Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự thực hiện thương mại điện tử trong doanh nghiệp

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THỰC HIỆN  
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP  
ThS. Võ Chiêu Vy  
Khoa Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm mục đích điều tra tác động của năng lực tổ chức trong việc thực hiện thành công thương  
mại điện tử. Cụ thể hơn, nghiên cứu đề xuất một mô hình 3 yếu tố ảnh hưởng, bao gồm khả năng học tập  
của tổ chức, khả năng quản lý tri thức, và khả năng sẵn sàng thực hiện của tổ chức. Một cách tiếp cận đa  
chiều như vậy đã được khám phá trong các tài liệu, làm cho việc kiểm tra mô hình nghiên cứu đề xuất trở  
thành một chủ đề nghiên cứu thú vị. Bài viết thực hiện một nỗ lực phân tích để chỉ ra các lĩnh vực mà các  
công ty nên nhấn mạnh để thực hiện thành công thương mại điện tử và từ đó sẽ có được những lợi ích tiềm  
năng của nó.  
Từ khóa: Khả năng học tập, khả năng tri thức, sự sẵn sàng, thực hiện thành công, thương mại điện tử.  
1. GIỚI THIỆU  
Trong những năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của phương thức kinh  
doanh mới, đó chính là thương mại điện tử. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin,  
thương mại điện tử càng cho thấy những ưu thế vượt trội so với thương mại truyền thống. Tuy chưa hội đủ  
điều kiện hạ tầng như một số quốc gia phát triển, nhưng Việt Nam ngày càng coi sự phát triển của thương  
mại điện tử là một trong những cách thức phát triển hiệu quả nhất để bắt kịp tốc độ phát triển của kinh tế  
thế giới. Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử góp phần hình thành những mô hình kinh doanh mới,  
tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở ra một thị trường rộng lớn với mọi đối  
tượng khách hàng trong và ngoài nước. Đối với người tiêu dùng, thương mại điện tử giúp người mua chỉ  
ngồi tại nhà mà vẫn có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ trên các thị trường ở mọi nơi trên thế giới bằng một  
vài động tác kích chuột.  
2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ  
Theo định nghĩa được cung cấp bởi Bộ Thương mại Đài Loan (2013), thương mại điện tử là internet cộng  
với thương mại. Nói cách khác, thương mại điện tử tiến hành các hoạt động thương mại truyền thống  
trong môi trường internet, nơi giao dịch thương mại được thực hiện bằng điện tử. Doanh nghiệp kinh  
doanh áp dụng thương mại điện tử và sử dụng internet để giúp người tiêu dùng hiểu một sản phẩm hay  
dịch vụ và nhà sản xuất của nó. Ngoài ra, thương mại điện tử có thể thu hút người tiêu dùng mới và tạo ra  
được quy mô của thị trường (Chang Lee, 2011).  
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ đã mang lại những thay đổi lớn cho tổ chức. Cụ thể hơn, Internet đã  
trở thành kênh phân phối cho hàng hóa và dịch vụ quan trọng của doanh nghiệp (Babbar và cộng sự, 2008;  
DeYoung và cộng sự, 2007; Mainetti và cộng sự, 2012). Hoạt động trực tuyến đã tập hợp các nhân viên,  
cộng tác viên, nhà cung cấp và khách hàng, với mục tiêu chính là tạo ra giá trị cho tổ chức (DuPlessis và  
Boon, 2004; Lai và cộng sự, 2012). Theo Hsu và Fang (2009), cơ sở cho việc tạo ra một cuộc cạnh tranh  
lợi thế của một tổ chức sử dụng thương mại điện tử có liên quan chặt chẽ với trí thức. Trí thức vốn bao  
gồm các đặc tính tác động cơ cấu của một doanh nghiệp, chẳng hạn như khả năng, điều kiện làm việc,  
661  
công nghệ và quy trình. Trí thức góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức trên thị trường (Harris,  
2008; Tsai và cộng sự, 2011).  
3. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT  
3.1. Sự thực hiện thƣơng mại điện tử  
Sự hợp tác kinh doanh với đối tác là yếu tố quyết định việc thực hiện thương mại điện tử thành công trong  
thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay (Bhakoo và Chan, 2011). Sự hợp tác này là yếu tố chính có thể  
giúp tổ chức nhanh chóng phản ứng đối với nhu cầu của khách hàng và từ đó có thể cung cấp ra thị trường  
hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao (Kervenoael và cộng sự, 2009). Theo Baker và Sinkula (2005), một tổ  
chức thực hiện thương mại điện tử thành công phải tạo ra và duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình.  
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng để triển khai thương mại điện tử là hành vi và sự phối hợp của nhân viên  
(Lai và Ong, 2010). Do đó, một công ty cần tập trung vào sự phối hợp nội bộ bằng cách đào tạo nhân viên,  
đánh giá đúng và nâng cao năng suất của nhân viên (Lee và cộng sự, 2007).  
Việc thực hiện thương mại điện tử sẽ chịu tác động của những yếu tố như công tác hoạch định chiến lược  
và hợp tác với các đối tác của tổ chức (Lee và cộng sự, 2003). Thêm vào đó, khả năng kiến thức của doanh  
nghiệp và sự hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp cũng là những vấn đề quan trọng đối với quy  
trình triển khai thương mại điện tử (Lai và cộng sự, 2012). Để đo lường thương mại điện tử thực hiện  
thành công trong tổ chức bao gồm ba yếu tố: sự tác động đến hoạt động kinh doanh, sự tác động đến hiệu  
quả nội bộ và sự tác động đến khả năng phối hợp trong tổ chức.  
3.2. Khả năng học tập  
Khả năng học tập của tổ chức được coi là quá trình mà theo đó tổ chức sẽ có được những kiến thức mới về  
môi trường, mục tiêu và quy trình (Schulz, 2006). Theo Harris (2008), tổ chức có khả năng học tập dẫn  
đến việc thực hiện tốt hơn hoạt động thương mại điện tử của mình. Tổ chức có thể sử dụng thương mại  
điện tử để ứng dụng phù hợp với sự thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh phụ thuộc phần lớn vào  
khả năng học tập của tổ chức. Argyris và Schoen (1996), Huber (1991) và Zahay và Handfeld (2004) nhấn  
mạnh sự tồn tại về mối quan hệ tích cực giữa việc học tập và ý nghĩa việc thực hiện thương mại điện tử  
thành công trong tổ chức. Thêm vào đó, công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc học tập tổ  
chức, ví dụ như sự phát triển của các kênh truyền thông trực tuyến, điều này sẽ là sự hỗ trợ tuyệt vời cho  
việc kinh doanh (Harris, 2008). Đào tạo được đề xuất cho là một trong những yếu tố quan trọng trong việc  
học tập của tổ chức có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh về thương mại điện tử và hội nhập (Gerwin  
và Kolodny, 1992).  
Chuyên môn kỹ thuật trong một môi trường kinh doanh thương mại điện tử được coi là trình độ khả năng  
kỹ thuật của các nhân viên chuyên ngành. Như vậy, sự đóng góp của yếu tố này vào kinh doanh thương  
mại điện tử được thực hiện là rất quan trọng (Melville et al., 2004). Ngày nay, sự gia tăng số lượng doanh  
nghiệp thương mại điện tử sử dụng các chuyên gia để nghiên cứu thu thập và giải thích thông tin liên quan  
đến nhu cầu và hành vi của khách hàng (Helms et al., 2008). Thực tiễn này cho phép một doanh nghiệp  
ứng dụng thương mại điện tử trở nên rõ ràng hơn và tương tác hiệu quả với khách hàng của mình (Helms  
và cộng sự, 2008). Đặc biệt, phát triển công nghệ trong một doanh nghiệp điện tử có ảnh hưởng lớn đến  
việc học tập của tổ chức và góp phần vào quá trình và đổi mới (Lee và cộng sự, 2000)  
3.3. Khả năng quản lý tri thức  
Theo Davenport và Prusak (1998) và Schreiber et al. (1999), kiến thức là yếu tố quan trọng của tổ chức  
cần phải được quản lý. Tổ chức có khả năng quản lý kiến thức sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, và đem lại sự  
thành công trong kinh doanh (DeLong và Fahey, 2000). Khả năng quản lý kiến thức là khả năng thu thập,  
662  
sử dụng và chia sẻ thông tin chặt chẽ liên quan đến tính linh hoạt của một doanh nghiệp điện tử (Xu và  
Ma, 2008). Theo Harris (2008), sự tương tác và chia sẻ kiến thức giữa các đối tác kinh doanh là một yếu tố  
thúc đẩy quá trình học tập kinh nghiệm lẫn nhau của họ, đây là một tài sản rất quan trọng cho mọi tổ chức.  
