Chủ nghĩa bảo hộ số và các rào cản đối với thương mại số và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới

CHỦ NGHĨA BẢO HỘ SỐ VÀ CÁC RÀO CẢN ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI SỐ  
VÀ DÒNG CHẢY DỮ LIỆU XUYÊN BIÊN GIỚI  
DIGITAL PROTECTIONISM AND BARRIERS TO DIGITAL COMMERCE  
AND CROSS-BORDER DATA FLOWS  
PGS,TS. Nguyễn Văn Minh  
Trường Đại học Thương mại  
Tóm tắt  
Số hóa tạo ra hàng hóa và dịch vụ số mới, giúp tăng cường các dòng chảy vật lý,  
cung cấp các nền tảng đóng vai trò trung gian cho sản xuất, trao đổi và tiêu thụ. Vai trò  
của thương mại điện tử (thương mại số) và các dòng dữ liệu xuyên biên giới ngày càng trở  
nên quan trọng hơn trong các nền kinh tế quốc gia cũng như toàn cầu. Trong những năm  
gần đây, chủ nghĩa bảo hộ số, với nhiều lý do khác nhau, đã xuất hiện và tăng cường ở  
nhiều quốc gia trên thế giới. So sánh với chủ nghĩa bảo hộ truyền thống, chủ nghĩa bảo hộ  
số có những đặc điểm khác biệt. Cách tiếp cận của các quốc gia khác nhau đối với chủ  
nghĩa bảo hộ số cũng khác nhau. Các biện pháp bảo hộ số đã cản trở dòng chảy dữ liệu và  
thương mại số xuyên biên giới. Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là WTO, cần có những hoạt  
động hướng tới giảm thiểu chủ nghĩa bảo hộ số và tác động tiêu cực của nó đối với thương  
mại số và dòng chảy dữ liệu.  
Từ khóa: thương mại số, dòng chảy dữ liệu, chủ nghĩa bảo hộ số, rào cản.  
Abstract  
Digitization creates new digital goods and services, enhances physical flows,  
provides platforms that act as intermediaries for production, trade and consumption. The  
role of e-commerce (digital commerce) and cross-border data flows is becoming more and  
more important in both national and global economies. In recent years, digital  
protectionism, for a variety of reasons, has emerged and intensified in many countries  
around the world. Compared to traditional protectionism, digital protectionism has  
different characteristics. Different countries' approaches to digital protectionism also  
differ. Digital protection measures have impeded the flow of data and across borders  
digital commerce. International organizations, especially the WTO, need to take action  
towards reducing digital protectionism and its negative impact on digital trade and data  
flows.  
Keywords: digital commerce, data flow, digital protectionism, barrier.  
1. Đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu  
Cuộc cách mạng kỹ thuật số dựa trên Internet đang tạo ra sự thay đổi cơ bản cho  
nền kinh tế toàn cầu, không chỉ dẫn đến các phương thức truyền thông và chia sẻ thông tin  
mới, mô hình kinh doanh mới và các nguồn tăng trưởng công việc mới, mà còn đặt ra các  
câu hỏi và yêu cầu hoạch định các chính sách mới. Toàn cầu hóa đã bước vào một kỷ  
239  
nguyên mới được xác định bởi các luồng dữ liệu truyền tải thông tin, ý tưởng và sáng tạo  
đổi mới.  
Với sự ra đời của Công nghiệp 4.0 và những tiến bộ công nghệ đi kèm, phạm vi của  
thương mại số đang mở rộng nhanh hơn nhiều so với những gì mọi người có thể tưởng  
tượng hai thập kỷ trước. Thương mại số đang phát triển đi kèm với giao dịch truyền tải  
điện tử đang phát triển nhanh chóng, đó là phân phối hàng hóa trực tuyến, ví dụ âm nhạc,  
sách điện tử, phim, phần mềm và trò chơi video.  
Phát triển số hóa sẽ thúc đẩy thương mại số hơn nữa vì tài nguyên cốt lõi của nền  
kinh tế số như dữ liệu, phần mềm và các tệp hỗ trợ máy tính (CAD) được sử dụng trong in  
3D, dữ liệu liên quan tới robotics, trí tuệ nhân tạo, Internet of things, v.v. cần được truyền  
tải bằng điện tử.  
Bên cạnh quá trình phát triển mạnh mẽ công nghệ số, kinh tế số và thương mại số,  
xuất hiện xu hướng ngược lại, có tác động cản trở quá trình trên - chủ nghĩa bảo hộ số.  
Các vấn đề liên quan đến chủ nghĩa bảo hộ số đã bước đầu được quan tâm nghiên  
cứu trên thế giới. Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có một nghiên cứu nào về chủ nghĩa bảo hộ  
số được công bố ở Việt Nam. Trong khi chưa có được một nghiên cứu sâu rộng và chi tiết  
về vấn đề này, bài viết cố gắng đưa ra một số phác họa ban đầu về chủ nghĩa bảo hộ số và  
tác động của nó tới thương mại số và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới trên cơ sở phân  
tích các tài liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau: sách xuất bản và các bài viết đăng  
trên các tạp chí, trên Internet.  
2. Thương mại số và chủ nghĩa bảo hộ số trong thương mại quốc tế  
2.1. Số hóa, thương mại số và phát triển kinh tế  
Số hóa (Digitization, digitalization) là quá trình chuyển đổi thông tin thành định  
dạng số (nghĩa là máy tính có thể đọc được), trong đó thông tin được tổ chức thành các bit.  
Công nghệ số (Digital technology) bao gồm tất cả các loại thiết bị điện tử và ứng  
dụng sử dụng thông tin dưới dạng mã số.  
Dòng dữ liệu (data flow) là dòng chuyển động của dữ liệu tử bộ phận này đến một  
bộ phận khác trong một máy tính, từ ứng dụng này ứng dụng khác, từ máy tính này tới máy  
tính khác và từ hệ thống thông tin này tới tới hệ thống thông tin khác.  
Thương mại số (Digital Commerce) là hệ quả của quá trình số hóa. Thương mại số  
(hay thương mại điện tử) đề cập đến việc sử dụng Internet và mạng nội bộ để mua, bán,  
vận chuyển hoặc trao đổi dữ liệu, hàng hóa hoặc dịch vụ [8].  
Nếu các doanh nghiệp, các máy tính/hệ thống thông tin thực hiện các giao dịch  
thương mại số và trao đổi thông tin/dữ liệu với nhau nằm ở các quốc gia khác nhau, chúng  
ta có thương mại số và dòng dữ liệu xuyên biên giới.  
Sự phát triển của công nghệ số trong mấy thập kỷ gần đây dẫn tới quá trình số hóa  
các dòng chảy thương mại, đặc biệt là các dòng chảy thương mại xuyên biên giới.  
Việc số hóa ngày càng tăng ảnh hưởng đến các luồng tài chính và dữ liệu, cũng như  
sự chuyển động của con người và hàng hóa. McKinsey mô tả ba cách chính mà công nghệ  
số ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại toàn cầu [6]:  
240  
1. Số hóa tạo ra hàng hóa và dịch vụ số mới. Công nghệ số cho phép sự đổi mới.  
Bằng cách chuyển đổi và thay thế hàng hóa và dịch vụ truyền thống hoặc nhu cầu đi lại của  
mọi người, các sản phẩm mới được hình thành (ví dụ: sách điện tử, văn phòng từ xa hoặc  
ảo để hợp tác, điện thoại, đào tạo hoặc ngân hàng trực tuyến...).  
2. Số hóa giúp tăng cường các dòng chảy vật lý, gia tăng giá trị bằng cách tăng  
năng suất và/hoặc giảm chi phí và các rào cản liên quan đến dòng hàng hóa và dịch vụ  
truyền thống (ví dụ: thẻ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) theo dõi chuỗi cung ứng, tệp dữ  
liệu được sử dụng trong in 3-D, ô tô tự lái, Internet vạn vật).  
3. Số hóa cung cấp các nền tảng đóng vai trò trung gian cho sản xuất, trao đổi và  
tiêu thụ. Nền tảng trung gian không chỉ bao gồm những nền tảng được sử dụng trong  
thương mại số, mà còn cho phương tiện truyền thông xã hội, tài trợ đám đông (crowd  
funding), điện toán đám mây, công cụ tìm kiếm, phân tích dữ liệu lớn, dịch vụ chia sẻ (ví  
dụ: chia sẻ xe hơi hoặc chỗ ở như Uber hoặc Airbnb) và các ứng dụng trên điện thoại di  
động, hoặc các ứng dụng nói chung.  
Số hóa, thương mại số có tác động mạnh mẽ tới phát triển kinh tế.  
