trực tuyến. Dựa vào nền tảng số, doanh nghiệp phân tích  
được thói quen tiêu dùng của khách hàng, từ đó quảng bá sản phẩm, dịch vụ của mình một cách nhanh  
chóng, phủ rộng đến nhiều đối tượng khách hàng ở những tọa độ khác nhau. Bên cạnh đó, người tiêu dùng  
vừa được cảm nhận, tương tác với sản phẩm và còn đánh giá, chia sẻ kinh nghiệm khi sử dụng sản phẩm.  
2.2 Mô hình nghiên cứu  
Có nhiều mô hình lý thuyết về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (TRA; TPB; TAM; UTAUT), đây là  
những mô hình lý thuyết kinh điển để đo lường ý định hành vi và hành vi sử dụng công nghệ. Marketing  
4.0 là một phần trong việc áp dụng hệ thống thông tin của tổ chức. Mặc dù có nhiều nghiên cứu và mô hình  
liên quan đến chấp nhận công nghệ đã được các nhà nghiên cứu đề xuất; tuy nhiên, mô hình chấp nhận  
công nghệ TAM [11] là một trong những mô hình có ảnh hưởng nhất đến việc chấp nhận công nghệ. Vì  
vậy, bài nghiên cứu sử dụng thêm một cơ sở hữu ích trong việc giải thích ý định sử dụng công cụ marketing  
4.0 là mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Để áp dụng mô hình TAM thì cần phải xem xét các thành  
phần xem xét có phù hợp với đặc điểm công nghệ được xem xét hay không. Mô hình TAM nguyên thủy  
được đề nghị bởi Davis tập trung vào 2 yếu tố cảm nhận về tính hữu ích và cảm nhận dễ dàng sử dụng.  
Davis đã chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố: sự cảm nhận dễ sử dụng và sự cảm nhận về tính hữu ích lên  
thái độ hướng đến sử dụng công nghệ, theo đó là sử dụng công nghệ thật sự. Tính hữu ích được cảm nhận  
được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ cải thiện hiệu suất của  
mình. Mức độ dễ sử dụng được cảm nhận là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ  
dễ dàng. Một số phân tích đã chứng minh rằng tính hữu ích được cảm nhận và tính dễ sử dụng được nhận  
thức có thể được coi là hai khía cạnh khác nhau [1].  
Khi nghiên cứu về ý định sử dụng, thuyết hành vi dự định cũng là một trong những mô hình ảnh hưởng  
được sử dụng phổ biến. Thuyết hành vi dự định (TPB) được phát triển từ nền tảng của Thuyết hành vi hợp  
lý, Ajen cho rằng ý định thực hiện hành vi của con người bị chi phối bởi thái độ và ý định hành vi của một  
người được đặc trưng bởi sự hiện diện của các quy tắc xã hội và việc thực hiện kiểm soát ý chí [2]. Ý định  
bao gồm các yếu tố có động cơ tác động đến hành vi của mỗi cá nhân; chúng cho thấy mức độ sẵn sàng của  
từng cá nhân để thực hiện hành vi. Hiểu theo đó, ý định hành vi chính là ý định của người dùng sẽ sử dụng  
sản phẩm, dịch vụ trong tương lai [2]. (Ajzen, I., 1991)  
Với mô hình kết hợp lý thuyết TPB [1] và mô hình TAM [6] được kiểm chứng thực tế qua nghiên cứu của  
Chen và cộng sự (2010) [4]. Tuy nhiên, theo Venkatesh [18] có một số nghiên cứu thực nghiệm sau khi mô  
hình TAM nguyên thủy đầu tiên được công nhận, đã loại bỏ yếu tố “Thái độ” ra khỏi mô hình vì bản thân  
yếu tố này không làm trung gian đầy đủ cho sự tác động của “Nhận thức sự hữu ích” lên ý định hành vi.  