Argote et al. (2003) cho rằng ứng dụng tri thức là hoạt động hiệu quả để tích lũy kiến thức trong hoạt động  
của tổ chức. Khi nói đến một tổ chức thành công, ứng dụng tri thức là một yếu tố còn quan trọng hơn việc  
sáng tạo tri thức (Grant, 1996). Theo Lee et al. (2007), một tổ chức nâng cao ứng dụng kiến thức thì tổ  
chức có khả năng triển khai thành công thương mại điện tử. Chia sẻ kiến thức làm tăng sự linh hoạt của  
công ty và góp phần điều chỉnh sự thay đổi của công ty trong môi trường kinh doanh trực tuyến (Harris,  
2008; DuPlessis và Boon, 2004). Theo Lee et al. (2003), chia sẻ kiến thức là phương tiện mà các tổ chức  
học từ bỏ cách thức kinh doanh truyền thống, lỗi thời và tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong cách thức  
kinh doanh của mình.  
3.4. Sự sẵn sàng của tổ chức  
Theo Kwon và Zmud (1987), việc thực hiện một hệ thống thông tin chỉ có thể thành công khi có đủ nguồn  
lực và được quản lý một cách thông minh. Những nguồn lực bao gồm số lượng nhân viên có khả năng,  
nguồn vốn đủ, kỹ năng kỹ thuật, …Chang (2009) đã định nghĩa sự sẵn sàng tổ chức là sự sẵn có của tổ  
chức đó về nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Theo Molla và Licker (2005), sự sẵn có dẫn đến việc áp  
dụng thành công thương mại điện tử trong tổ chức. Dựa trên định nghĩa này, các yếu tố của sự sẵn sàng  
của tổ chức sẽ được áp dụng bởi nghiên cứu hiện tại là quy mô công ty và Kiến thức của nhà lãnh đạo.  
Năm 1999, OECD đã đề xuất khung sau để phân loại các chỉ số (Colecchia 1999):  
1. Các chỉ số sẵn sàng mô tả các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thương mại và xã hội cần thiết để hỗ trợ  
thương mại điện tử.  
2. Các chỉ số cường độ mô tả cách sử dụng, khối lượng, giá trị và bản chất của giao dịch điện tử (nhằm  
xác định ai đang tận dụng các cơ hội thương mại điện tử).  
3. Các chỉ số tác động mô tả sự khác biệt của thương mại điện tử về mặt hiệu quả và tạo ra các nguồn  
tài sản mới). Tác động thường được diễn giải theo cách "tích cực" (ví dụ: tăng lợi nhuận, tăng khả  
năng học tập).  
Quy mô doanh nghiệp đã được đề xuất là một yếu tố có tác động đáng kể về việc thực hiện hoạt động  
thương mại điện tử trong thực tế. Densmore (1998) đưa ra nhiều nguyên nhân để giải thích những lợi thế  
ưu việt của các tổ chức có quy mô lớn trong việc thực hiện hoạt động thương mại điện tử như sau:  
– Tổ chức có nhiều nguồn lực hơn  
– Tổ chức có thể dễ dàng đạt được các nền kinh tế về quy mô và phạm vi  
– Tổ chức có thể chấp nhận và chịu rủi ro về một thất bại có thể xảy ra  
– Tổ chức có quyền thương lượng lớn hơn.  
Theo Harrison và cộng sự. (1997), những đặc điểm của các nhà lãnh đạo cấp cao sẽ là yếu tố ảnh hưởng  
đến thực hiện thương mại điện tử thành công. Jeon và cộng sự (2006) sử dụng hai yếu tố để kiểm tra điều  
này đó là kiến thức của lãnh đạo về công nghệ thông tin và thái độ của lãnh đạo đối với sự đổi mới trong  
tổ chức. Họ đã đưa ra kết luận là những đặc điểm của nhà lãnh đạo thực sự có ảnh hưởng trong việc triển  
khai hoạt động thương mại điện tử.  
663  
Khả năng học tập  
Sự thực hiện thương mại  
điện tử  
Khả năng quản lý tri thức  
Sự sẵn sàng  
Hình 1. Các yếu tố tác động đến sự thực hiện thương mại điện tử  
Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, mô hình nghiên cứu đưa ra dựa trên lý thuyết về khả năng học tập, khả năng  
quản lý tri thức và sự sẵn sàng của tổ chức. Các khái niệm dựa trên nghiên cứu của Lee và cộng sự  
(2007), Huang và cộng sự (2008). Mô hình kiểm tra tám yếu tố độc lập bao gồm: Sự sẵn sàng đào tạo,  
Chuyên môn kỹ thuật, Trình độ kiến thức, Tích lũy kiến thức, Ứng dụng kiến thức, Chia sẻ kiến thức, Quy  
mô doanh nghiệp, Kiến thức của CEO.  
4. PHƢƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Bảng câu hỏi được gửi bằng email đến 50 tổ chức. Email giải thích các mục tiêu của nghiên cứu và bảng  
câu hỏi gửi kèm theo. Bảng câu hỏi dựa trên mô hình đưa ra và các nghiên cứu trước đây. Nội dung của  
bảng phỏng vấn nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự thực hiện thương mại điện tử trong doanh  
nghiệp. Bảng câu hỏi được thiết kế thêm phần gợi mở để các đối tượng phỏng vấn có thể nêu lên thêm  
những yếu tố trong mô hình đề ra.  
Việc đo lường thương mại điện tử thực hiện thành công trong tổ chức bao gồm ba yếu tố: (1) Sự tác động  
đến hoạt động kinh doanh; (2) Sự tác động đến hiệu quả nội bộ; (3) Sự tác động đến khả năng phối hợp  
trong tổ chức  
Mô hình được tạo ra kiểm tra tám yếu tố độc lập được phân loại theo ba loại chính: (1) Khả năng học tập  
của tổ chức; (2) Khả năng quản lý tri thức; (3) Sự sẵn sàng của tổ chức.  
Tám yếu tố bao gồm: (1) Sẵn sàng đào tạo; (2) Chuyên môn kỹ thuật; (3) Trình độ kiến thức; (4) Tích lũy  
kiến thức; (5) Ứng dụng kiến thức; (6) Chia sẻ kiến thức; (7) Quy mô doanh nghiệp; (8) Kiến thức CEO.  
Bảng 1. Ước tính sự khác biệt và độ tin cậy  
Bartlett‟s test of  
Total variance  
explained (%)  
Cronbach‟s  
sphericity  
Variables  
KMO  
0.678  
0.756  
0.659  
0.832  
0.753  
0.723  
0.845  
0.753  
0.712  
0.697  
Eigen-value  
1.654  
Sẵn sàng đào tạo  
103.56*  
78.12*  
81.34*  
75.12*  
58.67*  
121.54*  
77.34*  
89.65*  
101.61*  
66.91*  
78.12  
69.47  
71.73  
66.76  
61.78  
75.55  
72.49  
79.32  
66.19  
69.98  
0.694  
0.795  
0.758  
0.803  
0.827  
0.762  
0.842  
0.793  
0.657  
0.712  
Chuyên môn kỹ thuật  
Trình độ kiến thức  
Tích lũy kiến thức  
Ứng dụng kiến thức  
Chia sẻ kiến thức  
Kiến thức của CEO  
Tác động kinh doanh  
Tác động nội bộ  
1.542  
2.023  
1.862  
1.112  
2.124  
2.564  
2.981  
1.546  
Tác động sự phối hợp  
Note: * p < 0.01  
1.782  
664  
Việc kiểm soát tính hợp lệ của cấu trúc được tiến hành theo hai bước. Mỗi trong số bảy yếu tố nghiên cứu  
được đánh giá về tính không đồng nhất và độ tin cậy và mức độ phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất.  
Việc kiểm tra tính không đồng nhất của từng yếu tố nghiên cứu được thực hiện bằng phân tích nhân tố giải  
thích với phương pháp phân tích thành phần chính. Ngoài ra, để ước tính độ tin cậy của các yếu tố này,  
biện pháp thống kê đã được sử dụng. Tất cả các thử nghiệm kết luận rằng các thang đo được sử dụng là  
hợp lệ và đáng tin cậy.  