Ngân hàng Thế giới xác định ba nhóm lợi ích có được từ việc sử dụng các công  
nghệ số [9]: (1) Tăng cường sự tham gia, kết nối thông qua tăng khả năng tiếp cận; (2)  
Tăng hiệu quả thông qua tự động hóa và phối hợp; và (3) Thúc đẩy ra đời các doanh  
nghiệp dựa trên đổi mới. Các lợi ích này được mang đến cho cả các doanh nghiệp, cá nhân  
và chính phủ. Các công ty sử dụng mạnh mẽ Internet cho thấy năng suất cao hơn và có xu  
hướng mở rộng quy mô, phát triển nhanh hơn, nhiều kỹ năng hơn và xuất khẩu mạnh hơn.  
Việc tăng sử dụng Internet cũng liên quan đến sự gia tăng số lượng và giá trị của các sản  
phẩm được giao dịch.  
Nhìn vào thương mại số trong bối cảnh quốc tế, thương mại số xuyên biên giới toàn  
cầu (không bao gồm bán hàng trong nước) ước tính chiếm 10% đến 15% tổng doanh thu  
thương mại số trong năm 2014. Trong cùng năm đó, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 399,7 tỷ USD  
dịch vụ số và nhập 240,8 tỷ USD, tạo ra thặng dư 158,9 tỷ USD. Các dịch vụ được cung  
cấp qua kỹ thuật số chiếm hơn một nửa tổng số dịch vụ thương mại của Hoa Kỳ, theo Bộ  
Thương mại Hoa Kỳ (Department of Commerce Economics and Statistics Administration)  
[2]. Các ước tính khác cho thấy, nếu không có Internet, chi phí xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ  
sẽ cao hơn trung bình 26%. Ngoài ra còn có các lợi ích bổ sung từ số hóa đối với hiệu quả  
và năng suất kinh doanh, tăng khả năng tiếp cận khách hàng và thị trường, cho phép khối  
lượng thương mại quốc tế lớn hơn.  
Các nền tảng số có thể giảm thiểu chi phí và cho phép các doanh nghiệp nhỏ và  
vừa (DNNVV) phát triển thông qua mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường hoặc tích hợp vào  
chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, nhiều công ty có thể tiến hành kinh doanh trên thị trường  
toàn cầu, trong khi số hóa các cơ chế kiểm soát hải quan và biên giới giúp đơn giản hóa và  
tăng tốc độ giao hàng cho khách hàng.  
Một nghiên cứu khác về các doanh nghiệp nhỏ và vừa ước tính rằng Internet là một công  
cụ tạo việc làm ròng, với 2,6 việc làm được tạo ra cho mỗi công việc có thể bị thay thế bởi công  
nghệ Internet; các công ty sử dụng Internet trung bình tăng gấp đôi số lượng công việc. [4]  
241  
2.2. Chủ nghĩa bảo hộ kỹ thuật số và các đặc điểm của nó  
Cho đến nay trong giới học thuật chưa có một định nghĩa đầy đủ và thống nhất về  
chủ nghĩa bảo hộ số. Để hiểu rõ về chủ nghĩa bảo hộ số, trước tiên chúng ta cần hiểu ý  
nghĩa của chủ nghĩa bảo hộ. Theo Văn phòng Đại diện Thương mại Đặc biệt Hoa Kỳ [5],  
chủ nghĩa bảo hộ là việc thiết lập các rào cản thương mại đủ cao để không khuyến khích  
nhập khẩu hoặc tăng giá đủ để cho phép các nhà sản xuất trong nước tương đối kém hiệu  
quả cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Theo quan điểm này, các nhà hoạch  
định chính sách sử dụng các biện pháp bảo hộ để giảm nguồn cung và/hoặc tăng chi phí  
đối với hàng hóa hoặc dịch vụ nhập khẩu. Các biện pháp bảo hộ làm thay đổi điều kiện thị  
trường và làm méo mó thương mại theo cách có lợi cho các nhà sản xuất trong nước hơn  
các đối thủ nước ngoài.  
Tuy nhiên, định nghĩa nói trên đã phần nào lỗi thời, vì hiện nay chủ nghĩa bảo hộ ở tất  
cả các quốc gia phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm tình trạng của nền kinh tế, tương  
quan lực lượng giũa các nhóm lợi ích ủng hộ các chính sách thương mại tự do hay bảo hộ,  
nhận thức cộng đồng về thương mại và sức mạnh hoặc điểm yếu của các ý tưởng bảo hộ.  
Trong nhiều thế kỷ, các nhà hoạch định chính sách đã sử dụng các thỏa thuận  
thương mại để thiết lập khuôn khổ luật pháp trong thương mại bằng cách bắt buộc các bên  
ký kết cấm một số loại thực tiễn bảo hộ.  
Nhưng các nhà hoạch định chính sách từ lâu cũng đã nhận ra rằng có những chính  
sách không nhằm mục đích bảo hộ nhưng dẫn tới hiệu ứng làm méo mó thương mại. Vì lý  
do này, các thỏa thuận thương mại thường bao gồm các “ngoại lệ”, cho phép các chính phủ  
vi phạm các quy tắc để đạt được các mục tiêu chính sách quan trọng khác. Ví dụ, nhiều  
chính phủ áp dụng các quy định an toàn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng khỏi bị tổn  
hại, mặc dù các biện pháp này có thể làm méo mó thương mại. Các quy định này có thể có  
hiệu ứng bảo hộ, nhưng chúng có thể không có ý định bảo hộ.  
Chủ nghĩa bảo hộ số về bản chất cũng giống như chủ nghĩa bảo hộ truyền thống  
trong thương mại quốc tế. Các nhà hoạch định chính sách ở quốc gia A có thể sử dụng các  
biện pháp biên giới hoặc chính sách trong nước như quy định hoặc trợ cấp để ưu tiên các  
nhà cung cấp dữ liệu trong nước hoặc thay đổi điều kiện thị trường ở quốc gia A. Nhưng  
chủ nghĩa bảo hộ trong dịch vụ nói chung, dịch vụ số nói riêng, khác với chủ nghĩa bảo hộ  
trong hàng hóa, vì đối tượng của các quy định trong thương mại dịch vụ số là nhà sản  
xuất/nhà cung ứng dịch vụ, thay vì là sản phẩm trong thương mại truyền thống.  
Có năm đặc điểm làm chủ nghĩa bảo hộ số khác với chủ nghĩa bảo hộ truyền thống:  
Thứ nhất, nhiều dịch vụ dựa vào quyền tiếp cận tới các luồng dữ liệu xuyên biên  
giới. Các luồng dữ liệu này có thể liên quan đến hàng hóa, dịch vụ hoặc cả hai. Hoa Kỳ và  
OECD coi các bộ phim hoặc âm nhạc được tải xuống là hàng hóa. Khác với hàng hóa vật  
lý, nhiều người dùng mạng có thể giao dịch hàng hóa số đó cùng một lúc. Hơn nữa, thương  
mại dịch vụ số khác với thương mại các dịch vụ khác vì nhà cung cấp và người tiêu dùng  
không cần phải ở cùng một địa điểm thực để giao dịch xảy ra. Với các thuộc tính này, các  
nhà nghiên cứu khó có thể xác định chính xác những gì một chính phủ muốn bảo hộ và liệu  
một chính phủ có hành động với mục đích bảo hộ hay không.  
242  
Thứ hai, thương mại dữ liệu khó nắm bắt và thường xuyên xẩy ra, và khó xác định vị  
trí trên mạng thông tin phi biên giới. Giao dịch trong cùng một bộ dữ liệu có thể xảy ra lặp  
lại trong vài nano giây (ví dụ: khi hàng triệu người cùng tải xuống bài hát). Các nhà nghiên  
cứu và hoạch định chính sách có thể khó xác định thế nào là nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Họ  
cũng cố gắng xác định liệu dữ liệu có thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật trong nước  
hay không (ví dụ pháp luật về sở hữu trí tuệ) và loại thực thi xuyên biên giới nào là phù hợp.  
Các nhà hoạch định chính sách không thể dễ dàng xác định quyền tài phán, bởi vì dữ liệu có  
thể được chuyển qua máy chủ ở nước này đến khu vực tài phán thuộc nước khác. Do đó, các  
luồng dữ liệu có thể đi qua một số nước trước khi các luồng này đến đích.  
Thứ ba, các nhà kinh tế thường đồng ý rằng nhiều loại dữ liệu là hàng hóa công  
cộng, mà chính phủ nên cung cấp và điều tiết một cách hiệu quả. Hơn nữa, khi các quốc  
gia hạn chế luồng dữ liệu tự do, họ sẽ giảm quyền tiếp cận thông tin (trong đó có nhiều  
thông tin khoa học, kinh tế, quản lý...), do đó có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế, năng  
suất và đổi mới trong nước và toàn cầu. Chúng cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng của  
Internet. Do đó, nếu các nhà hoạch định chính sách hạn chế các luồng dữ liệu xuyên biên  
giới, họ có thể tạo ra nhiều hậu quả không lường trước được.  
Thứ tư, mặc dù thương mại dữ liệu xảy ra trên một nền tảng chung (Internet), các  
công ty, người dùng và chính phủ không phải ai cũng có trách nhiệm như nhau đối với sự  
ổn định của nó. Các tập đoàn điều hành phần lớn Internet, nhưng họ không thể phản ứng  
với, hoặc nhìn thấy nhiều mối đe dọa. Trong khi đó, nhiều công ty về cơ bản là các công ty  
thu thập và bán dữ liệu, họ cung cấp dịch vụ miễn phí cho người dùng mạng để đổi lấy  
việc họ sử dụng dữ liệu cá nhân của người dùng mạng (ví dụ: dịch vụ tìm kiếm của  
Google, dịch vụ mạng xã hội của Facebook...). Trong mô hình này, các cá nhân không hiểu  
hoặc không nhận ra trách nhiệm của họ đối với an ninh và ổn định Internet. Nhận biết được  
vấn đề nan giải chung này, các chính phủ phát triển các quy định riêng để bảo vệ sự an  
toàn và an ninh của người dùng mạng. Một số chính sách có thể, một cách không chủ định,  
làm méo mó thương mại đối với các luồng dữ liệu xuyên biên giới.  
Thứ năm, trái ngược với những nỗ lực của các chính phủ xác định các quy định hợp  
pháp cho thương mại số, không có mô hình rõ ràng nào mà các nhà hoạch định chính sách  
có thể sử dụng để phân biệt giữa quy định luồng dữ liệu hợp pháp hay làm méo mó thương  
mại. Nhiều tổ chức quốc tế kêu gọi nỗ lực nhiều hơn để tìm ra cơ sở cho các quy định phi  
thương mại được thiết kế để bảo vệ quyền riêng tư và bảo mật. Các quy định trong nước  
cho phép các quốc gia kiểm duyệt hoặc lọc Internet, hoặc sử dụng các cuộc tấn công DDoS  
có thể ảnh hưởng không chỉ đến tiếp cận thị trường ở một hoặc nhiều quốc gia, mà cả sự  
ổn định của nền tảng Internet.  
3. Các rào cản đối với thương mại số và dòng dữ liệu xuyên biên giới  
3.1. Các loại rào cản đối với thương mại số và dòng dữ liệu xuyên biên giới  
Để hiểu sâu và chi tiết chủ nghĩa bảo hộ số, dưới đây mô tả và phân tích các rào cản  
đối với thương mại số và dòng dữ liệu xuyên biên giới.  
Có nhiều loại biện pháp điều tiết và chính sách đóng vai trò cản trở thương mại số  
toàn cầu. Các biện pháp này có thể được phân loại thành hai nhóm: (1) Các biện pháp kỹ  
243  
thuật số đặc thù, và (2) Các biện pháp truyền thống ảnh hưởng đến các nhà cung cấp hàng  
hóa và dịch vụ số.  
Các biện pháp kỹ thuật số đặc thù bao gồm: Các biện pháp dữ liệu, các biện pháp  
an ninh mạng công cộng và riêng tư, kiểm duyệt, và quyền sở hữu trí tuệ. Các biện pháp  
truyền thống bao gồm: các biện pháp đầu tư và các biện pháp tiếp cận thị trường.  
Các biện pháp dữ liệu  
- Các biện pháp bảo vệ và bảo mật dữ liệu  
Các biện pháp chính sách và quy định tập trung vào bảo vệ dữ liệu và quyền riêng  
tư ảnh hưởng đến tất cả các ngành công nghiệp. Những biện pháp này có thể hạn chế  
thương mại số toàn cầu do chi phí hành chính của các công ty tăng lên liên quan đến việc  
tuân thủ các biện pháp và tiêu chuẩn an ninh nghiêm ngặt vốn dĩ không giống nhau ở các  
quốc gia khác nhau.  
- Nội địa hóa dữ liệu  
Tất cả các doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào các luồng dữ liệu, với một nửa  
toàn bộ thương mại dịch vụ toàn cầu hiện nay tùy thuộc vào quyền truy cập vào các luồng  
dữ liệu xuyên biên giới. Đáp lại, số lượng các biện pháp nội địa hóa dữ liệu đã tăng lên  
đáng kể trong những năm gần đây. Các biện pháp nội địa hóa dữ liệu giới hạn hoặc cấm  
chuyển dữ liệu truyền qua biên giới quốc gia.  
Nhiều doanh nghiệp bày tỏ quan ngại về các biện pháp nội địa hóa dữ liệu. Trong  
một số trường hợp, các biện pháp như vậy khiến một số công ty rút khỏi một số thị trường  
nhất định. Ví dụ, năm 2016, công ty thanh toán trực tuyến PayPal đã đình chỉ hoạt động tại  
Thổ Nhĩ Kỳ để đáp lại yêu cầu PayPal phải nội địa hóa hoàn toàn hệ thống thông tin của  
mình trong lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Các yêu cầu nội địa hóa đó có thể đe dọa những tiến bộ  
mới trong công nghệ thông tin, không chỉ điện toán đám mây, mà cả lĩnh vực phân tích dữ  
liệu và Internet vạn vật (IoT). Khi không có các biện pháp nội địa hóa dữ liệu, dữ liệu  
Internet được chuyển qua mạng của các công ty thông qua các quyết định được thực hiện  
tự động, các bộ định tuyến (routers) chọn đường dẫn chủ yếu dựa trên hiệu quả và không  
dựa trên ranh giới quốc gia. Nội địa hóa dữ liệu làm thay đổi đáng kể kiến trúc cơ bản này  
của Internet.  
Các biện pháp nội địa hóa dữ liệu khác nhau giữa các quốc gia phụ thuộc vào các  
yếu tố về độ bao phủ của ngành, về địa lý, về các loại dữ liệu, về độ phức tạp, cường độ dữ  
liệu và tác động kinh tế và một số yếu tố khác.  
Các biện pháp an ninh mạng công cộng và riêng tư  
- Các yêu cầu về tiết lộ mã nguồn  
Một số quốc gia yêu cầu tiết lộ mã nguồn để đảm bảo rằng các sản phẩm hoặc dịch  
vụ số nhập khẩu không gây ra mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hoặc an ninh mạng. Các  
doanh nghiệp Hoa Kỳ coi mã nguồn là thông tin độc quyền có giá trị (bí mật thương mại)  
và tuyên bố rằng các yêu cầu công bố mã nguồn có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương do  
trộm cắp bí mật và vi phạm bản quyền.  
Brazil, Trung Quốc và Indonesia đã thực hiện đưa ra các yêu cầu đối với các công  
ty nước ngoài phải tiết lộ mã nguồn số (như mã cơ bản của phần mềm kinh doanh hoặc  
244  
ứng dụng điện thoại thông minh) là điều kiện tiên quyết để hoạt động ở các quốc gia đó.  
Những rủi ro gia tăng từ các quy định này có thể dẫn tới một số nhà cung cấp dịch vụ số  
rút ra khỏi một số thị trường nhất định, hoặc buộc các công ty cung cấp các sản phẩm  
kém chất lượng hoặc các sản phẩm hoàn toàn mã nguồn mở để giảm rủi ro trộm cắp tài  
sản trí tuệ.  
- Hạn chế về mật mã  
Mật mã học là một phương pháp dựa trên toán học cho phép thông tin nhạy cảm  
được truyền một cách an toàn và riêng tư. Các quy định hạn chế sử dụng mật mã khiến các  
công ty không sử dụng các phương pháp nhất định để bảo mật sản phẩm của họ hoặc yêu  
cầu các công ty sử dụng các tiêu chuẩn mật mã được phát triển ở thị trường nội địa của  
quốc gia áp đặt các quy định. Các quy định như vậy thường được đề xuất và ban hành vì lý  
do an ninh mạng hoặc an ninh quốc gia. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng các hạn chế về  
mật mã thực sự có thể làm tăng nguy cơ bị tấn công mạng, bảo mật và quyền riêng tư đối  
với hầu hết các dịch vụ số, bao gồm xử lý dữ liệu dựa trên đám mây, IoT, truyền thông,  
truyền tải nội dung và thương mại điện tử. Ngoài ra, các hạn chế về mật mã thường buộc  
các công ty sử dụng các tiêu chuẩn mật mã lỗi thời có thể làm tổn hại đến bảo mật dữ liệu  
và tăng thêm chi phí tuân thủ. Hạn chế về mật mã có thể cản trở dòng chảy xuyên biên giới  
của cả dữ liệu được mã hóa và hàng hóa vật lý hỗ trợ mã hóa.  