Davis và cộng sự (1989) [6] cũng đã chứng minh được mối liên hệ trực tiếp giữa “Nhận thức sự hữu ích”  
đến ý định hành vi. (Davis, 1989) (Venkatesh, 1999) (Chen, C-F, & Chao, W-S, 2010)  
Để điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng E-marketing của các doanh nghiệp quy mô vừa và  
nhỏ, Nuttida Suwanno và cộng sự (2014) [15] đã nghiên cứu đã thực hiện khảo sát trên 430 doanh nghiệp  
tại ba tỉnh biên giới phía Nam của Thái Lan. Mô hình nghiên cứu này áp dụng nền tảng lý thuyết từ mô  
hình chấp nhận công nghệ [6] và mô hình sự lan tỏa của lý thuyết đổi mới [17]. Trên thực tế khi nhắc đến  
nền tảng tiếp thị kỹ thuật số thì không thể nào không nhắc đến E-marketing và Marketing 4.0. E-marketing  
là cách thức dùng các phương tiện điện tử để giới thiệu, mời chào, cung cấp thông tin về sản phẩm hàng  
hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết phục họ chọn mua sản phẩm. Trong khi  
đó, Marketing 4.0 là hình thức tiếp thị có sự tương tác giữa online và offline giữa doanh nghiệp và khách  
hàng. Marketing 4.0 sẽ kết hợp marketing online và marketing offline trong xuyên suốt hành trình trải  
nghiệm của khách hàng. Như vậy, E-Marketing là một phần của Marketing 4.0 với đặc điểm chung là sử  
dụng nền tảng số, internet để tiếp cận khách hàng [12]. Nghiên cứu này có chung mục tiêu với đề tài nghiên  
cứu của nhóm tác giả, đều là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing trên nền tảng  
số của các doanh nghiệp. Thực tế, marketing 4.0 và E-marketing có sự khác biệt không đáng kể. Đồng thời  
marketing 4.0 và E-marketing đều sẽ gắn liền với internet, các yếu tố trong mô hình nghiên cứu của Nuttida  
Suwanno và cộng sự dựa trên cơ sở mô hình chấp nhận công nghệ và hoàn toàn phù hợp với marketing 4.0.  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
69  
Việt Nam là một quốc gia có tính cộng đồng và chịu áp lực từ xã hội cao. Những chuẩn mực phổ biến của  
môi trường xung quanh doanh nghiệp chính là hiện thân của yếu tố chuẩn chủ quan. Yếu tố chuẩn chủ quan  
có thể được đo lường thông qua những đối tượng có liên đới đến doanh nghiệp như đối tác, đối thủ và thậm  
chí cả môi trường kinh doanh chung. Theo Ajzen (1991) [1] thì chuẩn chủ quan là nhận thức của những  
người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng đối tượng đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi. Do đó, yếu tố chuẩn  
chủ quan được đưa vào mô hình nghiên cứu để khảo sát mức độ ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing  
4.0 của doanh nghiệp. Và một số nguyên nhân các doanh nghiệp không áp dụng các công nghệ mới vào  
hoạt động kinh doanh là vì gặp phải những rào cản nhất định về tài chính, thông tin cũng như chiến lược  
hoạt động còn yếu kém. Cụ thể trong mô hình nghiên cứu “các yếu tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng kế  
toán quản trị môi trường (EMA) tại các doanh nghiệp sản xuất khu vực phía Nam Việt Nam” [3] cũng cho  
kết quả rằng nhận thức về rào cản khi áp dụng EMA càng cao thì ý định sử dụng EMA tại doanh nghiệp  
càng giảm. Việc biến độc lập nhận thức về rào cản khi sử dụng được đề xuất trên cơ sở phù hợp với thực  
tiễn nền văn hóa kinh doanh tại Việt Nam. Mặt khác, nhân tố này cũng chính là cụ thể hóa của yếu tố “Nhận  
thức kiểm soát hành vi” từ mô hình C-TAM-TPB [15]. Vậy, căn cứ vào kết quả của các nghiên cứu trước  
đây về ý định hành vi của khách hàng và tình hình thực tế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ  
Chí Minh thông qua phỏng vấn nhanh, nghiên cứu đề xuất mô hình dựa trên nghiên cứu của Nuttida  
Suwanno và cộng sự (2014), kết hợp lý thuyết TPB và mô hình TAM để áp dụng cho bài nghiên cứu như  
hình 1; trong đó gồm có 5 biến độc lập bao gồm: thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0 (TD), khả  
năng tương thích (TT), nhận thức về tính hữu ích (HI), chuẩn chủ quan (CQ), nhận thức về rào cản khi sử  
dụng (RC) [16].  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Giả thuyết nghiên cứu  
Trong mô hình TRA, theo Ajen và Fishbein [1] thì thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính  
của sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ  
quan trọng khác nhau. Như vậy, nếu doanh nghiệp có niềm tin cao vào hiệu quả mà công cụ marketing 4.0  
mang lại thì khả năng sẽ có ý định sử dụng nó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình và người  
dùng chỉ sử dụng sản phẩm khi họ tin rằng giao dịch sẽ diễn ra an toàn, tức là có niềm tin vào dịch vụ đó.  
Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:  
H1: Thái độ của doanh nghiệp có tác động đồng biến đến ý định sử dụng công cụ marketing 4.0  
Ưu điểm của các ứng dụng nền tảng số là khả năng dễ dàng tương thích với nhau. Và đây cũng là một lợi  
thế của marketing 4.0. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đinh Yến Oanh và Phạm Thụy Bích Uyên (2016) cho  
thấy ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động của người tiêu dùng sẽ tăng lên nếu người tiêu dùng nhận  
thức được rằng dịch vụ đó có tính linh hoạt cao. Và một công cụ marketing có khả năng tương thích cao,  
có thể sử dụng trên nhiều thiết bị với những hệ điều hành khác nhau, nhà mạng bất kỳ mà không xảy ra lỗi  
hay gặp vấn đề trục trặc sẽ tạo nên sự tiện lợi cho tất cả các đơn vị sử dụng. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả  
thuyết:  
H2: Khả năng tương thích của doanh nghiệp có tác động đồng biến đến ý định sử dụng công cụ marketing  
4.0  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
70  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
Nhận thức sự hữu ích là nhân tố trong mô hình TAM và được kế thừa rộng rãi trong việc áp dụng các công  
nghệ mới. Nhận thức sự hữu ích được hiểu rằng là cấp độ mà doanh nghiệp tin rằng việc sử dụng một hệ  
thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện công việc của họ [6]. Doanh nghiệp sẽ đánh giá cao công cụ  
marketing 4.0 khi nhận thức sự hữu ích của nó có thể thay thế marketing truyền thống nên nghiên cứu đề  
xuất giả thuyết: ()  
H3: Nhận thức sự hữu ích của doanh nghiệp có tác động đồng biến đến ý định sử dụng công cụ marketing  
4.0.  
Chuẩn chủ quan hay ảnh hưởng từ xã hội là nhận thức của con người về áp lực xã hội để thể hiện hay không  
thể hiện hành vi [1]. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến  
doanh nghiệp (như nội bộ, đối tác và đối thủ cạnh tranh,…); những đối tượng này thích hay không thích họ  
sử dụng. Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng sử dụng marketing 4.0 của doanh  
nghiệp phụ thuộc: mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc sử dụng của doanh nghiệp và động cơ của doanh  
nghiệp làm theo mong muốn của những đối tượng có ảnh hưởng.  
H4: Chuẩn chủ quan có tác động đồng biến đến ý định sử dụng công cụ marketing 4.0.  
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Oanh và cộng sự (2016) thì những rào cản khiến doanh nghiệp  
không áp dụng công nghệ mới (EMA) là: rào cản về nhận thức, tài chính, thông tin, thể chế và quản lý.  
Tâm lý chung của doanh nghiệp thường sẽ e ngại hành động khi có quá nhiều rào cản để thực hiện ý định  
nào đó. Trong đó, rào cản về tài chính chính là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến ý định sử dụng của doanh  
nghiệp [3].  
H5: Nhận thức về rào cản khi sử dụng của doanh nghiệp có tác động nghịch biến tới ý định sử dụng công  
cụ marketing 4.0.  
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1 Phương pháp nghiên cứu  
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Đầu tiên, nghiên cứu  
định tính được sử dụng nhằm mục đích xác nhận các cấu trúc nghiên cứu cũng như điều chỉnh các chỉ mục  
nghiên cứu. Phương pháp thu thập dữ liệu định tính là phương pháp phỏng vấn nhóm với sự tham gia của  
5 chuyên gia gồm một giám đốc, một phó giám đốc, một sale admin làm việc trong lĩnh vực xuất nhập  
khẩu, hai chuyên gia marketing. Kết quả của phỏng vấn nhóm đó là sự đồng tình về các yếu tố nghiên cứu,  
cũng như điều chỉnh các thang đo dựa trên thang đo gốc, nhằm phục vụ cho giai đoạn nghiên cứu định  
lượng tiếp theo.  
Nghiên cứu định lượng sẽ được thực hiện để kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Một bảng  
câu hỏi trực tuyến được sử dụng để khảo sát 182 doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu khu vực thành  
phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu theo mục đích.  
Đáp viên là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại xuất nhập khẩu tại khu vực thành  
phố Hồ Chí Minh. Thông tin đáp viên được trình bày trong bảng 1. Dữ liệu thu thập sau khi được sàng lọc  
được xử lý bằng phần mềm SPSS 24.0.  
Bảng 1: Thông tin mẫu nghiên cứu  
N
14  
7
Phần trăm (%)  
7.7  
Doanh nghiệp chế xuất  
Doanh nghiệp gia công hàng nước ngoài  
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại chỗ  
Doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu  
Doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu  
Dưới 3 năm  
Từ 3 đến 5 năm  
Từ 6 đến 10 năm  
Trên 10 năm  
Dưới 50 nhân viên  
3.8  
2.2  
Loại hình  
kinh  
doanh  
4
103  
54  
36  
59  
30  
57  
109  
37  
7
56.6  
29.7  
19.8  
32.4  
16.5  
31.3  
59.9  
20.3  
3.8  
Thời gian  
thành lập  
Từ 51 đến 100 nhân viên  
Từ 101 đến 150 nhân viên  
Trên 150 nhân viên  
Quy mô  
nhân sự  
29  
15.9  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
71  
3.2 Thang đo nghiên cứu  
Theo Habing (2003) cho rằng để tạo ra sự tin cậy trong đo lường một nhân tố thì cần sử dụng từ 3 chỉ mục  
đo lường trở lên [7]. Trên vào cơ sở đó, cũng như kết hợp với những lý thuyết và nghiên cứu trước đây,  
nhóm tác giả đã xây dựng thang đo các khái niệm trong nghiên cứu này. Bảng 2 trình bày các thang đo,  
nguồn của thang đo và nội dung các thang đo đã được điều chỉnh thông qua nghiên cứu định tính.  
