Mô hình e-logistics và giải pháp cho khu vực Tây Nguyên

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
MÔ HÌNH E-LOGISTICS VÀ GIẢI PHÁP CHO KHU VỰC TÂY NGUYÊN  
THE MODEL E-LOGISTICS AND THE SOLUTION IN CENTRAL HIGHLANDS  
ThS. Phan Thị Thanh Trúc  
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum  
Tóm tắt  
Bài viết tập trung vào việc hệ thống hóa đặc điểm, các yếu tố cấu thành cũng như quá trình vận hành  
mô hình e-logistics. Bên cạnh đó, thông qua các chỉ số thương mại điện tử có thể thấy hiện khu vực Tây Nguyên  
đang đối mặt với nhiều hạn chế như đội ngũ nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin thấp, các giao dịch  
giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với chính phủ còn rất  
thấp. Những mối liên kết lỏng này rất khó cho việc sử dụng và phát huy hết những lợi thế mà mô hình e-logistics  
mang lại. Do vậy, bài viết đề xuất các giải pháp như đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao  
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, chính phủ đóng vai trò hỗ trợ kết nối giữa các doanh nghiệp logistics và  
doanh nghiệp thương mại điện tử.  
Từ khóa: e-logistics; thương mại điện tử; Tây Nguyên.  
Abstract  
The paper focuses on systematizing the characteristics, components and operation of the model e-  
logistics. In addition, through e-commerce indicators, it can be seen that the Central Highlands region is  
currently facing many shortcomings such as low human resources and IT infrastructure, Consumers, businesses  
with businesses, businesses with government are very low. These loose links are very difficult to use and  
promote all the advantages that the e-logistics model brings. Therefore, the paper proposes solutions such as  
training and improving the quality of human resources, enhancing information technology infrastructure, the  
government plays the role of supporting the connection between logistics enterprises and enterprises  
ecommerce.  
Keywords: e-logistics; e-commerce; Central Highlands.  
1. Tính cấp thiết  
Trong bối cảnh cách mạng 4.0, những bứt phá trong lĩnh vực công nghệ giúp kết nối internet và  
các công cụ hiện đại đang thay đổi toàn bộ viễn cảnh của dịch vụ kho bãi và phân phối hàng hóa trên  
thế giới. Thương mại điện tử đang và sẽ là nhân tố dẫn dắt chính sự phát triển của logistics toàn cầu, và  
dự kiến đến năm 2020 thương mại điện tử chiếm 7,2-7,5% tổng doanh thu logistics thế giới (báo cáo  
của Armstrong and Associates (2017)). Trong khi đó, doanh thu thương mại điện tử năm 2016 của  
Việt Nam là 1 tỷ USD, trong đó doanh thu ngành giao nhận thương mại điện tử chiếm khoảng 10 -  
12%, dự báo tăng trưởng trung bình 23% năm 2020.  
Song song với quá trình phát triển thương mại điện tử (TMĐT), hoạt động e-logistics đang trở  
thành xu hướng phát triển có nhiều tiềm năng và hỗ trợ cho hoạt động thương mại tại Việt Nam.  
Ngành công nghiệp e-logistics đóng vai trò quan trọng bằng việc kết nối các tác nhân trong chuỗi như  
nhà sản xuất, người tiêu dùng, các nhà sản xuất và các nhà bán lẻ với nhau nhằm hướng tới lợi ích  
chung và cuối cùng tạo ra các giá trị gia tăng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.  
E- Logistics không những làm cho quá trình lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và  
an toàn, mà còn giảm được chi phí vận tải. Nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh  
chóng kịp thời. Người tiêu dùng sẽ mua được hàng hoá một cách thuận tiện, linh hoạt, thỏa mãn nhu cầu  
của mình. Người mua có thể chỉ cần ở tại nhà, đặt mua hàng bằng cách gọi điện thoại, gửi fax, gửi e-mail  
hoặc giao dịch qua Internet…. cho người bán hàng, thậm chí cho hãng sản xuất hàng hoá là có thể nhanh  
chóng nhận được thứ hàng cần mua, được vận chuyển đến tận nhà. Có hiệu quả đó chính là nhờ ứng  
894  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
dụng hệ thống Logistics vào sản xuất và lưu thông. Đặc biệt là hiệu quả của nó đối với các doanh nghiệp  
TMĐT, khi mà khách hàng và doanh nghiệp giao tiếp vớí nhau trong thế giới ảo thì việc tạo dựng uy tín  
và niềm tin cho khách hàng là rất khó khăn. Do vậy, E-logistics sẽ hỗ trợ tích cực cho các hoạt động của  
doanh nghiệp với mục tiêu cơ bản là giao đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng địa điểm và thời  
gian tới đúng khách hàng, giúp đạt được mục đích cuối cùng là lợi thế cạnh tranh.  
Bài viết này nhằm hệ thống lại đặc điểm, ưu thế mà mô hình e-logistics mang lại cho các doanh  
nghiệp trong quá trình lưu thông sản phẩm. Bên cạnh đó, bài viết cũng đánh giá thực trạng TMĐT trên  
khu vực Tây Nguyên, từ đó đề xuất kiến nghị giúp cải thiện hoạt động e-logistics trên địa bàn.  
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý luận về mô hình e-logistics  
Logistics thương mại điện tử (E-logistics) là quá trình hoạch định chiến lược, thiết kế và thực  
thi tất cả các yếu tố cần thiết của hệ thống, quy trình, cơ cấu tổ chức và tác nghiệp Logistics để hiện  
thực hóa và vật chất hóa cho hoạt động thương mại điện tử (Lục Thị Thu Hương, 2015).  
Theo Ryszard (2011) thì mô hình E-logistics có nghĩa là sử dụng các hệ thống, công cụ tin học  
và internet làm phương tiện truyền thông cho các quá trình dịch vụ hậu cần.  
Nhà cung cấp dịch  
Nhà cung cấp dịch  
Nhà cung cấp dịch  
vụ logistics  
vụ cụ thể khác  
vụ công nghệ  
Cổng thông  
tin internet  
Cổng thông  
Cổng thông  
tin internet  
tin internet  
Môi trường mạng internet  
Dịch vụ thông tin  
Công cụ truyền thông  
Cổng điện tử  
Các chương trình thông tin  
Dữ liệu kho hàng  
Nền tảng công nghệ  
Danh mục điện tử  
Cổng thông  
tin internet  
Cổng thông  
tin internet  
Hệ thống truyền  
thông trực tiếp và  
trao đổi dữ liệu  
Hệ thống truyền  
thông trực tiếp và  
trao đổi dữ liệu  
Công ty (hệ thống  
thông tin bên trong)  
Khách hàng  
Nhà cung cấp  
Hình 1: Môi trường của E-logistics  
Nguồn: Ryszard & Marcin (2011)  
895  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Các công cụ hợp tác thường được sử dụng nhất trong phạm vi ảo của E-logistics bao gồm:  
Cổng Internet, nền tảng điện tử, danh mục điện tử, kho dữ liệu, dịch vụ thông tin, hệ thống cung cấp và  
mua, hệ thống giao dịch, hệ thống và công cụ truyền thông, hệ thống phần mềm… Các công cụ này  
giúp hình thành nên môi trường của E-logistics, cụ thể như hình 1.  
Quá trình vận hành mô hình E-logistics có thể được vận hành bởi 3 bộ phận lớn:  
Hình 2. Mô hình quá trình vận hành E-logistics  
Nguồn: Lục Thị Thu Hương (2015)  
Trong đó, logistics đầu ra TMĐT (e-fulfilmente) gồm các hoạt động, chức năng và quá trình  
tích hợp hiệu quả nhằm đảm bảo quá trình cung ứng hàng hóa tới khách hàng từ khi nhận được đơn đặt  
hàng. Dòng thông tin sẽ được trao đổi giữa khách hàng và nhà cung ứng thông qua các đại lý bán lẻ.  
Dòng sản phẩm sẽ được chuyển từ nhà cung ứng đến trực tiếp khách hàng.  
Logistics đầu vào TMĐT (e-procurement): bao gồm quá trình mua hàng từ nhà cung ứng các  
vấn đề bao bì sản phẩm cũng như dự trữ bảo quản hàng hóa.  
Logistics ngược (reverse logistics): Hàng bị trả lại để đổi lấy hàng khác hoặc phải hoàn lại tiền  
là khá phổ biến trong TMĐT. Khi mà sản phẩm khách hàng lựa chọn chỉ được nhìn thấy trên mạng mà  
chưa được trực tiếp kiểm tra và cảm nhận bằng các giác quan khác.  
Để hệ thống E-logistics có thể vận hành được thì không chỉ đơn giản là cài đặt một số phần  
mềm vào hệ thống logistics truyền thống, mà đó là cả một quá trình thiết kế, sáng tạo và thực thi mô  
hình logistics kinh doanh mới. Xuất phát từ chiến lược kinh doanh trong môi trường TMĐT, doanh  
nghiệp cần phải đổi mới lại quy trình thực thi các nghiệp vụ logistics tích hợp yếu tố CNTT trong toàn  
bộ hệ thống và phải có được nguồn nhân sự đủ năng lực và năng động để vận hành và giám sát hệ  
thống đó.  
896  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Để giúp các doanh nghiệp gia tăng mối quan hệ hợp tác thương mại, mô hình e-logistics hỗ trợ  
như sau:  
Dịch vụ sau  
Quá trình vận  
chuy
ể
n  
Theo dõi  
Quá trình RFQ  
Quá trình E-logistics  
Cập Nhật PO  
Cập Nhật PO  
Cập Nhật PO  
Quản trị quá trình kinh doanh  
Hình 3: Quá trình tương tác trong mô hình E-logistics  
Nguồn: Pradeep Kumar,Tapas Mahapatra (2004)  
Quy trình RFQ để nhận các dịch vụ cơ bản như các quy trình hậu cần thông thường. Bất cứ khi  
nào có phản hồi, đơn đặt hàng (PO) sẽ được cập nhật. Quá trình vận chuyển cũng được người quản lý  
quy trình nghiệp vụ kiểm tra và cập nhật PO tương ứng sau khi hoàn thành. Cùng với việc vận chuyển  
hàng hóa, một số theo dõi sẽ được cung cấp cho khách hàng và được ràng buộc với số PO trong xử lý  
hệ thống TMĐT. Khách hàng có thể theo dõi lô hàng của họ với sự trợ giúp của hệ thống TMĐT của  
doanh nghiệp.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở các dữ liệu nghiên cứu (dữ liệu được thu thập từ những tài liệu có liên quan trực  
tiếp) và dữ liệu thứ cấp (dữ liệu đã được qua xử lý qua các công trình nghiên cứu, bài viết…), bài viết  
tổng hợp, so sánh và đánh giá và đưa ra những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến mô  
hình E-logistics. Thêm vào đó, bài viết sử dụng bộ dữ liệu của chỉ số TMĐT năm 2017 để đánh giá  
thực trạng phát triển TMĐT của các địa phương trong khu vực Tây Nguyên, kết hợp với cơ sở lý luận  
để đề xuất những kiến nghị cho khu vực Tây Nguyên phát triển lĩnh vực này trong thời gian tới.  
3. Thực trạng phát triển thương mại điện tử tại khu vực Tây Nguyên  
Theo Nguyễn Thủy (2018) thì hiện “doanh nghiệp logistics Việt Nam chủ yếu quy mô nhỏ và  
vừa, tính chuyên nghiệp chưa cao, đặc biệt là chưa liên kết chặt chẽ để phục vụ khách hàng, chỉ đáp  
ứng được các dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ, chưa tham gia  
điều hành cả chuỗi logistics như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Bên cạnh đó, dịch vụ hỗ  
trợ e-logistics thiếu, yếu tố công nghệ chưa được áp dụng, cho nên chi phí logistics tại Việt Nam chiếm  
tỷ lệ cao khoảng 30% doanh thu, cao hơn nhiều so với các nước như so với Ấn Độ chỉ chiếm 5%-15%  
(2017), Mỹ 11,7%, Trung Quốc 12%. Cũng theo Nguyễn Thủy (2018), nguyên nhân khiến cho doanh  
nghiệp thiếu hợp tác bởi sự thiếu niềm tin, sợ mất khách hàng, sợ đối tác phá bỏ cam kết…  
Kết quả đánh giá chỉ số TMĐT (2017) dựa vào các chỉ tiêu như chỉ số thành phần nguồn nhân  
lực và hạ tầng công nghệ thông tin, chỉ số giao dịch giữa B2B, B2C, G2B. Trong đó, chỉ số thành phần  
897  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thoogn tin được tính dựa trên tiêu chí như nguồn nhân lực hiện  
tại đáp ứng như thế nào nhu cầu triển khai CNTT và TMĐT của doanh nghiệp, khả năng tuyển dụng  
lao động có kỹ năng về CNTT và TMĐT, tỷ lệ cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT, tỷ lệ lao động  
thường xuyên sử dụng điện tử cũng như các tiêu chí về trang bị máy tính và đầu tư cho CNTT và  
TMĐT. Cụ thể nhóm tiêu chí: 1) tỷ lệ dân số/1 tên miền; 2) mức độ trang bị máy tính và các thiết bị di  
động thông minh; 3) tỷ lệ số lao động thƣờng xuyên sử dụng e-mail trong công việc; 4) tỷ lệ số lao  
động thƣờng xuyên sử dụng các công cụ nhƣ Viber, WhatsApp, Skype, Facebook Messenger… và 5)  
lao động chuyên trách về thương mại điện tử (Báo cáo chỉ số thương mại điện tử, 2017).  
Tại khu vực Tây Nguyên, tình hình nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng công nghệ như sau:  
Bảng 1: Chỉ số nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin khu vực Tây Nguyên  
Chỉ số nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin  
Tỉnh  
Kon Tum  
Điểm  
Thứ hạng  
15,5  
10  
19  
54  
44  
40  
13  
Gia Lai  
Đăk Lăk  
Đăk Nông  
Lâm Đồng  
11,9  
12,4  
16,6  
Nguồn: Chỉ số thương mại điện tử năm 2017  
Tỉnh cao nhất về chỉ số này là Hà Nội với 93,7 điểm, tiếp theo là Hồ Chí Minh đạt 85,5 điểm,  
khu vực Tây Nguyên rơi vào nhóm thấp nhất cả nước dưới trung bình 17,7 điểm. Điều này cho thấy  
khoảng cách rất lớn giữa các tỉnh so với 5 tỉnh đứng đầu là 52,1 điểm. Trong đó, Gia Lai là tỉnh có  
điểm thấp nhất 10 điểm, thứ hạng cuối cùng trong nhóm những tỉnh thành có điểm thấp.  