Để phân tích thống kê phù hợp, các biện pháp sau đây đã được kiểm tra (Hair et al., 1995):  
– Xác định sự phù hợp của phân tích nhân tố: Thử nghiệm Bartlett (cần có ý nghĩa thống kê ở mức  
0,05) và thử nghiệm thống kê của Kaiser Kaiser Meyer Muff Olkin (giá trị trên 0,8 là thỏa đáng ,  
trong khi các giá trị trên 0,6 được chấp nhận).  
– Xác định số lượng các yếu tố được trích xuất, tiêu chí của E evalvalue đã được sử dụng. Các yếu tố  
mà trên đó, e evalvalue đã được chọn.  
– Kiểm tra tầm quan trọng, hệ số tải của chúng đã được kiểm tra. Đối với cỡ mẫu của hơn 50 quan  
sát, tải hơn 0,45 được coi là đáng kể.  
– Kiểm tra độ tin cậy của các yếu tố, biện pháp alpha Cronbach alpha đã được sử dụng. Các giá trị lớn  
hơn 0,7 được coi là hợp lệ.  
Tóm lại, bốn giả thuyết được hỗ trợ bởi dữ liệu thực nghiệm, trong khi bốn giả thuyết bị bác bỏ. Dường  
như các yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự thành công của việc thực hiện thương mại điện tử là  
trình độ kiến thức (tác động = 0,86), quy mô của doanh nghiệp (0,65), sự sẵn sàng đào tạo (0,55) và chia  
sẻ kiến thức (0,34) (Hình 2). Mặt khác, các yếu tố còn lại không ảnh hưởng đến sự thực hiện thương mại  
điện tử.  
Bảng 2. Thử nghiệm giải thuyết  
Giả thuyết  
Tác động  
Giá trị t  
Kết quả  
H1  
Sự sẵn sàng đào tạo ảnh hưởng thương mại  
điện tử thành công  
0.55  
5.96  
Chấp nhận  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
H8  
Chuyên môn kỹ thuật ảnh hưởng thương mại 0.10  
điện tử thành công  
0.80  
10.85  
1.56  
1.34  
3.24  
2.65  
0.99  
Bác bỏ  
Trình độ kiến thức ảnh hưởng thương mại  
điện tử thành công  
0.86  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
Tích lũy kiến thức ảnh hưởng thương mại điện 0.27  
tử thành công  
Ứng dụng kiến thức ảnh hưởng thương mại  
điện tử thành công  
0.24  
0.34  
0.65  
0.24  
Bác bỏ  
Chia sẻ kiến thức ảnh hưởng thương mại điện  
tử thành công  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng thương  
mại điện tử thành công  
Kiến thức CEO ảnh hưởng thương mại điện  
tử thành công  
665  
5. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu hiện tại đã phát triển một mô hình kiểm tra các khả năng của tổ chức góp phần thực hiện thành  
công thương mại điện tử. Mô hình nghiên cứu dựa trên sự tổng hợp của các nghiên cứu trước đó và kết  
quả phân tích thống kê cho thấy trình độ kiến thức, sự sẵn sàng đào tạo và chia sẻ kiến thức của các nhóm  
là những yếu tố quan trọng nhất để triển khai thương mại điện tử thành công. Hơn nữa, vai trò của các  
công ty có quy mô lớn, đã được nhấn mạnh bởi dữ liệu thực nghiệm. Từ quan điểm quản lý, điều này cho  
thấy các nhà quản lý nên hỗ trợ những nỗ lực của họ để tăng trưởng và tối đa hóa lợi nhuận cùng với việc  
áp dụng và triển khai thương mại điện tử.  
