Lỗi chuyển di trong kết hợp từ cố định giữa tính từ và giới từ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
110  
LỖI CHUYỂN DI TRONG KẾT HỢP TỪ CỐ ĐỊNH GIỮA  
TÍNH TỪ VÀ GIỚI TỪ  
Nguyễn Diệu Linh  
Học viện Cảnh sát Nhân dân  
Tóm tắt: Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, do những đặc điểm giống và khác  
nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích, người học có thể mắc lỗi. Lỗi đóng vai trò rất  
quan trọng đối với người học, người dạy và các nhà nghiên cứu. Lỗi xuất hiện trong nhiều  
khía cạnh ngôn ngữ trong đó có kết hợp từ cố định. Nghiên cứu này, dựa trên cơ sở lý  
thuyết về kết hợp từ cố định và lỗi của Firth (1957), Cruse (1986), Lennon (1991) Ellis  
(1994) Richards và Schmidt (2002), đã tiến hành khảo sát 50 luận văn thạc sĩ, chủ yếu về  
ngôn ngữ học nhằm xác định ra các lỗi về từ vựng mà người viết hay mắc phải. Kết quả  
khảo sát bước đầu cho thấy, người viết mắc khá nhiều lỗi chuyển di trong kết hợp giữa  
tính từ và giới từ trong kết hợp từ cố định. Kết quả này, cùng với những nghiên cứu tiếp  
theo về kết hợp từ cố định, sẽ đóng góp những tư liệu lý luận và thực tiễn quan trọng vào  
việc dạy và học tiếng Anh cho người Việt.  
Từ khóa: Kết hợp từ cố định, lỗi chuyển di.  
Nhận bài ngày 19.7.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 26.8.2020  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Diệu Linh; Email: [email protected]  
1. MỞ ĐẦU  
Quá trình toàn cầu hóa hiện nay tiếp tục đòi hỏi nhân lực phải có trình độ năng lực ngoại  
ngữ ngày càng cao. do đó, việc dạy và học ngoại ngữ ngày càng nhận được nhiểu sự quan  
tâm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo đã được tiến hành và tổ chức để tìm ra  
những phương pháp hữu ích cho việc dạy và học ngoại ngữ. trải qua từng giai đoạn, từng  
thời kì khác nhau, dưới ảnh hưởng của các học thuyết khác nhau, các nhà ngôn ngữ đã đưa  
ra nhiều phương pháp, phương hướng hữu hiệu và tìm ra nhiều quy luật, hiện tượng xảy ra  
trong quá trình học ngoại ngữ.  
Một trong những hiện tượng được các nhà nghiên cứu chú trọng đến từ lâu là lỗi. Đây  
là một hiện tượng không thể tránh khỏi trong quá trình học ngoại ngữ và là một đặc điểm  
quan trọng trong quá trình thụ đắc ngoại ngữ bởi vì quá trình học ngoại ngữ là quá trình nắm  
bắt một hệ thống thói quen mới. Trong quá trình đó, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ  
đã ảnh hưởng đến ngoại ngữ. Nếu ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có những điểm  
giống nhau thì người học sẽ gặp nhiều thuận lợi trong quá trình thụ đắc ngoại ngữ. Ngược  
lại, những sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ sẽ cản trở quá trình học tập của người học, khiến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
111  
người học hay mắc lỗi. Dưới đây, chúng tôi xin trình bày một số kết quả rút ra được từ nghiên  
cứu về lỗi trong các kết hợp giữa tính từ và giới từ. Các số liệu được thu thập từ các luận văn  
cao học viết bằng tiếng Anh do học viên sau đại học người Việt viết. Căn cứ theo tiêu chuẩn  
đầu vào của những chương trình đào tạo thạc sĩ bằng tiếng Anh tại Việt Nam, các học viên  
phải có trình độ tiếng Anh tối thiểu đạt bậc 4 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho  
Việt Nam (tương đương B2) cho tất cả các nhóm ngành để đảm bảo học viên có thể theo học  
và viết được luận văn bằng tiếng Anh như môt yêu cầu bắt buộc của đầu ra. Tiêu chí này có  
thể phần nào đảm bảo rằng những học viên này có trình độ tiếng Anh tương đối đồng đều và  
ở trình độ cao học, người học đã hình thành cho mình khả năng sử dụng tiếng Anh nhất định.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Định nghĩa về kết hợp từ cố định  
Từ lâu, các kết hợp từ cố định đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên  
cứu. Firth (1957) coi các kết hợp từ cố định “là một chuỗi các từ gắn với nhau”. Cruse (1986)  
đã miêu tả các kết hợp từ cố định là một chuỗi các từ vựng thường xuyên xuất hiện cùng nhau.  