Các biện pháp kiểm duyệt  
Việc một số chính phủ thực hiện việc chặn hoặc lọc hoàn toàn đối với các nền tảng  
Internet và nội dung là biện pháp trực tiếp nhất cản trở thương mại số đối với nhiều công  
ty, đặc biệt là các công ty Hoa Kỳ. Các trường hợp bị gián đoạn do chính phủ ủy quyền đối  
với các mạng số hoặc các ứng dụng hoặc dịch vụ số cụ thể thường được giải thích với lý  
do duy trì trật tự công cộng, đảm bảo an ninh quốc gia hoặc bảo vệ các doanh nghiệp địa  
phương đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Thông thường, các quốc gia phát triển  
không chặn hoặc lọc nội dung, hoặc ứng dụng Internet. Tuy vậy, có một số trường hợp  
ngoại lệ. Ví dụ: một số quốc gia châu Âu, bao gồm Pháp, Ý và Anh đã chặn các website  
quảng cáo khủng bố hoặc chứa một số loại nội dung chỉ dành cho người lớn. Nhìn chung,  
việc chặn một số loại nội dung nhất định được chấp nhận theo một số hiệp định thương  
mại quốc tế. Ví dụ, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO cho phép  
các quốc gia duy trì miễn trừ một số nghĩa vụ nhằm bảo vệ đạo đức công cộng hoặc duy trì  
trật tự công cộng, bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe của con người, động vật hoặc thực vật,  
để đảm bảo tuân thủ luật pháp, bao gồm các biện pháp ngăn chặn các hành vi lừa đảo hoặc  
gian lận. Tuy nhiên, các sự cố kiểm duyệt nằm ngoài các ngoại lệ này ngày càng trở nên  
phổ biến.  
Quyền sở hữu trí tuệ  
Sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ (IPRs) chủ yếu ảnh hưởng đến thương mại số liên  
quan đến nội dung số và thương mại điện tử. Trong một số trường hợp, các quốc gia áp đặt  
nghĩa vụ trách nhiệm đối với các trung gian Internet, như các nhà cung cấp dịch vụ Internet  
(ISPs) và thực thi luật bản quyền phụ trợ. Điều này dẫn đến tăng chi phí đối với các công  
ty nước ngoài hoạt động ở thị trường quốc gia đó.  
245  
- Vi phạm bản quyền kỹ thuật số  
Để giải quyết vấn đề vi phạm bản quyền số, một quốc gia cần có đồng thời khung  
pháp lý mạnh mẽ và khả năng thực thi hiệu quả. Khi mức độ thâm nhập Internet gia tăng ở  
cả các nước phát triển và đang phát triển, sự vi phạm bản quyền số cũng đã tăng nhanh  
trong số người dùng Internet. Theo Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ (MPAA), vi phạm bản  
quyền trực tuyến là mối đe dọa đáng kể nhất đối với công nghiệp điện ảnh nói chung và  
xuất khẩu phim ảnh nói riêng của Hoa Kỳ [11]. Vi phạm bản quyền số đối với phim ảnh  
tạo nên chi phí cao nhất trong tất cả các loại vi phạm sở hữu trí tuệ, ước tính số tiền phải  
trả là 160 tỷ đô la trong năm 2015. Ngành công nghiệp âm nhạc cũng tiếp tục phải chịu  
một vấn đề lớn về xói mòn doanh thu do vi phạm bản quyền số.  
- Trách nhiệm của các trung gian Internet đối với các vi phạm bản quyền  
Hầu hết các quốc gia đều có các quy định về “thông báo và gỡ xuống” trong luật  
bảo vệ bản quyền trong nước hoặc các quy định thực thi có khả năng giữ các trung gian  
Internet chịu trách nhiệm về vi phạm bản quyền nếu họ tiếp tục hiển thị nội dung sau khi  
có thông báo từ chủ bản quyền. Các luật này đặt trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ  
lên các bên trung gian hiển thị nội dung vi phạm bản quyền trên website của họ. Đồng thời,  
các luật đó nói chung cũng bao gồm các điều khoản “bến cảng an toàn” giới hạn trách  
nhiệm pháp lý đó nếu như các hoạt động “thông báo và gỡ xuống” được thực hiện trơn tru.  
Để giảm thiểu trách nhiệm pháp lý và giữ chi phí hành chính ở mức thấp, hầu hết  
các trung gian đều hành động một cách tự động theo thông báo, mà không quan tâm điều  
tra xem khiếu nại có hợp pháp hay không. Do gánh nặng chi phí tiềm tàng, các trung gian  
ngại chịu trách nhiệm rộng hơn trong việc giải quyết nội dung vi phạm bản quyền, chẳng  
hạn như tìm kiếm và xóa các bản sao tài liệu vi phạm trên nền tảng của họ hoặc chặn việc  
đăng các bản sao mới trong tương lai. Tuy nhiên, đại diện của ngành công nghiệp nội dung  
cho rằng nếu trách nhiệm của người trung gian được xác định hẹp sẽ khuyến khích vi phạm  
bản quyền nội dung trực tuyến.  
- Luật bản quyền phụ trợ  
Luật bản quyền phụ trợ (còn được gọi là các quyền lân cận) trao các quyền tương tự  
như bản quyền cho các nhà xuất bản và nhà sản xuất (ví dụ: các tổ chức phát thanh truyền  
hình, nhà sản xuất phim và âm nhạc hoặc người biểu diễn), những người có các quyền được  
chuyển nhượng hoặc cấp phép từ những người sáng tạo ra tác phẩm. EU đã đi đầu trong việc  
phát triển và thực thi luật bản quyền phụ trợ dành riêng cho các nhà xuất bản báo chí.  
Luật bản quyền phụ trợ đã được sử dụng ở Đức và Tây Ban Nha để đáp lại các yêu  
cầu thù lao (thanh toán cho nhà xuất bản các bài báo gốc) trên các công cụ tìm kiếm và nền  
tảng trực tuyến cung cấp các đoạn bản tin ngắn, bao gồm các tiêu đề và trích dẫn, cho công  
chúng. Tuy nhiên, các công cụ tìm kiếm và các nền tảng trực tuyến khác xem các khoản  
thanh toán này cho các nhà xuất bản như một biện pháp cản trở thương mại vì họ phải trả  
tiền cho các đoạn văn bản tin tức.  
Các biện pháp tiếp cận thị trường  
Cùng với sự phát triển của thương mại số, người ta nhận thấy sự gia tăng các ràng  
buộc mà các nhà xuất khẩu có thể phải đối mặt. Mặc dù các sản phẩm số đi qua biên giới  
246  
một cách vô hình, những hạn chế này đóng vai trò cản trở việc giao hàng hóa vật lý được  
đặt hàng thông qua thương mại điện tử. Môi trường pháp lý bao gồm một số quy định và  
biện pháp chính sách có liên quan có thể ảnh hưởng đến thương mại số theo một số cách.  
Mức độ phổ biến nhất của các trở ngại này là ngưỡng tối thiểu thấp và các hạn chế đối với  
hệ thống thanh toán điện tử. Các quy định áp đặt các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể đối với các  
sản phẩm phần cứng và phần mềm cũng có thể đóng vai trò cản trở xuất khẩu hàng hóa và  
dịch vụ.  
Các quy tắc mua sắm của chính phủ ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước cũng  
có thể đóng vai trò cản trở xuất khẩu của các quốc gia khác.  
- Ngưỡng giá trị tối thiểu  
Trong thương mại điện tử, các doanh nghiệp thường xuyên quan tâm tới vấn đề  
ngưỡng giá trị thấp đối với lô hàng hóa bị đánh thuế quan nhập khẩu. Quy định về ngưỡng  
giá trị tối thiểu yêu cầu các nhà xuất khẩu thực hiện đơn đặt hàng quốc tế phải đảm bảo  
thanh toán thuế và phải hoàn thành các thủ tục giấy tờ hải quan liên quan nếu giá trị lô  
hàng vượt quá một ngưỡng giá trị nhất định. Nếu ngưỡng được đặt ở mức thấp, các yêu  
cầu này trở nên đặc biệt nặng nề đối với các nhà xuất khẩu nhỏ tham gia vào thương mại  
điện tử thông qua các thị trường trực tuyến như eBay và Etsy. Các nhà xuất khẩu như vậy  
thường không có nhân viên chuyên chịu trách nhiệm đảm bảo tuân thủ các quy định hải  
quan. Do đó, nhân viên tại các công ty này có thể dành tới 50% thời gian để xử lý các  
nhiệm vụ hành chính thay vì các nhiệm vụ khác.  