Nghiên cứu đã điều tra các khả năng của tổ chức bằng cách sử dụng hai khía cạnh (khả năng học tập của  
tổ chức và khả năng quản lý kiến thức), được đo bằng ba yếu tố phụ. Phân tích thực nghiệm cho thấy giữa  
hai chiều này, khả năng học tập của tổ chức, có vẻ như là điều quan trọng nhất đối với các công ty triển  
khai kinh doanh điện tử. Do đó, có thể kết luận rằng một tổ chức cung cấp cho nhân viên của mình đào  
tạo đã tăng khả năng thực hiện thành công các quy trình thương mại điện tử. Hơn nữa, một tổ chức có  
nhân viên am hiểu, quen thuộc với công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử có nhiều khả năng cạnh tranh  
thành công trong môi trường trực tuyến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Aragon-Correa, J.A., Garcia-Morales, V.J. and Cordon-Pozo, E. (2007), “Leadership and  
organisational learning‟s role on innovation and performance: lessons from Spain”, Industrial  
[2] Baker, W.E. and Sinkula, J.M. (2005), “Market orientation and the new product paradox”, Journal of  
[3] Bello, D.C., Lohtia, R. and Sangtani, V. (2004), “An institutional analysis of supply chain  
innovations in global marketing channels”, Industrial Marketing Management.  
[4] Bhakoo, V. and Chan, C. (2011), “Collaborative implementation of e-business processes within the  
health-care supply chain: the Monash pharmacy project”, Supply Chain Management: An  
[5] Cegarra-Navarro, J.G., Jimenez, D.J. and Martinez, C.E.A. (2007), “Implementing e-business  
through organisational learning: an empirical investigation in SMEs”, International Journal of  
[6] Chong, A.Y.-L., Ooi, K.-B., Lin, B. and Tang, S.Y. (2009), “Influence of interorganizational  
relationships on SMEs‟ e-business adoption”, Internet Research.  
[7] Christensen, C.M. (1997), The Innovator’s Dilemma, HPS Press, Boston, MA.  
[8] Clark, T. and Fincham, R. (2002), Critical Consulting: New Perspectives on the Management Advice  
Industry, Blackwell Publishers, Oxford.  
[9] Day, G.S. (1999), “Misconceptions about market orientation”, Journal of Marketing Focused  
[10] Dennis, C., Merrilees, B., Jayawardhena, C. and Wright, L.T. (2009), “E-consumer  
[11] Harrison, D.A., Mykytyn, P. and Riemenschneider, C. (1997), “Executive decisions about adoption of  
information technology in small business: theory and empirical tests”, Information Systems  
666  
[12] Helms, M.M., Ahmadi, M., Jih, W.J.K. and Ettkin, L.P. (2008), “Technologies in support of mass  
customization strategy: exploring the linkages between e-commerce and knowledge”, Computers in  
[13] Huang, X., Kristal, M.M. and Schroeder, R.G. (2008), “Linking learning and effective process  
implementation to mass customisation capability”, Journal of Operations Managemen.  
[14] Jeon, B., Han, K. and Lee, M. (2006), “Determining factors for the adoption of e-business: the case of  
SMEs in Korea”, Applied Economics  
[15] John, O.P. and Robins, R.W. (1994), “Accuracy and bias in self-perception: individual differences in  
self-enhancement and the role of narcissism”, Journal of Personality and Social Psychology  
[16] Kacen, J.J. and Lee, J.A. (2002), “The influence of culture on consumer impulsive buying  
[17] Kelloway, E.K. (1998), Using LISREL for Structural Equation Modeling: A Researcher’s Guide,  
Sage, Thousand Oaks, CA.  
[18] Kwon, T. and Zmud, R. (1987), “Unifying the fragmented models of information systems  
implementation”, Critical issues in Information Systems Research  
[19] Lee, C., Lee, G. and Lin, H.F. (2007), “The role of organisational capabilities in successful e-  
[20] Lee, H.L., So, K.C. and Tang, C.S. (2000), “The value of information sharing in a two-level supply  
[21] Lee, S. and Kim, B.G. (2009), “Factors affecting the usage of intranet: a confirmatory study”,  
[23] Lee, S.C., Pak, B.Y. and Lee, H.G. (2003), “Business value of B2B electronic commerce: the  
critical role of inter-firm collaboration”, Electronic Commerce Research and Applications  
[24] Zhu, K. (2004), “The complementarily of information technology infrastructure and e-commerce  
capability: a resource-based assessment of their business value”, Journal of Management  
667  
pdf 7 trang baolam 20060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự thực hiện thương mại điện tử trong doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_yeu_to_tac_dong_den_su_thuc_hien_thuong_mai_d.pdf