Có thể thấy rằng các định nghĩa được đưa ra ở trên tập trung nhiều về mặt từ vựng và đặc  
tính kết hợp thường xuyên của các từ.  
2.2. Định nghĩa và phân loại lỗi  
2.2.1. Định nghĩa lỗi  
Lỗi đã được định nghĩa trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Lennon (1991) đưa ra một  
định nghĩa mang tính tương phản, trong đó tác giả so sánh năng lực của người bản ngữ và  
những người phi bản ngữ và đưa ra kết luận: lỗi là một hình thái ngôn ngữ hoặc sự kết hợp  
các hình thái ngôn ngữ, mà trong cùng một hoàn cảnh, cùng một bối cảnh sử dụng giống  
nhau, sẽ không bị mắc phải như người bản ngữ. Ellis (1994) lại cho rằng lỗi là hình thái ngôn  
ngữ hoặc là sự kết hợp của các hình thái mà trong cùng một hoàn cảnh giống nhau và với  
những điều kiện giống nhau người bản ngữ sẽ không tạo ra. Do đó, lỗi còn được coi là biến  
thể của các nguyên tắc của ngôn ngữ đích. Như vậy, các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng lỗi  
là dụng những dạng thức, những hình thái khác với những đơn vị ngôn ngữ trong ngôn ngữ  
đích. Theo chúng tôi, lỗi là sự lệch chuẩn so với những quy tắc, dạng thức trong ngôn ngữ  
đích mà người học thường xuyên sử dụng và không có khả năng tự sửa thành đúng trong quá  
trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.  
2.2.2. Phân loại lỗi  
Các nhà ngôn ngữ đã đưa ra nhiều cách phân loại lỗi khác nhau, nhưng ở phần này,  
chúng tôi xin được đề cập đến cách phân loại của Richards và Schmidt (2002). Các tác giả  
đã chia lỗi thành 3 loại dựa trên nguồn gốc của những lỗi mà người học mắc phải, bao gồm  
lỗi giao thoa, lỗi tự ngữ đích và lỗi phát triển.  
* Lỗi giao thoa (interlingual/interference errors): xảy ra khi người học áp dụng ngôn  
ngữ nguồn vào ngôn ngữ đích. Đây là những lỗi xảy ra do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ của  
người học lên sản phẩm ngôn ngữ đích của người học, nhất là những khu vực mà hai ngôn  
ngữ khác nhau nhiều.  
* Lỗi tự ngữ đích (intralingual errors): xảy ra khi người học áp dụng kiến thức đã học  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
112  
được rồi nới rộng ra tạo thành lỗi. Đây là những lỗi sinh ra ra do những nguyên nhân trong  
nội bộ cấu trúc của ngôn ngữ đích chứ không do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ. Lỗi tự ngữ đích  
được chia thành 4 nhóm nhỏ:  
- Lỗi vượt tuyến xảy ra khi người học sử dụng mẫu âm đã biết rồi sau đó tự phát triển  
thành âm sai.  
- Lỗi sai qui tắc xảy ra khi người học sử dụng không đúng qui tắc nhất định  
- Lỗi không đầy đủ xảy ra khi người học nói một câu không đầy đủ  
- Lỗi giả định sai xảy ra khi người học không hiểu rõ nguyên tắc của ngôn ngữ đích.  
* Lỗi phát triển (developmental errors): xảy ra khi người học xây dựng những giả thuyết  
về ngôn ngữ đích dựa trên nền tảng những kiến thức hạn hẹp của mình  
2.3. Định nghĩa về chuyển di  
Theo Odlin (1989), chuyển di xảy ra do sự giống và khác nhau giữa ngôn ngữ đích và  
ngôn ngữ đã biết từ trước. Ông đã chỉ ra các yếu tố có thể ảnh hưởng tới việc học ngôn ngữ  
thứ hai và đã nhấn mạnh rằng hiện tượng chuyển di sẽ xảy ra do sự giống và khác nhau giữa  
các ngôn ngữ. Đây là một nhận định mang tính đột phá trong việc nghiên cứu chuyển di  
ngôn ngữ.  
Chúng tôi cho rằng hiện tượng chuyển di xảy ra trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ  
hai do ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích có những điểm giống và khác nhau. Trong quá  
trình học ngoại ngữ, người học áp dụng những hiểu biết của mình trong ngôn ngữ thứ nhất  
sang ngôn ngữ thứ hai. Những điểm giống nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thụ đắc sẽ trợ  
giúp cho quá trình học ngoại ngữ của người học được thuận lợi hơn. Tuy nhiên, người học  
sẽ gặp phải một số khó khăn trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai do những điểm khác  
nhau giữa các ngôn ngữ đó.  
2.4. Lỗi chuyển di trong kết hợp từ cố định giữa tính từ và giới từ  
2.4.1. Các lỗi với giới từ “with”  
Từ điển Anh- Việt (2003, tr.1962) đã giải thích “with” như sau:  
With, prep  
(1) (a) cùng với hoặc sự hiện diện của (ai/ cái gì): Live with one’s parents: sống với  
bố mẹ của mình.  
(b) trong sự chăm sóc, quản lý hoặc sở hữu của (ai): I leave the baby with my mother  
every day: Hàng ngày, tôi để cháu bé cho mẹ tôi chăm sóc.  
(2) có hoặc đang mang (cái gì): a girl with red hair: một cô gái tóc đỏ.  
(3) (a) (chỉ rõ công cụ hoặc phương tiện được dùng): cut it with a knife: cắt nó bằng  
dao.  
(b) (chỉ rõ vật liệu hoặc vật được dùng): fill the bowl with water: rót nước đầy bát.  
(9) về mặt, đối với hoặc liên quan đến (ai/ cái gì): careful with the glasses: cẩn thận  
với đồ thủy tinh.v.v…  
Lỗi kết hợp tính từ với giới từ “with” xuất hiện trong các trường hợp sau:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
113  
Suitable with  
•
They are farmers, so they are much familiar with hến (corbicular), lợn (pig);  
meanwhile English get on well with butter or lamb, which are suitable with their nomadic  
culture. (Tran T.T.P., 2014: 60)  
•
If the translated idioms are suitable with Vietnamese people or English about the  
information, equivalent form and the context or situation or not? (Tran T.T.P., 2014: 60)  
Appropriate with  
•
First, reading materials were appropriate with their level of language. (Hoang  
T.H., 2014:57)  
•
The modification of extensive reading program based on the teacher’s guidance to  
make it more appropriate with each teaching situation is called guided extensive reading  
program. (Nguyen T.D., 2015: 11)  
Trong các trường hợp lỗi “with” chúng tôi đã liệt kê ở trên, người viết đã vận dụng nét  
nghĩa thứ 9 (về mặt, đối với hoặc liên quan đến (ai/ cái gì). Những tính từ đi trước “with” là  
“suitable, appropiate” thường hướng tới “về mặt, đối với hoặc liên quan đến ai/ cái gì”.  
Trong tiếng Việt, cụm từ “phù hợp” thường kết hợp cùng giới từ “với”. Ngược lại, giới  
từ “với” trong tiếng Việt thường được hiểu tương đương với “with” trong tiếng Anh. Có thể  
tìm thấy rất nhiều tính từ phổ biến trong tiếng Anh kết hợp cùng giới từ “with” như:  
•
•
•
•
•
•
•
•
•
To angry with somebody: giận dỗi với ai  
To be busy with something: bận với cái gì  
To be consistent with something: kiên trì chung thủy với cái gì  
To be content with something: hài lòng với cái gì  
To be familiar (to/with ) something: quen với cái gì  
To be crowded with: đầy, đông đúc  
To be patient with something: kiên trì với cái gì  
To be impressed with/by: có ấn tượng /xúc động với  
To be popular with: phổ biến quen thuộc  
Chúng tôi nhận định trong các trường hợp trên, người viết mắc lỗi chuyển di vì đã trực  
dịch giới từ “với” trong tiếng Việt sang “with” trong tiếng Anh mặc dù kết hợp đúng là  
“suitable for/to” và “appropriate for/to”. Cụ thể, theo từ điển Oxford Collocations  
Dictionary, các trường hợp sau có thể sửa thành:  
•
They are farmers, so they are much familiar with hến (corbicular), lợn (pig);  
meanwhile English get on well with butter or lamb, which are suitable to their nomadic  
culture.  
•
If the translated idioms are suitable for Vietnamese people or English about the  
information, equivalent form and the context or situation or not?  
First, reading materials were appropriate to their level of language  
•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
114  
•
The modification of extensive reading program based on the teacher’s guidance to  
make it more appropriate to each teaching situation is called guided extensive reading  
program.  
Opposite with  
• Another feature of no less importance is the personalization in Vietnamese culture,  
which is opposite with individualism in Western culture. (Dao K.A., 2015:15)  
Trong trường hợp này, người viết đã vận dụng nét nghĩa 4b của giới từ “with” (đối lập  
với (cái gì), phản đối (cái gì)) để thể hiện ý “đối lập với”. Trong khi kết hợp đúng theo từ  
điển Oxfor Collocations Dictionary là “opposite to”. Do đó, người viết đã mắc lỗi chuyển di  
trong trường hợp này.  
2.4.2. Một số lỗi khác  
Kết hợp lỗi cố định với giới từ “for” được tìm thấy trong các câu sau:  
Make sure for  
•
To make sure for obtaining authentic data, the teachers and students were not  
informed the observation purpose beforehand. (Nguyen T.P.T., 2012:24)  
Relevant for  
•
Contrastive Analysis is not merely relevant for second language teaching and  
learning but it can also make useful contributions to machine translating and linguistics  
typology. (Nguyen T.N., 2012:14)  
Giới từ “for” được giải thích theo từ điển Anh- Việt như sau:  
For, prep  
Theo từ điển Anh- Việt (2003), giới từ “for” có 18 nét nghĩa:  
(1) (chỉ người được dự kiến nhận hay được lợi từ cái gì); cho: A letter for you: Một lá  
thư cho anh.  
(2) (chỉ mục đích hay chức năng); để: Go for a walk: đi dạo.  
(3) (chỉ nơi đến, mục tiêu hay lí do): Depart for home: rời về nhà.  
(13) về (ai/ cái gì); liên quan tới (ai/ cái gì): anxious for somebody’s safety: lo lắng về  
sự an toàn của ai.  
(14) bởi vì (cái gì), tính đến (cái gì): famous for its cathedral: nổi tiếng vì nhà thờ lớn.  
For the following reasons: vì những lí do sau đây.  
Trong tiếng Việt, cụm từ “make sure” được dịch thành “để đảm bảo” và thường được  
kết hợp với giới từ “cho”. Có thể thấy trong trường hợp này, tác giả đã trực dịch nghĩa của  
giới từ “cho” trong tiếng Việt sang “for” trong tiếng Anh khi sử dụng nét nghĩa thứ 13 của  
“for”: về (ai/ cái gì); liên quan tới (ai/ cái gì). Do đó, chúng tôi kết luận đây là lỗi chuyển di  
khi người viết dịch bị ảnh hưởng bởi cách dùng của tiếng mẹ đẻ và trực dịch kết hợp từ sang  
tiếng Anh trong khi cách sử dụng đúng là “make sure of”.  
Với kết hợp từ “relevant for”, người viết đã sử dụng nét nghĩa thứ 10 của giới từ “for”:  
(sau tính từ) xem xét cái gì có thể mong đợi từ (ai/ cái gì). Trong tiếng Việt, cum từ “phù  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
115  
hợp” thường được kết hợp với giới từ “cho, với”. Người học đã mắc lỗi chuyển di khi sử  
dụng giới từ “for” trong trường hợp này do ảnh hưởng của các sử dụng tiếng Việt. Theo từ  
điển Oxford Collocations Dictionary, kết hợp đúng là “relevant to”.  
Significant in  
•
Therefore teaching and learning vocabulary are significant in learning a foreign  
language, especially in the light of the communication approach. (Ta H.B., 2014:9)  
Beneficial in  
•
Extensive reading is also reported to be beneficial in fostering positive attitudes  
towards reading (Al-Hammad, 2009; Cho &Krashen, 1994; Leung, 2002; Mason &  
Krashen, 1997; Yamashita, 2004, 2007, 2013). (Hoang T.H., 2014:5)  
Từ điển Anh-Việt (2003) đưa ra giải thích cho giới “in” như sau:  
In, prep (về các cách dùng đặc biệt với nhiều danh từ và động từ, thí dụ in place: ở nơi,  
in memory of: để nhớ đến, end in something: kết thúc ở cái gì).  
(1) (chỉ nơi chốn) (a) ở một điểm nằm trong diện tích hoặc thể tích của (cái gì): The  
highest mountain in the world: ngọn núi cao nhất thế giới.  
(b) bên trong khuôn khổ của (cái gì): Bị bao quanh: lying in bed: Nằm trong giường.  
(2) (chỉ sự chuyển động) vào (cái gì): He dipped his pen in the ink: Nó nhúng ngòi bút  
vào lọ mực.  
(3) trong (một khoảng thời gian): In the twentieth century: Ở khoảng thế kỉ hai mươi.  
(4) (a) sau (một thời gian tối đa): Return in a few minutes, hours, days, months, etc:  
Quay trở lại sau vài phút, vài giờ, vài ngày, vài tháng, v.v…  
(b) (được dùng sau câu phủ định hoặc first, last v.v…) trong (thời gian bao lâu): I  
haven’t seen him in years: Tôi đã không gặp anh ta từ nhiều năm.  
(5) tạo thành cái toàn thể hoặc một bộ phận của (cái gì); chứa đựng trong khoảng:  
Seven days in a week: Bảy ngày trong một tuần.  
(6) (chỉ tỉ số): A slope/ gradient of one in five: Đường dốc/ độ dốc một trên năm.  
(7) mặc (quần áo, màu sắc v.v…): Dressed/ clothed in rags: Ăn mặc rách tả tơi.  
(8) (chỉ môi trường vật chất xung quanh, điều kiện tự nhiên v.v…): Go out in the  
rain/ sun/ cold etc: Đi dưới trời mưa, nắng, lạnh v.v…  
(9) (chỉ trạng thái hoặc điều kiện của ai/ cái gì): In order: Có ngăn nắp.  
(10) (chỉ dạng, hình, sự sắp xếp hoặc số lượng): A novel in three parts: Quyển truyện  
gồm ba phần.  
(11) (chỉ phương tiện, biện pháp, vật liệu v.v,…): Speak in English: nói (bằng) tiếng  
Anh.  
(12) (dùng để giới thiệu tên của người nào đó): We have lost a first- rate teacher in  
Jim: chúng tôi đã mất một thầy giáo số một là Jim.  
(13) để nhắc đến (cái gì); về, nói về: He’s behind the others in reading but a long way  
ahead in arithmetic: về đọc thì nó đứng sau các bạn khác còn về số học thì nó vượt xa họ.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
116  
(14) (chỉ nghề nghiệp, hoạt động, v.v… của ai): In the army/ navy/ air force: trong lục  
quân, hải quân, không quân. In business, insurance, computers, jouralism, etc: trong công  
việc kinh doanh, bảo hiểm, máy tính, nghề làm báo v.v,…  
(15) (thành ngữ) (không bao giờ có trọng tậm) lý do là vì: Privatization is thought ti  
be beneficial on that it promotes competition: người ta cho rằng việc tư nhân hóa có lợi ở  
chỗ nó thúc đẩy cạnh tranh.  
Trong hai trường hợp này, tác giả muốn sử dụng giới từ “in” khi kết hợp với các tính từ  
“significant” và “beneficial” để thể hiện ý nghĩa quan trọng trong (việc),… có lợi trong  
việc,... Tuy nhiên, nét nghĩa đó không xuất hiện trong 15 nét nghĩa theo giải thích của từ điển  
Anh- Việt và cách sử đụng dúng là “significant for/ to” và “beneficial to”. Chúng tôi kết luận  
đây là lỗi chuyển di do người viết đã chịu tác động của tiếng mẹ đẻ và trực dịch nghĩa của  
kết hợp từ sang tiếng Anh và tạo ra các kết hợp sai.  
2.4.3. Một số nhận xét  
Kết hợp giữa tính từ và giới từ là kết hợp phổ biến trong tiếng Anh và tiếng Việt. Những  
nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ đã làm cho người viết sử dụng các kết hợp  
sai. