Pháp luật về dịch vụ logistics tại Việt Nam: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM: BẤT CẬP VÀ  
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN  
VIETNAM’S LEGAL FRAMEWORK ON LOGISTICS SERVICE: SOME INADEQUACIES  
AND SUGGESTIONS  
Châu Thị Ngọc Tuyết  
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum  
Tóm tắt  
Ngành dịch vụ logistics đã xuất hiện tại Việt Nam trong khoảng 30 năm trở lại đây với tốc độ phát triển  
vô cùng ấn tượng. Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ  
logistics vào GDP sẽ đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%... Tuy nhiên, trong quá trình phát  
triển ngành dịch vụ logistics vẫn còn những rào cản nhất định. Một trong số đó chính là khung pháp lý điều  
chỉnh dịch vụ logistics tại Việt Nam. Cùng với sự phát triển của ngành dịch vụ logistics, đòi hỏi pháp luật Việt  
Nam phải có những quy định phù hợp đối với ngành dịch vụ này. Vì thế bài viết sẽ tập trung phân tích một số  
bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics, cụ thể là trong Luật Thương mại năm 2005  
và đưa ra những kiến nghị để xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động logistics nhằm tạo môi  
trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ logistics ở Việt Nam.  
Từ khóa: Dịch vụ logistics, Pháp luật về dịch vụ logistics, Luật Thương mại.  
Abstract  
Logistics service industry has been introduced to Vietnam over the past 30 years, with an impressive  
growth rate. It is estimated that, by 2025, this industry will contribute 8%-10% to Vietnam’s GDP and its  
growth rate will reach 15%-20%. However, Vietnam’s effort to develop its logistics service industry encounters  
the number of barriers and challenges, one of which relates to its legal framework to regulate this industry.  
Besides, this newly- arrived industry requires Vietnam to amend its laws and regulations to facilitate this  
service industry’s development. This paper aims to analyse some inadequacies of Vietnam’s governmental  
regulations on the logistics service, particularly those documented the 2005 Commercial Law, and provide  
recommendations for establish a comprehensive legal framework for logistics activities, in which a facilitating  
legal environment is generated for developing the logistics service industry in Vietnam.  
Keywords: Logistics services, Law on logistics services, Commercial Law.  
1. Đặt vấn đề  
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay “Dịch vụ Logistics” không còn là một khái niệm quá xa  
lạ đối với nền kinh tế nước ta. Mặc dù dịch vụ logistics ở nước ta được hình thành chưa lâu nhưng nó  
đã đem lại nhiều giá trị cho nền kinh tế, mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp có thể đầu tư  
và khai thác. Tốc độ phát triển vô cùng ấn tượng của ngành logistics tại Việt Nam là điều không thể  
phủ nhận. Hiện tại, Việt Nam có hơn 1.500 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực logistics và  
con số này dự đoán sẽ càng tăng chóng mặt trong thời gian sắp tới [1]. Theo báo cáo của Bộ Công  
thương, nếu như năm 2016, Việt Nam với chỉ số LPI (Logistics Performance Index) là 2,98, khiêm tốn  
xếp hạng 64/160 quốc gia được đánh giá, xếp thứ 5 trong khối ASEAN, thì năm 2018, Việt Nam đã  
giành vị trí thứ 39 với điểm số LPI được cải thiện đáng kể: 3,27, xếp thứu 3 trong khối ASEAN (sau  
Singapore vị trí thứ 7 và Thái Lan vị trí thứ 32 ở khu vực ASEAN. Cùng với sự phát triển đó, chiến  
lược tổng thể phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025 [2] của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác  
định: “Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai  
trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp  
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.” và “Phát triển dịch vụ logistics thành một ngành  
dịch vụ đem lại giá trị giá tăng cao, gắn dịch vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập  
khẩu và thương mại trong nước, phát triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin.”. Đặc  
611  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
biệt, trong đó “Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics” là nhóm nhiệm vụ được nhấn mạnh nhằm tạo  
điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ logistics ở nước ta. Hiện nay, luật pháp liên quan điều chỉnh  
logistics thường không dễ hiểu gây trở ngại. Một số các quy định pháp luật về logistics hiện nay đã  
không còn phù hợp, thiếu cập nhật các định chế cần thiết trong lĩnh vực logistics quốc tế… dẫn đến  
chưa tạo thị trường dịch vụ logistics minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển bền  
vững. Vì thế trong quá trình hội nhập hiện nay thì việc xây dựng một hành lang pháp lý đầy đủ, chặt  
chẽ, phù hợp là một điều vô cùng quan trọng. Nó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh  
nghiệp Việt Nam kinh doanh dịch vụ logistics mà còn giúp cho nước ta tận dụng được cơ hội từ việc  
hội nhập thị trường này, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế.  