Bảng 2: Diễn giải các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất  
Tham khảo và  
điều chỉnh từ  
Ký hiệu  
TD  
Biến quan sát  
Thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0  
Doanh nghiệp có niềm tin rằng công cụ marketing 4.0 sẽ mang lại cơ hội gia  
tăng lợi nhuận  
TD1  
Sử dụng công cụ marketing 4.0, doanh nghiệp tin tưởng sẽ tìm kiếm được  
nhiều khách hàng mới  
TD2  
TD3  
TD4  
Ajen và Fishbein  
[1]  
Sử dụng công cụ marketing 4.0, doanh nghiệp tin rằng sẽ củng cố được  
thương hiệu trên thị trường  
Doanh nghiệp tin rằng marketing 4.0 sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn marketing  
truyền thống  
TT  
Khả năng tương thích  
TT1  
TT2  
Công cụ marketing 4.0 có khả năng tương thích trên nhiều loại thiết bị  
Công cụ marketing 4.0 có khả năng tương thích với nhiều hệ điều hành  
Nuttida Suwanno  
và cộng sự [15  
Công cụ marketing 4.0 không bị ngừng hoạt động khi thay đổi nhà cung cấp  
mạng  
TT3  
Công cụ marketing 4.0 có khả năng tích hợp với những mạng xã hội, website  
của doanh nghiệp  
TT4  
HI  
Roger [17]  
Nhận thức tính hữu ích  
Sử dụng công cụ marketing 4.0 giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhiều cơ hội  
tăng lợi nhuận  
HI1  
Davis và cộng sự  
[6]  
Sử dụng công cụ marketing 4.0 giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời  
gian  
HI2  
HI3  
Sử dụng công cụ marketing 4.0 giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị thương  
hiệu  
Nguyễn Thị Ngọc  
Oanh [3]  
Sử dụng công cụ marketing 4.0 giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận được  
nhiều khách hàng trên nền tảng số  
HI4  
CQ  
CQ1  
Chuẩn chủ quan  
Việc sử dụng chiến lược marketing của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ các  
đối thủ cạnh tranh  
Jamila và cộng sự  
[19]  
Hoạt động marketing của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ các doanh  
nghiệp khác ngành  
CQ2  
CQ3  
Hoạt động marketing của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng từ những chuyên  
gia, quản lý trong ngành  
Ajen và Fishbein  
[1]  
Chiến lược marketing của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ thị hiếu tiêu dùng  
của khách hàng  
CQ4  
RC  
Nhận thức rào cản khi sử dụng  
Việc sử dụng công cụ marketing 4.0 trong doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn vì  
phải cân nhắc đến lợi ích tài chính mang lại do chi phí thực hiện  
Davis và cộng sự  
[6]  
RC1  
Việc sử dụng công cụ marketing 4.0 trong doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn vì  
thiếu chiến lược hành động cụ thể  
Nguyễn Thị Ngọc  
Oanh [3]  
RC2  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
72  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
Tham khảo và  
điều chỉnh từ  
Ký hiệu  
Biến quan sát  
Việc sử dụng công cụ marketing 4.0 trong doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn vì  
đội ngũ nhân lực thiếu kiến thức chuyên môn  
RC3  
RC4  
Sử dụng công cụ marketing 4.0 là không cần thiết vì marketing truyền thống  
đã mang lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp  
Davis và cộng sự  
[6]  
YD  
Ý định sử dụng  
YD1  
Doanh nghiệp đã có kế hoạch sử dụng công cụ marketing 4.0 trong tương lai  
Doanh nghiệp nên sử dụng công cụ marketing 4.0 phổ biến hơn trong hoạt  
động marketing  
Davis và cộng sự  
[6]  
YD2  
YD3  
YD4  
Doanh nghiệp sẽ sử dụng công cụ marketing 4.0  
Ajen và Fishbein  
[1]  
Doanh nghiệp sẽ tiếp tục tìm hiểu, cập nhật thông tin về marketing 4.0  
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá  
Hệ số α của Cronbach là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo  
tương quan với nhau. Hệ số này càng cao thể hiện tính đồng nhất của các biến đo lường càng cao, tức là  
mức độ liên kết giữa các biến càng cao. Theo đề xuất thì một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được  
đánh giá là tốt phải có hệ số α lớn hơn hoặc bằng 0.7 [10]. Tuy nhiên, đối với “trường hợp khái niệm đang  
đo lường là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu” thì hệ số Cronbach’s Alpha từ  
0.6 trở lên là phép đo đảm bảo độ tin cậy và chấp nhận được. Ngoài ra, để biết biến đo lường nào cần được  
loại đi và biến đo lường nào cần được giữ lại, ta cần xem xét thêm hệ số tương quan biến – tổng (Corrected  
Item - Total Correlation) của từng biến. Theo đó, chỉ những biến nào có hệ số tương quan biến – tổng lớn  
hơn 0.3 mới được xem là chấp nhận được và tiến hành những bước phân tích tiếp theo [10].  
Kết quả kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy các thành phần của thang đo được  
trình bày trong bảng 3. Kết quả phân tích độ tin cậy cho thấy tất cả các nhóm yếu tố đều có hệ số Cronbach’s  
Alpha > 0.6 và các biến thành phần đều có hệ số tương quan biến - tổng phù hợp (>0.3) nên các thang đo  
với tất cả các biến đưa ra ban đầu đều phù hợp để đưa vào phân tích nhân tố. ()  
Bảng 3: Kiểm định Cronbach’s Alpha và EFA  
Thang đo  
Cronbach’s Alpha  
Hệ số tải nhân tố  
Thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0  
Khả năng tương thích  
0.835  
0.751  
0.865  
0.833  
0.733  
0.897  
[0.735 – 0.804]  
[0.602 – 0.787]  
[0.756 – 0.865]  
[0.581 – 0.881]  
[0.677 – 0.751]  
[0.865 – 0.887]  
Nhận thức tính hữu ích  
Chuẩn chủ quan  
Nhận thức rào cản khi sử dụng  
Ý định sử dụng marketing 4.0  
Kaiser-Meyer-Olkin biến độc lập = 0.823  
Kaiser-Meyer-Olkin biến phụ thuộc = 0.840  
Bartlett’s Test of Sphericity, sig. = 0.00  
Phương pháp phân tích nhân tố được tiến hành để rút gọn tập hợp các biến độc lập thành một tập nhỏ hơn  
là các biến đại diện cho mỗi nhóm nhân tố mà không làm mất đi ý nghĩa giải thích và thông tin của nhóm  
nhân tố đó. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố chính (Principal Component Analysis)  
với phép xoay nhân tố giữ nguyên góc các nhân tố (Varimax) vì mô hình nghiên cứu chỉ có hai loại biến  
độc lập và phụ thuộc, không có sự xuất hiện của biến trung gian. Thang đo được chấp nhận khi 0.5 ≤ KMO  
≤ 1 [7]; hệ số Sig. = 0.000 của kiểm định Bartlett cho biết các biến quan sát tương quan với nhau có ý nghĩa  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
73  
thống kê; tổng phương sai trích có giá trị ≥ 50% và hệ số tải nhân tố ≥ 0.5 chứng tỏ đạt độ tin cậy thích hợp  
cho phân tích nhân tố [14].  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) trong bảng 3 cho thấy thang đo nghiên cứu được chia thành 5  
biến độc lập và 1 biến phụ thuộc với hệ số KMO > 0.5 và sig của kiểm định Bartlett = 0.000 <0.05 [9]. Do  
đó, phân tích nhân tố là phù hợp. Hơn nữa, hệ số tải nhân tố của tất cả các biến đều lớn hơn 0.5. Vì vậy,  
nghiên cứu này đã xác định 5 biến độc lập, bao gồm: (1) Thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0, (2)  
Khả năng tương thích, (3) Nhận thức tính hữu ích, (4) Chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức rào cản khi sử dụng  
và một biến phụ thuộc là ý định sử dụng marketing 4.0.  
4.2 Phân tích hồi quy  
Xây dựng ma trận hệ số tương quan giúp chúng ta xem xét mối tương quan tuyến tính giữa các biến trong  
mô hình. Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (sig < 0.05). Trong  
đó biến TT - “Khả năng tương thích” có sự tương quan cao nhất với biến phụ thuộc YD - “Ý định sử dụng  
marketing 4.0” (0.582). Ngoài ra, các biến độc lập đều có tương quan đáng kể với nhau, cụ thể giữa biến  
HI và TD có tương quan tương đối cao là 0.448, có khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.  
Với kết quả phân tích hồi quy lần 1, nhân tố “Chuẩn chủ quan” (CQ) có giá trị VIF < 2 tuy nhiên giá trị Sig  
= 0.533 (> 0.05) nên không có ý nghĩa thống kê trong mô hình [10], vì vậy nhóm tác giả tiến hành loại biến  
CQ này và phân tích kết quả hồi quy lần 2 như bảng 4.  
Bảng 4: Kết quả hồi quy  
Hệ số  
chuẩn hóa  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
Hệ số chưa chuẩn hóa  
Mô  
hình  
t
Sig  
Sai số chuẩn  
B
Beta  
T
VIF  
(SE)  
0.707  
0.346  
0.406  
0.226  
-0.180  
0.261  
0.058  
0.065  
0.054  
0.068  
2.710  
5.942  
6.287  
4.185  
-2.637  
0.007  
TD  
TT  
HI  
0.365  
0.377  
0.261  
-0.156  
0.000  
0.000  
0.000  
0.009  
0.706  
1.416  
0.738  
0.686  
0.761  
1.354  
1.458  
1.315  
RC  
Dubin-Watson = 1.705  
F = 49.647; sig. = 0.000  
R2 hiệu chỉnh = 0.518  
Hệ số đo lường đa cộng tuyến: Hệ số VIF của các biến nhỏ (lớn nhất là 1.458 < 2). Do đó, hiện tượng đa  
cộng tuyến xảy ra giữa các biến độc lập trong mô hình này là nhỏ, không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả  
hồi quy. Tham số hiệu chỉnh R bình phương cho biết mức độ (%) biến thiên của biến phụ thuộc được giải  
thích bởi biến độc lập. Kết quả hồi quy cho thấy 51.8% sự thay đổi về ý định sử dụng marketing 4.0 tại các  
doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được giải thích bằng  
4 biến độc lập; các yếu tố khác giải thích 48.2% còn lại.  
Kết quả kiểm định giá trị Durbin - Watson thông qua phân tích hồi quy cho thấy giá trị Durbin - Watson  
đạt 1.705 nằm trong khoảng chấp nhận 1 < D < 3 [10], do đó ta có thể kết luận không có hiện tượng tự  
tương quan giữa các sai số ngẫu nhiên, các giả định trong mô hình hồi quy tuyến tính không bị vi phạm.  
Qua bảng phân tích ANOVA cho thấy tỷ lệ F = 49.647 và có Sig. = 0.000 (sig. ≤ 0.05). Mô hình hồi quy  
có ý nghĩa theo dữ liệu thu thập được và các biến được đưa vào có ý nghĩa thống kê, với mức ý nghĩa 5%.  
Hệ số Beta cho thấy mức độ ảnh hưởng của 4 biến độc lập đến biến phụ thuộc và tầm quan trọng của từng  
biến độc lập trong mô hình lần lượt là: Khả năng tương thích với β = 0.377, Thái độ hướng tới việc sử dụng  
marketing 4.0 với β = 0.365, Nhận thức tính hữu ích với β = 0.261 và Nhận thức về rào cản khi sử dụng với  
β = - 0.156.. Từ kết quả phân tích ta có mô hình hồi quy:  
푌퐷 = 0.365푇퐷 + 0.377푇푇 + 0.261퐻퐼 − 0.156푅퐶  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
74  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
5 THẢO LUẬN  
Kết quả nghiên cứu cho thấy 4 yếu tố thực sự ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing 4.0 tại các doanh  
nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu tại TP.HCM là khả năng tương thích, thái độ hướng tới việc sử  
dụng marketing 4.0, nhận thức tính hữu ích và nhận thức rào cản khi sử dụng.  
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định lại sự phù hợp khi ứng dụng lý thuyết TPB và mô hình TAM để phân  
tích cho bối cảnh sử dụng marketing 4.0 tại các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu. Nếu theo Ajen  
cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn  
chủ quan; kiểm soát hành vi [2] và với nghiên cứu của Davis đã chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố: sự cảm  
nhận dễ sử dụng và sự cảm nhận hữu dụng (của công nghệ) lên thái độ hướng đến sử dụng (công nghệ) [6];  
thì nghiên cứu của nhóm tác giả đã giúp khẳng định thêm sự tác động của nhân tố mới tới ý định sử dụng  
(marketing 4.0) đó là khả năng tương thích và nhận thức rào cản khi sử dụng. Bên cạnh đó, nghiên cứu này  
đã khai thác một vấn đề cấp thiết trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay  
chính là ứng dụng marketing 4.0 vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.  
Bảng 4: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu  
GT  
H1  
H2  
H3  
H5  
Nhân tố  
Sig.  