Gánh nặng này trở nên nghiêm trọng hơn do sự thiếu minh bạch từ nhiều cơ quan  
hải quan về quy trình tuân thủ. Có thể không rõ là phải điền vào mẫu nào, làm thế nào để  
điền đúng và các mẫu có thể khác nhau tùy vào điểm đến. Nếu người bán mắc lỗi, lô hàng  
của họ có thể bị giữ lại. Đối với người bán nhỏ, điều này có thể dẫn đến việc mất hàng  
ngàn đô la doanh thu. Họ cũng có thể bị tổn hại danh tiếng khi khách hàng quốc tế phải  
chờ đơn hàng đến.  
- Thanh toán điện tử  
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến thương mại điện tử là các biện pháp liên quan đến  
hệ thống thanh toán điện tử. Các hạn chế nặng nề nhất đối với thanh toán điện tử xuất phát  
từ việc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian không phải là ngân hàng  
truyền thống. Mặc dù các công ty thanh toán không cung cấp dịch vụ tài chính như ngân  
hàng, nhưng họ cho phép khách hàng có số dư tiền trong tài khoản của mình, không giống  
như các tổ chức phi ngân hàng khác. Bởi vì các biện pháp quản lý vị trí trung gian này  
chưa được áp dụng và vì các chính phủ muốn duy trì sự giám sát đối với các tổ chức tài  
chính, các công ty thanh toán điện tử cuối cùng rơi vào phạm vi điều chỉnh của nhiều quy  
định ngân hàng.  
Một thách thức đặc biệt là yêu cầu các công ty này phải có giấy phép ngân hàng để  
kinh doanh ở thị trường nước ngoài. Trong thực tế, yêu cầu này có thể được sử dụng để  
bảo vệ ngành công nghiệp trong nước. Sự thiếu minh bạch trong quy trình xem xét, giải  
quyết đơn xin cấp phép mang tính quan liêu ở nhiều quốc gia đã giúp dễ dàng từ chối cấp  
phép cho người nộp đơn là người nước ngoài. Các giấy phép này cũng có thể thay đổi để  
247  
bao gồm các hạn chế nhằm không thể thực hiện được. Chẳng hạn, năm 2016, PayPal đã  
phải tạm dừng các dịch vụ đối với Thổ Nhĩ Kỳ vì những thay đổi trong quy tắc cấp phép,  
yêu cầu các hệ thống thanh toán phải được bản địa hóa hoàn toàn tại quốc gia [1].  
Các quy định ngân hàng khác được áp dụng đối với các công ty thanh toán điện tử  
bao gồm quy định yêu cầu xác minh thông tin khách hàng để ngăn chặn rửa tiền, cũng như  
các yêu cầu thận trọng khác nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng. Mặc dù mục  
đích của việc yêu cầu các ngân hàng xác minh thông tin khách hàng trước khi giao dịch tài  
chính là để chống lại tội phạm tài chính, tuy nhiên, quy trình thu thập dữ liệu hiện tại để  
xác minh danh tính có thể không đầy đủ và các tài liệu nhận dạng có thể bị làm sai lệch  
- Các tiêu chuẩn  
Các yêu cầu thử nghiệm mang tính chất địa phương, cũng như các nỗ lực của chính  
phủ mỗi quốc gia phát triển các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể cho phần cứng hoặc phần mềm  
có thể gây trở ngại cho thương mại số toàn cầu. Các doanh nghiệp có thể không được biết  
các yêu cầu mới hoặc có cơ hội nhận xét về các thay đổi đối với các yêu cầu hiện có một  
cách kịp thời. Các quốc gia có thể đề xuất các yêu cầu bắt buộc sử dụng các công nghệ  
hoặc sản phẩm cụ thể mà họ biện minh dựa trên lý do an ninh quốc gia hoặc các mục tiêu  
chính sách công. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định như vậy có thể đóng vai trò là các  
biện pháp bảo hộ không được xác định rõ và do đó có thể gần như không thể đáp ứng  
được.  
Kết quả của các biện pháp này là tăng chi phí công nghệ mới cho cả người tiêu  
dùng và doanh nghiệp. Các biện pháp này có thể tác động đến các công ty cung cấp trực  
tiếp các dịch vụ liên quan đến Internet, hoặc các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác dựa  
trên nền tảng kỹ thuật số để cung cấp dịch vụ, xử lý các quy trình nội bộ hoặc di chuyển  
hàng hóa qua biên giới  
- Mua sắm chính phủ  
Mua sắm chính phủ tạo nên một thị trường quan trọng cho các công ty kỹ thuật số  
kinh doanh cả phần cứng và phần mềm. Tuy nhiên, các hạn chế của mua sắm chính phủ  
đối với các sản phẩm phần mềm nước ngoài tồn tại ở một số quốc gia, bao gồm Brazil,  
Trung Quốc, Ấn Độ và Nigeria [12]. Nigeria, ví dụ, yêu cầu thiết kế, mua sắm, thử  
nghiệm, triển khai, bảo trì và sự hỗ trợ các thiết bị và phần mềm CNTT của chính phủ  
được hoàn thành bởi các công ty CNTT của Nigeria nếu có thể, hoặc các công ty con khác,  
hoặc các đối tác Nigeria của các công ty sản xuất CNTT quốc tế. Các quy tắc áp dụng cho  
cả mua sắm của chính phủ và khu vực tư nhân. Hiệp định mua sắm chính phủ (GPA) của  
Tổ chức Thương mại thế giới thiết lập một khung các quy tắc đòi hỏi cạnh tranh mở trong  
mua sắm chính phủ giữa 47 quốc gia ký kết. Hàng hóa và dịch vụ số được bao gồm trong  
GPA, miễn là chúng không bị loại trừ khỏi lịch trình cam kết của mỗi quốc gia.  
Các biện pháp liên quan đến đầu tư  
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên quan đến kỹ thuật số chịu sự điều chỉnh của  
nhiều biện pháp khác nhau tùy theo quốc gia và lĩnh vực. Những trở ngại cản trở FDI có  
thể là thể chế, chẳng hạn như một bộ máy quan liêu nặng nề, luật pháp yếu kém, chất  
lượng quản lý kém và tham nhũng. FDI cũng có thể bị cản trở bởi các biện pháp nhắm vào  
248  
các phân khúc ngành cụ thể hoặc loại hình doanh nghiệp. Những trở ngại như vậy thường  
nhằm mục đích hạn chế sự xâm nhập tự do của các công ty nước ngoài, với mục tiêu bảo  
vệ lợi ích và khả năng tồn tại của các doanh nghiệp trong nước. Có một số biện pháp chính  
sách liên quan đến đầu tư cụ thể ảnh hưởng đến thương mại số, bao gồm hạn chế quyền sở  
hữu nước ngoài, cấp phép và thuế phân biệt đối xử và hạn chế nội dung có lợi cho nội dung  
địa phương.  
- Hạn chế quyền sở hữu nước ngoài và tham gia cổ phần  
Hạn chế sở hữu nước ngoài có thể trở nên phổ biến, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh  
vực, bao gồm cả kỹ thuật số. Ví dụ, Indonesia giới hạn tỷ lệ tham gia vốn cổ phần nước  
ngoài ở mức 67% trong nhiều ngành. Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, giới hạn sở hữu  
tác động đến đầu tư vào dịch vụ kỹ thuật số mang tính đặc thù ngành, đặc biệt là liên quan  
đến viễn thông. Liên doanh bắt buộc và giới hạn vốn chủ sở hữu đảm bảo rằng sự kiểm  
soát doanh nghiệp thuộc về các đối tác trong nước và thường yêu cầu chuyển giao công  
nghệ bắt buộc cho nước sở tại.  
- Yêu cầu về nội dung địa phương  
Các yêu cầu nội dung có thể mang tính chất vật lý và chương trình. Yêu cầu về nội  
dung vật lý bắt buộc các công ty nước ngoài sử dụng một phần nhất định các thành phần  
được sản xuất trong nước trong các sản phẩm mà họ tiêu thụ ở một số thị trường nhất định.  
Yêu cầu nội dung theo chương trình bắt buộc các công ty nước ngoài cung cấp một lượng  
nội dung được sản xuất trong nước trên nền tảng của họ.  
Yêu cầu nội dung địa phương đã gia tăng trên khắp thế giới trong những năm gần  
đây. Các biện pháp như vậy hiện đang hoạt động ở 39 quốc gia [13]. Yêu cầu nội dung địa  
phương có thể cấm các công ty nước ngoài cung cấp dịch vụ cho thị trường sở tại trên cơ  
sở xuyên biên giới; những yêu cầu như vậy cũng có thể làm gián đoạn dòng dữ liệu, làm  
gián đoạn hoạt động của các công ty.  
- Cấp phép, thuế và phí phân biệt đối xử  
Trong khi các hạn chế về quyền sở hữu nước ngoài là những rào cản khá rõ ràng  
đối với việc gia nhập thị trường, việc cấp phép và yêu cầu về vốn rất lớn, lệ phí cao, chính  
sách thuế cấm đoán và các quy trình phê duyệt nặng nề nhằm vào các thực thể nước ngoài  
có thể có tác động hạn chế hoạt động của các doanh nhiệp nước ngoài, đặc biệt là các  
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phương pháp đánh thuế mới cũng gây lo ngại. Trong những năm  
gần đây, nhiều chính phủ đã nhấn mạnh những khó khăn mà họ gặp phải trong việc tăng  
doanh thu thuế từ các công ty kỹ thuật số kinh doanh bằng cách cung cấp dịch vụ trực  
tuyến, đặc biệt là khi cung cấp các dịch vụ đó từ nước ngoài, hoặc chỉ có sự hiện diện địa  
phương tối thiểu, so với các nhà đầu tư nước ngoài truyền thống. Trong một số trường hợp,  
một số chính phủ thử nghiệm các phương pháp mới để đánh thuế một số công ty hoặc loại  
công ty nhất định, có thể được coi là một hình thức của chủ nghĩa bảo hộ số.  
3.1 Tác động của các rào đối với thương mại số và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới  
Thương mại số và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới được thực hiện trong 5 lĩnh  
vực: Các dịch vụ truyền thông internet, xử lý dữ liệu điện toán đám mây, nội dung số,  
thương mại số và Internet vạn vật. Các biện pháp bảo hộ (các rào cản chính sách) có tác  
249  
động hạn chế không giống nhau đối với các lĩnh vực hoạt động. Ví dụ, các biện pháp bảo  
vệ dữ liệu và quyền riêng tư và nội địa hóa dữ liệu có tác động hạn chế tới cả 5 lĩnh vực  
hoạt động, trong khi đó biện pháp tiếp cận thị trường - ngưỡng giá trị tối thiểu - chỉ tác  
động đến thương mại sản phẩm số.  
Tác động của các rào cản chính sách đối với các lĩnh vực kinh doanh số xuyên biên  
giới được trình bày tổng hợp ở Bảng 1.  
Bảng 1: Các rào cản chính sách và tác động của chúng đối với các lĩnh vực  
kinh doanh số  
Lĩnh vực kinh doanh số bị tác động  
Loại rào cản chính sách  
Các dịch vụ Xử lý dữ  
Nội Thương Internet  
truyền thông liệu điện dung số mại số vạn vật  
internet  
toán đám  
mây  
Các biện pháp dữ liệu  
- Bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư  
- Nội địa hóa dữ liệu  
Các biện pháp an ninh mạng  
công cộng và riêng tư  
- Tiết lộ mã nguồn  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
- Hạn chế về mật mã  
Kiểm duyệt  
X
Quyền sở hữu trí tuệ  
- Vi phạm bản quyền kỹ thuật số  
- Trách nhiệm pháp lý đối với vi  
phạm bản quyền  
- Luật bản quyền phụ trợ  
Các biện pháp tiếp cận  
thị trường  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
- Ngưỡng giá trị tối thiểu  
- Thanh toán điện tử  
- Mua sắm chính phủ  
- Các tiêu chuẩn  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Các biện pháp liên quan đến  
đầu tư  
- Hạn chế quyền sở hữu nước  
ngoài và tham gia cổ phần  
- Yêu cầu về nội dung địa  
phương  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
- Cấp phép, thuế và phí phân biệt  
đối xử  
Nguồn: United States International Trade Commission, August 2017,  
Global Digital Trade 1: Market  
250  
4. Ba tiếp cận chính về chủ nghĩa bảo hộ số  
4.1. Tiếp cận của Hoa Kỳ  
Hoa Kỳ là quốc gia sáng tạo ra và sử dụng mạnh mẽ công nghệ Internet, đồng thời  
có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ số và thương mại điện tử vào bậc lớn nhất thế giới  
(Google, Yahoo, Amazon, Facebook....), nên hơn ai hết, Hoa Kỳ có tiếp cận cởi mở nhất  
đối với tự do Internet và các dòng dữ liệu, phản đối mạnh mẽ các chính sách bảo hộ số, dù  
với các động cơ khác nhau, của các quốc gia khác.  
Tuy nhiên, Hoa Kỳ có các mục tiêu mâu thuẫn liên quan đến nền kinh tế số. Một  
mặt, Hoa Kỳ muốn khuyến khích mạng Internet toàn cầu sôi động với ít rào cản gia nhập.  
Mặt khác, Hoa Kỳ muốn duy trì sự thống trị Internet của mình vốn đang suy giảm rõ ràng  
khi Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và các quốc gia khác phát triển sức mạnh kỹ thuật số  
của quốc gia mình và thu hút ngày càng đông đảo người dùng.  
Các lập luận của Hoa Kỳ chống lại chủ nghĩa bảo hộ số thường không nhất quán.  
Một mặt, Hoa Kỳ từ lâu cho rằng các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư có tác dụng duy trì  
niềm tin trên môi trường Internet và các biện pháp đó là cần thiết để khuyến khích sự phát  
triển của công nghệ số. Mặt khác, Hoa Kỳ nhiều lần phê phán các quốc gia khác không xây  
dựng đầy đủ, hoặc không thực thi tốt pháp luật bảo vệ an ninh riêng tư, làm cản trở thương  
mại số.  
Ví dụ, vào năm 2014, Hoa Kỳ cho rằng rằng nhiều chính phủ đã thất bại trong việc  
thiết lập môi trường pháp lý để tạo điều kiện cho luồng thông tin tự do làm méo mó thương  
mại quốc tế. Hoa Kỳ cáo buộc Trung Quốc, Nam Phi, Thái Lan và Các tiểu vương quốc Ả  
Rập thống nhất vì các quy tắc Internet không rõ ràng. Hoa Kỳ chỉ trích Nam Phi vì đã  
không thực thi hiệu quả luật pháp trực tuyến; phản ứng quá mức đối với các nội dung cấm  
trên Internet của Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ, lên án Pháp về các đề xuất đánh thuế hoạt động  
Internet. Vào năm 2015, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã phàn nàn về  
các chính sách mua sắm của Canada rằng không cho phép các công ty Hoa Kỳ đấu thầu  
máy chủ đám mây cho chính phủ, mặc dù thực tế Hoa Kỳ cũng hạn chế mua sắm liên quan  
đến đám mây vì lý do an ninh quốc gia [7].  
Tại Hoa Kỳ, trong lĩnh vực thực thi pháp luật bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, ở  
cấp liên bang, quyền này thuộc về Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC). Ủy ban  
này có thẩm quyền rộng rãi. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không có luật liên bang chung về bảo vệ  
dữ liệu và quyền riêng tư hoặc cơ quan bảo vệ dữ liệu trung ương được giao nhiệm vụ đảm  
bảo tuân thủ. Thay vào đó, hầu hết các quy định là ở cấp bang, vì vậy, luật sư bang nói  
chung đóng một vai trò then chốt trong việc thực thi pháp luật.  
Các quy định pháp luật cấp bang thường có các điều khoản chồng chéo hoặc không  
tương thích với nhau. Ví dụ: tất cả 50 bang của Hoa Kỳ đã áp dụng luật thông báo vi phạm  
dữ liệu, nhưng có sự khác biệt trong định nghĩa về dữ liệu cá nhân và ngay cả trong những  
gì cấu thành vi phạm dữ liệu. Tương tự, tại ít nhất 35 bang và Puerto Rico, mỗi bang có  
luật xử lý dữ liệu riêng biệt. Điều tương tự cũng đúng với luật riêng tư dữ liệu. Gần đây,  
Đạo luật Bảo mật người tiêu dùng nổi tiếng của California (CCPA), được thông qua năm  
2018 và bắt đầu có hiệu lực tử ngày 1.1.2020, được cho là có tiếp cận gần gũi với Quy định  
251  
bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) của Liên minh Châu Âu, đã tạo ra một làn sóng đổi mới luật  
tương tự ở Maryland, Nevada, Massachusetts, Rhode Island và các bang khác.  
4.2. Tiếp cận của Liên minh Châu Âu  
Hoa kỳ và EU là hai khối kinh tế - thương mại lớn nhất thế giới. Các luồng dữ liệu  
xuyên biên giới giữa Hoa Kỳ và EU là lớn nhất trên thế giới. Hoa Kỳ và EU chiếm gần  
một nửa xuất khẩu dịch vụ kỹ thuật số (ví dụ: dịch vụ kinh doanh, chuyên nghiệp và kỹ  
thuật) của nhau và nhiều dịch vụ này được kết hợp vào hàng hóa xuất khẩu như một phần  
của chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) [14].  