Đối với chỉ số thành phần giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C), năm 2016  
việc xét điểm cho chỉ số này dựa vào nhóm các tiêu chí: 1) xây dựng website doanh nghiệp; 2) tần  
suất cập nhật thông tin trên website; 3) ứng dụng bán hàng qua mạng xã hội; 4) tham gia các sàn giao  
dịch thương mại điện tử; 5) website phiên bản di động; 6) ứng dụng bán hàng trên thiết bị di động; 7)  
cho phép người mua thực hiện toàn bộ quá trình mua sắm trên thiết bị di động; 8) tình hình nhận đơn  
đặt hàng; 9) quảng cáo website/ứng dụng di động; 10) doanh thu từ kênh trực tuyến và 11) thu nhập  
bình quân trên đầu người (Báo cáo chỉ số thương mại điện tử, 2017). Khu vực Tây Nguyên đạt kết quả  
như sau:  
Bảng 2: Chỉ số giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng khu vực Tây Nguyên  
Chỉ số giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng  
Tỉnh  
Kon Tum  
Gia Lai  
Điểm  
26,8  
Thứ hạng  
52  
42  
19  
50  
49  
1
33  
Đăk Lăk  
41,1  
28  
Đăk Nông  
Lâm Đồng  
Hồ Chí minh  
30  
72,4  
Nguồn: Chỉ số thương mại điện tử năm 2017  
898  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Tỉnh Đăk Lăk đạt điểm cao nhất trong khu vực 41,1 điểm xếp hạng thứ 19, so với Hồ Chí Minh  
chênh lệch 31,3 điểm; tiếp đến là Gia Lai 33 điểm, Lâm Đồng 30 điểm, Đăk Nông 28 điểm và Kon  
Tum thấp nhất 26,8 điểm. Điều này cho thấy tỷ lệ giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng tại  
khu vực Tây Nguyên còn khá thấp.  
Theo đó, điểm số thành phần giao dịch B2B năm 2016 gồm các tiêu chí: 1) sử dụng các phần  
mềm trong doanh nghiệp; 2) sử dụng chữ ký điện tử; 3) sử dụng hợp đồng điện tử; 4) nhận đơn đặt  
hàng qua các công cụ trực tuyến; 5) đặt hàng qua các công cụ trực tuyến; 6) tỷ lệ đầu ư, xây dựng và  
vận hành website/ứng dụng di động của doanh nghiệp và 7) tỷ lệ trung bình số dân trên mỗi doanh  
nghiệp. Điểm trung bình của chỉ số giao dịch B2B trong cả nước là 24,2 điểm, trong đó điểm trung  
bình của nhóm 5 tỉnh thành cao nhất là 52,2 điểm và điểm trung bình của nhóm 5 tỉnh thành thấp nhất  
là 16,8 điểm. Điểm tại khu vực Tây Nguyên năm 2016 như sau:  
Bảng 3: Chỉ số giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp tại khu vực Tây Nguyên  
Chỉ số giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp  
Tỉnh  
Điểm  
20,6  
21  
Thứ hạng  
Kon Tum  
Gia Lai  
34  
31  
50  
36  
18  
1
Đăk Lăk  
16,2  
20,3  
24,2  
Đăk Nông  
Lâm Đồng  
Hồ Chí minh  
77  
Nguồn: Chỉ số thương mại điện tử năm 2017  
Các tỉnh đều có số điểm thấp hơn so với giá trị trung bình của cả nước, thấp nhất là Đăk Lawk  
16,2 điểm; tiếp theo là Đăk Nông 20,3 điểm; Kon Tum 20,6 điểm; Gia Lai 21 điểm và cao nhất là Lâm  
Đồng 24,2 điểm.  
Năm 2016 chỉ số giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp được tính toán dựa trên 4 tiêu chí:  
1) mức độ tra cứu thông tin trên website các cơ quan nhà nước của doanh nghiệp; 2) mức độ sử dụng  
dịch vụ công trực tuyến liên quan tới các thủ tục đăng ký, cấp phép, khai báo… được cung cấp trên  
website của các cơ quan nhà nước; 3) tỷ lệ sử dụng các loại dịch vụ công trực tuyến và 4) đánh giá của  
doanh nghiệp về lợi ích của dịch vụ công trực tuyến tại địa phương. Trong đó, Chỉ số giao dịch G2B  
năm 2016 có điểm trung bình là 62,9 điểm, trong đó thì điểm trung bình của nhóm 5 địa phương dẫn  
đầu là 76,2 điểm và điểm trung bình của nhóm 5 địa phương thấp nhất là 53,9 điểm. Kết quả chỉ số  
giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp tại Tây Nguyên như bảng.  