0.000  
Giá trị β  
Đánh giá  
Thái độ hướng tới việc sử dụng marketing 4.0  
Khả năng tương thích  
0.365 Chấp nhận  
0.377 Chấp nhận  
0.261 Chấp nhận  
-0.156 Chấp nhận  
0.000  
0.000  
0.009  
Nhận thức tính hữu ích  
Nhận thức rào cản khi sử dụng  
Trong nghiên cứu này, nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến ý định sử dụng marketing 4.0 tại các doanh nghiệp  
thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là “Khả năng tương thích”. Điều  
này cũng tương đối dễ hiểu khi các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu hầu hết là các doanh nghiệp  
vừa và nhỏ, khách hàng hướng đến của doanh nghiệp là tại thị trường nước ngoài có trình độ công nghệ,  
kỹ thuật khác nhau. Khả năng tương thích của hệ thống marketing 4.0 ảnh hưởng tới những chi phí mà  
doanh nghiệp phải bỏ ra để triển khai marketing 4.0. Hay nói cách khác, tính tương thích cao thì doanh  
nghiệp bỏ ít chi phí đồng nghĩa với lợi ích của marketing 4.0 là rõ rệt. Như vậy, tính tương thích của  
marketing 4.0 sẽ tạo ra thái độ tích cực cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cho việc đầu tư khi họ so sánh  
chi phí và lợi ích đạt được, từ đó dẫn đến ý định sử dụng marketing 4.0 cho doanh nghiệp.  
Thái độ cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến ý định sử dụng marketing 4.0; đây chính là yếu tố thuộc về  
nhận thức của mỗi doanh nghiệp, khi họ có những quan điểm, đánh giá tốt về hình thức marketing 4.0 thì  
chắc chắn sẽ làm gia tăng ý định sử dụng. Những thông tin liên quan và thực trạng sử dụng các chiến lược  
marketing trên thị trường tạo nên niềm tin của doanh nghiệp và niềm tin đó có tác động lớn tới thái độ  
hướng tới việc sử dụng marketing 4.0. Bối cảnh dịch bệnh Covid-19 cũng làm thay đổi nhận thức trong  
việc áp dụng marketing 4.0. Và hai yếu tố tác động ít hơn đến ý định sử dụng marketing 4.0 là nhận thức  
về tính hữu ích và nhận thức về rào cản khi sử dụng. Trong xu thế chuyển đổi số, khi các quan điểm về  
marketing 4.0 đã được phổ biến rộng rãi trên nhiều diễn đàn, các doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt thông tin  
về marketing 4.0. Đặc biệt các doanh nghiệp thương mại xuất nhập khẩu hoạt động kinh doanh với khách  
hàng nước ngoài bị rào cản bởi khoảng cách địa lý, văn hóa…cộng thêm dịch Covid-19 thì việc nhận biết  
lợi ích của marketing hay rào cản của việc sử dụng marketing 4.0 không còn là xa lạ với doanh nghiệp.  
6 KẾT LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã góp phần khẳng định ý nghĩa của lý thuyết TPB và mô hình chấp nhận công nghệ  
[11] ở bối cảnh ý định sử dụng marketing 4.0 của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu.  
Thông qua mô hình nghiên cứu góp phần giúp ích cho các doanh nghiệp hoạch định kế hoạch để triển khai  
marketing 4.0 tại doanh nghiệp.  
Đầu tiên, ban lãnh đạo cùng với đội ngũ nhân viên marketing tại các doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất  
nhập khẩu cần tìm hiểu, học hỏi về marketing 4.0, các công cụ, hình thức của marketing 4.0 này gồm những  
gì thông qua internet, các hội thảo, chuyên đề để nắm vững các kiến thức chuyên môn. Đồng thời, doanh  
nghiệp cần đầu tư xây dựng các kênh truyền thông hiệu quả: website, mạng xã hội (Facebook, LinkedIn,  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
75  
Twitter,…) cũng như cần xem xét lại sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp để vạch ra chiến lược để lựa chọn  
đúng hình thức marketing 4.0 phù hợp.  
Để xây dựng được thái độ tốt với marketing 4.0, doanh nghiệp phải cập nhật các thông tin về những cuộc  
cách mạng công nghiệp 4.0 và kèm theo đó sự phát triển của marketing 4.0. Niềm tin sẽ càng được củng cố  
khi doanh nghiệp tiếp cận được với những nguồn thông tin hữu ích, xu hướng của thời đại về marketing  
4.0. Ngoài ra yếu tố nhận thức tính hữu ích trong nghiên cứu có tương quan đáng kể đến thái độ hướng tới  
việc sử dụng marketing 4.0 của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp nhận thức được những lợi ích, ưu điểm  
mà marketing 4.0 mang lại sẽ làm tăng ý định sử dụng marketing 4.0 tại doanh nghiệp.  
Doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức và hiểu biết về marketing 4.0 để thấy được lợi ích của nó cho doanh  
nghiệp, triển khai mô hình thử nghiệm để đánh giá những lợi ích mà marketing 4.0 mang lại so với hình  
thức marketing cũ. Doanh nghiệp cũng cần tổ chức nhiều cuộc thi đua tìm hiểu về các xu hướng kinh doanh  
hiện đại nói chung và tiếp thị nói riêng vừa nhằm tạo ra sân chơi bổ ích trong môi trường doanh nghiệp vừa  
gia tăng nhận thức cho nhân sự.  
Mặc dù đã nỗ lực tối đa nhằm đặt được mục tiêu nghiên cứu, tuy nhiên, nghiên cứu này cũng còn một số  
hạn chế nhất định. Đầu tiên, nghiên cứu phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết TPB và TAM căn  
bản, điều này có thể dẫn đến hạn chế tính cập nhật của nghiên cứu. Do đó, những nghiên cứu sau có thể  
phát triển một nghiên cứu mới dựa trên các lý thuyết hành vi dự định và chấp nhận công nghệ mới nhất.  
Hơn nữa, mặc dù nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Tp.HCM nhằm  
làm rõ việc áp dụng marketing 4.0 cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Tp.HCM, nhưng việc mở rộng  
nghiên cứu sang toàn bộ doanh nghiệp hoặc mở rộng không gian nghiên cứu có thể sẽ có thể mang lại các  
kết luận thú vị hơn..  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Ajzen, I., & Fishbein, M., In Belief, attitude, intention, and behavior: An introduction to theory and research.  
Boston, USA: Addison - Wesley Press, 1975.  
[2]. Ajzen, I., In The theory of planned behavior, vol. 50, no. 2, pp. 179-211. Organizational Behavior and Human  
Decision Process, 1991.  
[3]. Oanh, N. T. N., Factors affecting the intention to apply environmental management accounting (EMA) in  
manufacturing enterprises in the south of Vietnam.  
(Master's Theses), 2016. doi:  
[4]. Chen, C-F, and Chao, W-S, Habitual or reasoned? Using the theory of planned behavior, technology acceptance  
model, and habit to examine switching intentions toward public transit. Transportation Research Part F: Traffic  
Psychology and Behaviour, 14(2), 128-137, 2010.  
[5]. Vietnam E-commerce and Digital Economy Agency, Vietnam's E-commerce White Book, Ministry of Industry  
and Trade, pp. 67-78, 2020.  
[6]. Davis, F.D. Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology, MIS  
Quarterly, Vol. 13, No. 3, pp. 319-340, 1989.  
[7]. Habing, Exploratory Factor Analysis, Prentical-Hall International, Inc, Ed, 2003.  
[8]. Hair et al., Mutivariate Data Analysis, (3, Ed.) Technometrics, p. 31, 2006.  
[9]. Hair et al., A Primer on Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLSSEM), Thousand Oaks,CA:  
Sege, 2014.  
[10]. Trong. H & Ngoc. C. T. M, Phân tích dữ liệu với SPSS, vol 2. Ho Chi Minh, HCM: Hong Duc, 2008.  
[11]. Jara, A. J., Parra Meroño, M. C., & Skarmeta, A.., Marketing 4.0: A New Value Added to the Marketing through  
[12]. Kotler Philip et al., Marketing 4.0: Moving From Traditional to Digital. Canada: John Wiley & Sons, 2017.  
[13]. Leeflang, P. S., Verhoefa, P. C., & Freundt, T., Challenges and solutions for marketing in a digital era, European  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
76  
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG MARKETING 4.0 TẠI DOANH NGHIỆP  
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM  
[14]. Tho.N.D & Trang.N.T, Nghiên cứu khoa học Marketing - Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, Ho Chi  
Minh, HCM: Vietnam National University, 2008.  
[15]. Nuttida Suwanno et al., Factors affecting the Intention to use E-marketing of small and medium sized businesses  
in the three southern border provinces of Thailand, Vol. 5, No. 6(1), 2014.  
[16]. Hoang.N & Ha.N.T, Factors affecting the application of marketing 4.0 in Vietnamese enterprises, Financial  
toi-ap-dung-marketing-40-tai-cac-doanh-nghiep-viet-nam-142819.html.  
[17]. Roger, The Diffusion of Innovation Theory. (3, Ed), New York: The Free Press, 1983.  
[18]. Venkatesh, V., A Theoretical Extension of the Technology Acceptance Model: Four Longitudinal Field Studies,  
46(2), 186-204, 1999.  
[19]. Jamila, C. Z. M, Mohamed, R., Muhammad, F. and Ali, A., Environmental management accounting practices in  
small medium manufacturing firms, Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol. 172, pp. 619-626, 2014.  
Ngày nhận bài: 28/04/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 23/07/2021  
© 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 11 trang baolam 22980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng marketing 4.0 tại doanh nghiệp thương mại dịch vụ xuất nhập khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_y_dinh_su_dung_marketing_4_0_tai_do.pdf