2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
Qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy đã có một số công trình nghiên cứu về pháp luật dịch  
vụ logistics, tuy không nhiều nhưng cũng đề cập và nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể  
như sau:  
- Vũ Thị Nhung, Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam (2011).  
- Lê Thành Trung, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật dịch vụ logistics ở Việt Nam  
(2010).  
Những công trình trên đã nghiên cứu một cách khái quát về các quy định của pháp luật đối với  
dịch vụ logistics nói chung. Những công trình nghiên cứu này áp dụng quy định đã hết hiệu lực và đã  
được sửa đổi bổ sung bằng các quy định mới. Như vậy, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình khoa  
học nào nghiên cứu về vấn đề quy định pháp luật liên về dịch vụ logistics được điều chỉnh trong các  
văn bản mới đang có hiệu lực.  
2.2. Cơ sở lý thuyết  
2.2.1. Khái quát về dịch vụ logistics  
Thuật ngữ logistics đã được thế giới sử dụng phổ biến trong suốt thời gian dài, nhưng tại Việt  
Nam thì thuật ngữ này còn khá mới mẻ. Trên thế giới hiện nay, logistics được biết đến với những khái  
niệm chủ yếu như:  
- Tài liệu của Liên hợp quốc (UNESCAP) định nghĩa: Logistics là hoạt động quản lý dòng chu  
chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất thành phẩm xử lý các thông tin liên quan… từ  
nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng.  
- Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ - 1988 định nghĩa: Logistics là quá trình lên kế hoạch thực  
hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí giữa dòng lưu chuyển và giữ nguyên vật liệu, hàng tồn  
thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn  
những yêu cầu của khách hàng.  
- Theo Ngân hàng thế giới (WB): Logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp  
hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho,  
phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại.  
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên  
khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động  
thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng,  
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng  
gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận  
với khách hàng để hưởng thù lao”.  
Qua các định nghĩa trên cho thấy, logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ. Logistics luôn là  
một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải bao bì đóng  
612  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) tới các địa chỉ  
khác nhau. Chính vì vậy, khi nói tới logistics người ta bao giờ cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ  
(logistics system chain). Logistics chính là quá trình tối ưu hóa mọi công việc, hoặc thao tác từ khâu  
cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu dùng.  
2.2.2. Căn cứ pháp lý  
Dịch vụ logistics được điều chỉnh bằng nhiều văn bản pháp luật thuộc từng lĩnh vực cụ thể bao  
gồm Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn, các pháp luật chung liên quan và các pháp luật  
chuyên ngành liên quan đến từng hoạt động logistics cụ thể. Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này tác  
giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật trong Luật thương mại 2005 từ Điều 233 đến  
Điều 240 và Nghị Định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định về  
kinh doanh dịch vụ logistics.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp  
để phân tích một cách tổng quan quy định của pháp luật về dịch vụ logistics. Trên cơ sở đó tổng hợp  
những quan điểm của tác giả đối với những bất cập của luật thực định và hướng kiến nghị hoàn thiện.  