Bảng 4: Chỉ số giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp tại khu vực Tây Nguyên  
Chỉ số giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp  
Tỉnh  
Điểm  
53  
Thứ hạng  
Kon Tum  
Gia Lai  
44  
54  
7
45  
Đăk Lăk  
Đăk Nông  
Lâm Đồng  
73,5  
59,7  
60  
38  
36  
1
Đà Nẵng  
81  
Nguồn: Chỉ số thương mại điện tử năm 2017  
899  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Kết quả cho thấy việc giao dịch tại Tây Nguyên có tỉnh Đăk Lăk trong năm 2016 đạt điểm cao  
73,5 điểm, xếp thứ 7; tiếp theo là Lâm Đồng 60 điểm; Đăk Nông 59,7 điểm, Kon Tum 53 điểm và cuối  
cùng là Gia Lai 45 điểm, thứ 54 trong bảng xếp hạng.  
Như vậy, xét về chỉ số giao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp, thì Kon Tum và Gia Lai là 2  
địa phương thuộc top có điểm thấp nhất và thấp hơn giá trị trung bình của nhóm này.  
4. Kiến nghị  
Mối liên kết giữa doanh nghiệp TMĐT và doanh nghiệp logistics còn thấp, mô hình e-logicstics  
sẽ khó thực hiện được nếu các tác nhân trong chuỗi cung ứng không hợp tác, tin tưởng lẫn nhau. Bên  
cạnh đó, để thúc đẩy lĩnh vực e-logistics phát triển cần:  
Thứ nhất, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhóm nguồn nhân lực có  
thể sử dụng công nghệ thông tin.  
Thứ hai, nâng cao cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Bởi hiện cơ sở hạ tầng của công nghệ  
thông tin tại khu vực Tây Nguyên còn đang thấp, sẽ là rào cản cho việc sử dụng mô hình e-logistics.  
Thứ ba, liên kết doanh nghiệp lỏng lẻo bởi sự thiếu tin tưởng lẫn nhau trong các giao dịch, chỉ  
số giao dịch giữa các doanh nghiệp thấp, do vậy, việc sử dụng mô hình e-logistics phần nào giúp giải  
quyết vấn đề này.  
Thứ tư, chính phủ cũng cần tạo lập môi trường hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi hướng  
đến việc tạo các kết nối, tích hợp giữa doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp TMĐT, hoặc chính phủ  
có thể là đầu mối tổ chức các hội thảo, hội nghị chỉ rõ được lợi ích của việc ứng dụng e-logistics trong  
giao dịch.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam, năm 2017  
[2] Lục Thị Thu Hương, Bài giảng hậu cần thương mại điện tử, Trường đại học Thương mại, năm 2015  
[3] Mohamad Al Majzoub , Vida Davidavičienė, Multi- layered Model of E-logistic, Business and Management  
2018, 10th International Scientific Conference , May 3–4, 2018  
[4] Pradeep Kumar, Tapas Mahapatra, An E-Logistics Model for Effective Collaborative Commerce, The Fourth  
International Conference on Electronic Business (ICEB2004) / Beijing, page 24-28.  
[5] Ryszard, Marcin, Review of solutions functioning in E-logistics, Logistyka 2/2011, page 67-74.  
[6] Nguyễn Thủy, Logistics và thương mại điện tử: Giải pháp duy nhất là liên kết, Tạp chí tạp chí, năm 2018,  
nhat-la-lien-ket-139502.html  
[7] Phương Lan, Dịch vụ e-logistics là gì, triển vọng như thế nào, tại website https://baonghean.vn/dich-vu-  
elogistics-la-gi-trien-vong-nhu-the-nao-180707.html  
[8] Triển vọng phát triển e-logistics tại Việt Nam, tại website http://logistics.gov.vn/nghien-cuudao-tao/trien-  
vong-phat-trien-e-logistics-tai-viet-nam.  
900  
pdf 7 trang baolam 24380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình e-logistics và giải pháp cho khu vực Tây Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_e_logistics_va_giai_phap_cho_khu_vuc_tay_nguyen.pdf