Mặc dù có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ, sự khác biệt giữa Hoa Kỳ và EU trong  
cách tiếp cận luồng dữ liệu và thương mại kỹ thuật số đã gây ra mâu thuẫn trong quan hệ  
kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ - EU. Nhìn chung, quan điểm đối với tự do Internet, bảo vệ  
dữ liệu của EU mang tính chất chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn so với Hoa Kỳ.  
Chính sách bảo vệ dữ liệu của EU lấy bảo vệ dữ liệu cá nhân (bí mật riêng tư) làm  
trọng tâm. EU đưa ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với tất cả  
các tổ chức và doanh nghiệp, trong và ngoài EU có liên quan đến thu thập, xử lý, lưu trữ và  
sử dụng dữ liệu cá nhân của các công dân EU. Quy định bảo vệ dữ liệu chung của EU  
(GDPR), có hiệu lực từ tháng 5 năm 2018, đã thiết lập các quy tắc cho các quốc gia thành  
viên EU nhằm bảo vệ dữ liệu riêng tư của các cá nhân. GDPR là một chế độ bảo mật toàn  
diện, dựa trên các quy tắc bảo vệ dữ liệu trước đây của EU. Nó cấp các quyền mới cho các  
cá nhân nhằm kiểm soát dữ liệu cá nhân và tạo ra các yêu cầu bảo vệ dữ liệu mới cụ thể.  
GDPR áp dụng đối với:  
(1) Tất cả các doanh nghiệp và tổ chức có cơ sở ở EU xử lý (thực hiện các hoạt  
động) dữ liệu cá nhân tại EU, bất kể việc xử lý dữ liệu thực sự diễn ra ở đâu;  
(2) Các thực thể bên ngoài EU cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ (phải trả tiền hoặc  
miễn phí) cho các cá nhân ở EU hoặc giám sát hành vi của các cá nhân trong EU.  
Những biện pháp này đã làm dấy lên mối lo ngại ngoài lãnh thổ EU.  
Mặc dù GDPR được áp dụng trực tiếp ở cấp quốc gia thành viên EU, các quốc gia  
riêng lẻ chịu trách nhiệm thiết lập một số quy tắc và chính sách cấp quốc gia cũng như các  
cơ quan thực thi. Không phải tất cả các quốc gia EU có tiến trình thực hiện như nhau, một  
số quốc gia thành viên vẫn đang trong quá trình triển khai. Nhiều đại diện (đặc biệt là các  
doanh nghiệp) ngoài EU đã bày tỏ lo ngại về việc thiếu rõ ràng và hướng dẫn tuân thủ quốc  
gia không đầy đủ, cũng như về chi phí cao cho việc lưu trữ và xử lý dữ liệu cần thiết cho  
việc tuân thủ. Việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khó khăn hơn trong việc hiểu và  
tuân thủ các quy định của GDPR và có xu hướng rời khỏi thị trường EU.  
EU bao gồm 27 guốc gia, giống như GDPR, các nhà hoạch định chính sách của EU  
đang cố gắng mang lại sự hài hòa hơn trên toàn khu vực thông qua Thị trường duy nhất kỹ  
thuật số (DSM). DSM là một nỗ lực liên tục để thống nhất thị trường EU, tạo thuận lợi cho  
thương mại và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ba trụ cột DSM xoay quanh việc tiếp cận trực  
tuyến tốt hơn tới hàng hóa và dịch vụ số xuyên biên giới; môi trường pháp lý hỗ trợ đầu tư  
và cạnh tranh công bằng; và thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vốn  
nhân lực, nghiên cứu và đổi mới.  
252  
4.3. Tiếp cận của Trung Quốc  
Trung Quốc là một thị trường Internet lớn. Vào cuối tháng 12 năm 2015, đã có 688  
triệu người dùng Internet ở Trung Quốc, bao gồm 620 triệu người dùng Internet di động.  
Doanh thu thương mại điện tử của Trung Quốc gần gấp đôi so với Hoa Kỳ [3].  
So với Hoa Kỳ và EU, Trung quốc áp dụng các chính sách kiểm soát chặt chẽ nhất  
đối với Internet và các luồng dữ liệu xuyên biên giới. Vào tháng 12 năm 2015, Chủ tịch  
Trung Quốc Tập Cận Bình trong một bài phát biểu tuyên bố rằng cộng đồng quốc tế nên  
tôn trọng chủ quyền Internet của từng quốc gia trong việc chọn con đường phát triển  
Internet, quản trị Internet và chính sách Internet của riêng họ. Đối với nhiều nhà quan sát,  
điều này thể hiện nỗ lực ngày càng tăng của chính phủ Trung Quốc nhằm mở rộng quyền  
kiểm soát Internet ở Trung Quốc, điều này có thể gây hậu quả tiêu cực cho các công ty  
nước ngoài kinh doanh tại Trung Quốc, cũng như cho các doanh nhân Trung Quốc.  
Theo phân tích của nhiều chuyên gia, các chính sách bảo hộ số của Trung Quốc  
mang tính chất đa mục đích: đảm bảo an ninh, ổn định chế độ chính trị, bảo vệ văn hóa dân  
tộc, bảo vệ lợi ích của công dân và bảo hộ thương mại (ngăn cản hoạt động của các doanh  
nghiệp cung cấp dịch vụ số nước ngoài, hỗ trợ và tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh  
nghiệp trong nước). Chính phủ Trung quốc triển khai rộng rãi các giải pháp bảo hộ số,  
trong đó có kiểm duyệt, lọc nội dung, “bức tường lửa vĩ đại”, tấn công từ chối dịch vụ...  
Kết quả là các doanh nghiệp nước ngoài khó có chỗ đứng trên thị trường dịch vụ số và  
thương mại điện tử Trung Quốc. Ví dụ, thay cho công cụ tìm kiếm Google được sử dụng  
rộng khắp thế giới thì ở Trung Quốc có Baidu, thay cho Amazon có Alibaba, thay cho  
Facebook có WeChat...  
Các chính sách bảo hộ số của Trung Quốc được thể hiện qua một hệ thống các văn  
bản pháp luật, mà gần đây nhất là Luật an ninh mạng (Cybersecurity law) được thông qua  
tháng 11 năm 2016 và có hiệu lực từ 1 tháng 6 năm 2017 (trong đó có một số quy định  
được hoãn thực thi đến cuối năm 2018).  
5. Hàm ý giải pháp giảm thiểu chủ nghĩa bảo hộ số trong thương mại số và dòng chảy  
số xuyên biên giới  
5.1. Trong phạm vi quốc tế  
Có thể nói cho đến nay, hệ thống pháp luật thương mại quốc tế, mặc dù còn cần  
tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, về cơ bản đã đảm bảo phù hợp để điều chỉnh  
thương mại quốc tế truyền thống. Tuy nhiên, thương mại số và các dòng dữ liệu xuyên  
biên giới đặt ra một loạt vấn đề mới, vượt quá khuôn khổ của hệ thống hệ thống pháp luật  
thương mại quốc tế đang tồn tại. Cách hiểu, quan điểm tiếp cận của các quốc gia đối với  
thương mại số và lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới là rất khác nhau. Chủ nghĩa bảo hộ số  
xuất hiện và ngày càng trở nên phổ biến đang cản trở sự phát triển kinh tế và thương mại  
toàn cầu.  
Các quốc gia cần cùng nhau tìm ra hiểu biết chung về những thực tiễn nào thực sự  
làm méo mó thương mại số, những gì nên bị hạn chế và cấm và làm rõ các trường hợp  
ngoại lệ. Trong việc xây dựng các quy tắc và luật lệ, trước tiên, những người ra quyết định  
phải xác định cách thức và thời điểm chính phủ có thể kiểm soát và hạn chế các dòng chảy  
253  
dữ liệu. Họ phải đảm bảo rằng các quy tắc này được quốc tế chấp nhận và minh bạch để  
đảm bảo khả năng dự đoán và tính trách nhiệm. Với sự hiểu biết chung, Internet sẽ ít bị  
phân mảnh hơn, nhiều người sẽ có quyền tiếp cận thông tin hơn và các cá nhân có thể tạo  
và chia sẻ dữ liệu nhiều hơn.  
Để giải quyết những vấn đề này, các nhà hoạch định chính sách phải làm việc đa  
phương trong các tổ chức khu vực và quốc tế khác nhau. Môi trường phù hợp nhất cho  
phối hợp và hài hòa chính sách là WTO. WTO cần:  
1. Xem xét liệu các chính sách trong nước hạn chế dữ liệu (ngoại trừ các ngoại lệ  
đối với an ninh quốc gia, quyền riêng tư và đạo đức công cộng) có tạo thành rào cản đối  
với các luồng dữ liệu xuyên biên giới có thể bị thách thức trong tranh chấp thương mại hay  
không.  
2. Lập một nhóm nghiên cứu để kiểm tra các hệ quả thương mại của các cuộc tấn  
công phần mềm độc hại và từ chối dịch vụ phân tán (DDoS) như một phương tiện làm méo  
mó thương mại. Những hành vi này nên bị cấm.  
3. Theo dõi các hoạt động thương mại số của nhau trong quá trình xem xét chính  
sách thương mại của WTO.  
4. Các nhà hoạch định chính sách nên suy nghĩ lại cách quản lý dữ liệu trong các  
hiệp định thương mại. Cách tiếp cận hợp lý là dựa trên sự phân biệt giữa năm loại dữ liệu,  
ai là người kiểm soát dữ liệu và nơi dữ liệu được kiểm soát. Năm loại dữ liệu là: dữ liệu cá  
nhân (ngày sinh, số thẻ căn cước, số hộ chiếu...); dữ liệu bí mật của doanh nghiệp (bảng  
lương, tồn kho...); dữ liệu công cộng (số liệu thống kê, dữ liệu khoa học...); siêu dữ liệu  
cho AI và phân tích dự liệu; dữ liệu cho truyền thông máy-máy (IoT,...).  
Cách tiếp cận mới được xây dựng dựa trên loại dữ liệu có thể cho phép các nhà  
hoạch định chính sách phân biệt rõ hơn giữa các quy định được thiết kế để kiểm soát việc  
sử dụng một số loại dữ liệu nhất định và quy tắc làm méo mó thương mại. Hơn nữa, nó có  
thể trao quyền cho người dùng ở các nước đang phát triển. Cư dân mạng ở các nước đang  
phát triển có thể là nhà cung cấp dữ liệu cá nhân. Các nước đang phát triển với dân số đông  
có khả năng áp dụng các quy định yêu cầu các công ty trả tiền thuê đối với dữ liệu của  
công dân mình. Làm như vậy, họ có thể nâng cao sức mạnh thị trường của các công ty  
Internet lớn. Do đó, nó có thể tạo ra những yêu cầu mới đối với thương mại như một công  
cụ để điều chỉnh luồng dữ liệu.  
5.2. Vấn đề đối với Việt Nam  
Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới và có tỷ lệ người dùng Internet  
khá cao, ước tính đạt 70% dân số (theo vnetwork.vn, tháng 1 năm 2020). Từ những năm  
2010, Chính phủ đã quan tâm và xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển thương mại  
điện tử. Hệ thống pháp luật liên quan tới các lĩnh vực kinh doanh Internet và thương mại  
điện tử cũng dần được xây dựng và hoàn thiện.  
Liên quan đến lĩnh vực thương mại số, Việt Nam được coi là một trong những quốc  
gia đưa ra nhiều luật hạn chế thương mại số nhất, sau Trung Quốc, Nga và Brazil (theo  
Công ty Luật quốc tế Gowling WLG, năm 2018). Trung Quốc là quốc gia sớm xây dựng  
và triển khai một cách mạnh mẽ các rào cản thương mại số, cộng với tiềm năng mạnh mẽ  
254  
và tính năng động của các doanh nghiệp trong nước, Trung Quốc đã đạt được sự kiểm soát  
và thống lĩnh thị trường dịch vụ số và thương mại điện tử trên thị trường nội địa, mở rộng  
đáng kể ra thị trường thế giới. Ở Việt Nam, phần lớn các luật nói trên được xây dựng và  
ban hành trong những năm gần đây (trong đó điển hình là Luật An ninh mạng năm 2018,  
có hiệu lực từ 1/1/2019), khi thị phần lớn trường dịch vụ số ở Việt Nam đã bị chiếm lĩnh  
bởi các công ty cung cấp dịch vụ số nước ngoài, đặc biệt là Google và Facebook.  
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, một số thương hiệu do người Việt Nam tạo lập  
và phát triển như Sendo, Tiki, Thegioididong đã đạt được những kết quả khích lệ trên thị  
trường, cạnh tranh ngang với các thương hiệu nước ngoài như Lazada, Shopee.... Trong  
lĩnh vực cung cấp dịch vụ số (dịch vụ tìm kiếm, mạng xã hội, quảng cáo...) tình hình hoàn  
toàn khác, các doanh nghiệp Việt Nam chiếm thị phần khá nhỏ (ví dụ, khoảng 20% thị  
phần dịch vụ quảng cáo trực tuyến vào năm 2017). Lĩnh vực kinh doanh này đòi hỏi nguồn  
lực công nghệ và tài chính rất lớn và kinh nghiệm tích lũy qua thời gian, vốn dĩ không phải  
là thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam.  
Việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, tham gia nhiều thỏa thuận kinh tế - thương  
mại đa phương và song phương, trong đó có các thỏa thuận thế hệ mới (CPTPP, EVFTA)  
đặt ra trước Việt Nam một tình thế đặc biệt liên quan đến các biện pháp bảo hộ trong lĩnh  
vực thương mại số. Đó là Việt Nam phải hết sức cân nhắc trong vấn đề này, hài hòa giữa  
các cam kết tự do hóa và bảo hộ. Việt Nam cần phải đảm bảo rằng các biện pháp đó được  
quốc tế chấp nhận và mang tính minh bạch, dự đoán được và có trách nhiệm.  
Đối với Việt Nam, con đường tốt nhất là tham gia tích cực vào các nỗ lực của  
WTO, phối hợp cùng với các thành viên WTO xây dựng được các nguyên tắc nền tảng hài  
hòa, thống nhất chung của Tổ chức. Trong thời gian trước mắt, cần quan tâm nghiên cứu  
sâu và chi tiết hóa tiếp cận dựa trên sự phân biệt giữa năm loại dữ liệu. Tiếp cận này cho  
phép phân biệt rõ giữa các quy định nhằm kiểm soát và hướng tới mục đích bảo vệ an ninh  
chính trị, an toàn xã hội, quyền con người (nhất là quyền riêng tư) và đạo đức xã hội -  
những mục đích cần thiết và mang tính phi thương mại, và và các quy định làm méo mó  
thương mại, trên cơ sở đó bổ sung, hoàn thiện các biện pháp chính sách và quy định pháp  
luật của Việt Nam liên quan tới các vấn đề bảo hộ thương mại số.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ahmed (PayPal Inc.), testimony before the U.S. House Ways and Means  
Subcommittee hearing, “Expanding U.S. Digital Trade and Eliminating Barriers to  
U.S. Digital Exports,” July 13, 2016, 7.  
2. Digitally Deliverable Services Remain an Important Component of U.S. Trade, May  
3. E-Marketer, China Embraces Cross-Border Ecommerce, June 14, 2016, available at  
4. Matthieu Pélissié du Rausas, James Manyika, and Eric Hazan, et al., Internet matters: The  
Net's sweeping impact on growth, jobs, and prosperity, McKinsey Global Institute, May  
255  
5. Office of the Special Trade Representative (now USTR) (1982), A Preface to Trade,  
Washington, DC: US Government Printing Office.)  
6. Susan Lund and James Manyika, Strengthening the Global Trade and Investment  
System for Sustainable Development: How Digital Trade is Transforming  
Globalization, The E15 Initiative. McKinsey & Company., January 2016,  
7. Susan Ariel Aaronson, Digital Protectionism? Or Label the U.S. Government Uses to  
Criticize Policy It Doesn’t Like? https://www.cfr.org/blog/digital-protectionism-or-  
8. Turban et al., Electronic Commerce - A Managerial and Social Networks Perspective,  
Eighth Edition, Springer.  
9. The World Bank Group, World Development Report 2016: Digital Dividends, 2016,  
10. United States International Trade Commission, August 2017, Global Digital Trade 1:  
Market  
11. USITC, hearing transcript, April 4, 2017, 35 (testimony of Joanna McIntosh, MPAA).  
12. USITC, hearing transcript, April 4, 2017 (testimony of Leticia Lewis, BSA), 154; U.S.  
Chamber of Commerce, Globally Connected, Locally Delivered, 2016, 9.  
13. USITC, hearing transcript, April 4, 2017, 256-57 (testimony of Sean Heather, U.S.  
Chamber of Commerce).  
14. Where the Money Is: The Transatlantic Digital Market," CSIS, October 12, 2017.  
256  
pdf 18 trang baolam 21820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chủ nghĩa bảo hộ số và các rào cản đối với thương mại số và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchu_nghia_bao_ho_so_va_cac_rao_can_doi_voi_thuong_mai_so_va.pdf