3. Những bất cập của pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics ở Việt Nam  
Thứ nhất, khái niệm “Dịch vụ logistics” không phù hợp:  
Về khái niệm: Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động  
thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận  
chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói  
bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với  
khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.”  
Quy định này chưa thể hiện rõ bản chất của dịch vụ logistics. Điều 233 Luật Thương mại 2005  
mới chỉ liệt kê các hoạt động trong logistics mà không sắp xếp thành một chuỗi nhằm phản ánh cả một  
quá trình hoạt động liên tục mà chính sự tiếp nối ăn khớp giữa các hoạt động với nhau đã làm nên giá  
trị của chuỗi logistics, đã tạo nên lợi nhuận cho các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này.  
Dịch vụ logistics là loại hình phát triển mở rộng so với dịch vụ giao nhận hàng hóa được quy  
định ở Luật Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, khái niệm dịch vụ này chỉ theo nghĩa đơn thuần mà  
chưa thể hiện được xu thế phát triển cũng như tính hệ thống của hoạt động này trong kinh doanh. Về  
mặt hệ thống, khái niệm này chỉ mang tính liệt kê các hoạt động bao gồm trong logistics, từ việc nhận  
hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, bảo quản, đến việc cung cấp dịch vụ môi giới hải quan, làm thủ tục  
xuất nhập khẩu, đóng gói bao bì,… chứ không sắp xếp các công việc này theo trình tự để diễn tả đây là  
một chuỗi dịch vụ cung ứng có tính lô-gic và khoa học. Hơn nữa, bản chất của logistics là một chuỗi  
các dịch vụ liên hoàn chứ không phải là từng dịch vụ đơn lẻ. Bởi vậy, nếu quy định “Dịch vụ logistics  
là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc…”, thì kể  
cả những thương nhân chỉ cung cấp một dịch vụ trong chuỗi logistics cũng được pháp luật công nhận  
là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Quy định như vậy chưa lột tả thực chất của logistics. Tuy  
nhiên, quy định này có ưu điểm là đã liệt kê các hoạt động trong chuỗi logistics theo hướng mở khi  
quy định “…hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng…”. Về  
xu thế phát triển, logistics có thể là phương thức quản trị ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh mà  
cũng có thể là một sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp giao nhận vận tải cung cấp. Và với khái niệm  
như vậy thì Luật Thương mại 2005 chỉ giới hạn điều chỉnh logistics ở dịch vụ giao nhận vận tải và một  
số dịch vụ dịch vụ phụ trợ, trong khi bản chất của logistics còn rộng hơn thế- logistics là nghệ thuật tổ  
chức sự vận động của hàng hóa và nguyên vật liệu từ khâu mua sắm, qua quá trình lưu kho, sản xuất  
đến khâu phân phối và đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng.  
613  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Thứ hai, về quyền, nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: Điều 235 Luật  
Thương mại 2005 có quy định:  
“1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền  
và nghĩa vụ sau đây:  
a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;  
b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì  
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng  
phải thông báo ngay cho khách hàng;  
c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ  
những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn;  
d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì  
phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.  
2. Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân  
thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.”  
Theo quy định trên, các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền thỏa thuận với nhau  
về quyền và nghĩa vụ. Sự thỏa thuận của chủ thể được pháp luật đặt lên hàng đầu, trong trường hợp các  
chủ thể không thỏa thuận thì theo quy định, họ có các quyền và nghĩa vụ tại Điều 235, trong đó có đề  
cập đến quyền hưởng “thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác”. Tuy nhiên, “chi phí hợp lý khác” là  
chi phí gì thì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc xác định trên thực  
tế và có thể ảnh hưởng đến lợi ích của một trong các bên của quan hệ hợp đồng dịch vụ logistics. Hay  
đối với “lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng” mà thương nhân có thể thực hiện khác với chỉ  
dẫn của khách hàng, thì hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Lý do chính đáng có  
thể do thời tiết hoặc vì một lý do khách quan nào đó, để đảm bảo lợi ích cho khách hàng, thương nhân  
kinh doanh dịch vụ logistics không làm theo chỉ dẫn của khách hàng. Các chỉ dẫn này thường được chỉ  
rõ trong hợp đồng có thể đó là chỉ dẫn về phương tiện vận chuyển hàng hóa, phương thức thanh toán…  
Nhưng hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Vì vậy việc xác định thế nào là lý do  
chính đáng nếu không được các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng thì rất khó giải quyết khi có tranh  
chấp xảy ra.  
Thứ ba, về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Thông  
thường, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện theo quy định  
của pháp luật hoặc do các bên tự thỏa thuận. Giới hạn trách nhiệm đến đâu thường được các bên thể  
hiện rất rõ trong hợp đồng. Dường như điều khoản trách nhiệm bao giờ cũng được các bên rất quan  
tâm, đặc biệt là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics  
Điều 238 Luật Thương mại 2005 có quy định: “trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác,  
toàn bộ trách nhiệm của thương nhận kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách  
nhiệm đồi với tổn thất toàn bộ hàng hóa”. Đây chính là trách nhiệm cao nhất đặt ra đối với thương  
nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Tuy nhiên, trong quy định về giới hạn trách nhiệm này lại không  
nói rõ giới hạn tổn thất cho khách hàng là giới hạn tổn thất hiện tại hay tương lai [3]. Vì thực tế có  
những tổn thất có tính “tương lai”, chẳng hạn do hàng hoá bị giao chậm ảnh hưởng đến thu nhập hình  
thành trong tương lai của khách hàng.  
Cũng liên quan đến vấn đề này, trong Điểm a Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP  
có xác định giới hạn trách nhiệm tối đa trong trường hợp các bên không có thoả thuận và khách hàng  
không có thông báo trước về giá trị của hàng hoá bằng một con số cụ thể “tối đa là 500 triệu đồng đối  
với mỗi yêu cầu bồi thường”. Việc định lượng giới hạn trách nhiệm bằng một số lượng cụ thể như vậy  
sẽ tạo cho việc áp dụng trên thực tế được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một bất cập rất lớn  
đó là trong nhiều trường hợp khối lượng hàng hoá vận chuyển cho khách hàng bị mất mát, hư hỏng lớn  
614  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
hơn nhiều so với mức 500 triệu đồng. Và theo quy định này thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của khách  
hàng. Đặc biệt trong xu thế hội nhập, mở cửa như hiện nay, quy định này sẽ làm hạn chế khách hàng  
nước ngoài sử dụng dịch vụ logistics liên quan đến vận tải để vận chuyển hàng hoá vì quy định đó có  
thể gây bất lợi cho họ.  
Thứ tư, có sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật về dịch vụ logistics. Do logistics là một  
loại hình dịch vụ tổng hợp, quá trình hoạt động liên quan đến quản lý của nhiều bộ, ngành như: Giao  
thông vận tải, Thương mại, Hải quan, đo lường, kiểm định... Mỗi bộ, ngành ban hành những quy định  
riêng điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực mình quản lý là điều tất yếu. Nhưng quá nhiều văn bản  
cùng điều chỉnh một hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên sự chồng chéo khó áp dụng trong thực tế.  
Ví dụ: Một thương nhân thực hiện hoạt động logistics sẽ phải tuân theo: Luật Thương mại  
2005, Nghị định 163/2017/NĐ-CP, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa  
theo loại hình sử dụng, Luật Hải quan nếu vận chuyển liên quan đến lãnh thổ nước ngoài...  
Sự chồng chéo này có thể gây ra cản trở không nhỏ cho thương nhân khi họ chưa có kinh  
nghiệm và lung túng khi họ không biết phải tuân theo luật nào.  
Mặt khác, các quy định pháp luật về dịch vụ logistics ở nước ta hiện nay vẫn còn rải rác ở rất  
nhiều văn bản, thiếu hệ thống dẫn đến việc áp dụng và tìm hiểu pháp luật về vấn đề này gặp rất nhiều  
khó khăn. Ví dụ như, chỉ riêng đối với điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics ngoài Nghị định  
163/2017/NĐ-CP quy định những điều chung nhất thì chúng ta còn phải tìm hiểu điều kiện kinh doanh  
dịch vụ logistics ở các bộ luật chuyên ngành khác. Mà các văn bản luật chuyên ngành này lại không  
quy định hoạt động đó là hoạt động của dịch vụ logistics nên khi sử dụng pháp luật rất khó khăn và dễ  
gây ra mâu thuẫn.  
Luật Thương mại năm 2005 là cơ sở quan trọng cho doanh nghiệp nghiên cứu và triển khai  
dịch vụ logistics. Tuy nhiên theo như phân tích ở trên, quy định về dịch vụ logistics trong Luật này vẫn  
còn những hạn chế nhất định cần được khắc phục.  
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam  
Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam phát triển,  
đem lại một nguồn lợi nhuận khổng lồ cho nền kinh tế. Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập mạnh mẽ về  
kinh tế của nước ta như hiện nay, thì việc xây dựng một hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, phù hợp  
với xu thế hội nhập là một điều rất cần thiết. Trong phạm vi hiểu biết của mình tác giả xin đưa ra  
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về dịch vụ logistics như sau:  
Thứ nhất, khái niệm logistics: Như đã phân tích ở trên, khái niệm dịch vụ logistics theo quy  
đinh của pháp luật Việt Nam chưa thể hiện rõ tính chất xâu chuỗi, liên kết của các hoạt động mà nhờ  
đó, không những tạo ra lợi ích tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp mà còn mang lại lợi nhuận cho  
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Bởi vậy, có thể đề xuất các giải pháp sau:  
- Sửa đổi cụm từ “một hoặc nhiều công việc” thành “một số hoặc tất cả các công việc”. Với  
cách quy định như vậy, để trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics, thương nhân phải cung cấp ít nhất  
hai dịch vụ trong chuỗi logistics trở lên, họ có thể vừa cung cấp dịch vụ vận tải, vừa cung cấp dịch vụ  
kho bãi, hoặc thêm dịch vụ thông quan, dịch vụ môi giới hàng hải, bao trùm mọi hoạt động của dịch vụ  
logistics và trở thành một thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đúng nghĩa. Mục đích của sửa đổi  
là nhằm quy định rõ logistics phải là một chuỗi hoạt động chứ không phải từng hoạt động đơn lẻ, từ  
đó, giúp phân biệt đối tượng thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về logistics. Những thương nhân nào  
cung cấp từ hai dịch vụ trở lên sẽ thuộc sự điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ logistics. Còn những  
thương nhân chỉ cũng cấp một loại dịch vụ, chẳng hạn như vận tải biển, thì sẽ chịu sự điều chỉnh của  
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015. Cách quy định hiện hành có thể gây nhầm lẫn như thương nhân  
kinh doanh dịch vụ logistics liên quan tới vận tải biển và thương nhân cung cấp dịch vụ vận tải biển.  
615  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
- Sắp xếp các hoạt động trong dịch vụ logistics thành một chuỗi theo quy trình sản xuất, kinh  
doanh và tiêu thụ sản phẩm: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức  
thực hiện một số hoặc tất cả các công việc sắp xết thành chuỗi logistics theo thứ tự như sau: Vận  
chuyển và lưu kho vật tư, vận chyển và lưu kho hàng hóa, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, làm thủ tục  
hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo  
thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”.  
- Về phiên âm từ logistics, tác giả đề xuất không nên phiên âm mà vẫn để nguyên từ tiếng Anh  
vốn có của nó. Logistics là một trong số những thuật ngữ khó dịch. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này  
quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó hoặc truyền tải  
không đúng, không đầy đủ.  
Thứ hai, về quyền nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: Luật Thương  
mại 2005 nên quy định cụ thể chi phí hợp lý khác ở đây là bao gồm những chi phí gì, để giúp cho các  
bên hạn chế được tranh chấp xảy ra khi xác định chi phí phát sinh từ việc thực hiện dịch vụ logistics.  
Cũng như quy định về các trường hợp được coi là “lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng”. Chẳng  
hạn lý do chính đáng có thể là do thời tiết, hay vì một lý do khách quan nào khác để đảm bảo lợi ích  
cho khách hàng thương nhân kinh doanh dịch vụ này không làm theo các chỉ dẫn của khách hàng.  
Thứ ba, về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: Tại Điều  
238 Luật Thương Mại: nên bổ sung quy định rõ giới hạn trách nhiệm ở đây là “không vượt quá giới  
hạn tổn thất thực tế với khách hàng”. Điều này được xuất phát từ cơ sở trách nhiệm bồi thường thiệt  
hại được quy định trong Luật Thương mại 2005 và Bộ luật dân sự 2015. Đối với quy định tại Điểm a  
Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh  
doạnh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, thì không nên quy định bằng một con số định lượng cụ  
thể là “tối đa 500 triệu đồng” mà nên quy định một tỷ lệ nhất định như 2/3 hoặc 3/4 so với hàng hóa  
vận chuyển tuỳ từng trường hợp khác nhau.  
Thứ tư, hệ thống văn bản quy pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics: Tiến hành rà soát và sửa  
đổi các văn bản pháp luật quy định về dịch vụ logistics để quy định cho thống nhất và có hệ thống.  
Chúng ta phải rà soát từ văn bản chuyên ngành điều chỉnh từng loại dịch vụ logistics trong từng lĩnh vực  
nhất định. Từng bước xóa bỏ các quy định chồng chéo, bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.  
5. Kết luận  
Việc xây dựng hành lang pháp lý đảm bảo tính nhất quán, thông thoáng và hợp lý trong các văn  
bản, quy định liên quan đến lĩnh vực logistics với mục đích tạo cơ sở cho một thị trường logistics phát  
triển, minh bạch. Cùng với việc điều chỉnh và bổ sung Luật Thương mại 2005 về các điều khoản nói  
về logistics và Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật cho hoạt  
động logistics và các lĩnh vực hỗ trợ như vận tải đa phương thức, thương mại điện tử, thủ tục hải quan.  
Chuẩn hóa các quy trình dịch vụ logistics, thống kê báo cáo logistics, các định chế có liên quan như  
thuế, bảo hiểm, ngân hàng, môi trường; chuẩn hóa các quy định về cấp phép, điều kiện kinh doanh tiêu  
chuẩn, vận tải đa phương thức, thống nhất hóa và tiêu chuẩn hóa tên hàng và mã hàng hóa. Việc xây  
dựng các hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động logistics rất cần thiết phải tham khảo và tuân  
theo quy định của từng phương thức vận tải liên quan và các luật khác.  
Ghi chú:  
[1] TS. Nguyễn Thị Việt Nga, Phát triển logistics: Thách thức và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo  
số 16/2019, tr.51.  
[2] Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế  
hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025.  
[3] Vũ Thị Nhung, Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Doanh  
nghiệp số 7/2011, tr.34.  
616  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14 tháng 06 năm 2005;  
2. Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ  
logistics;  
3. Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch  
hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025;  
4. Đào Thị Cẩm, Cần sửa đổi một số quy định để minh bạch hóa hoạt động logistics ở Việt Nam, Tạp chí Pháp  
luật và Kinh tế số 09 (2015);  
5. Nguyễn Thị Việt Nga, Phát triển logistics: Thách thức và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 16 (2019);  
6. Vũ Thị Nhung, Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Doanh nghiệp số  
7 (2011).  
617  
pdf 7 trang baolam 21100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật về dịch vụ logistics tại Việt Nam: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_ve_dich_vu_logistics_tai_viet_nam_bat_cap_va_kien.pdf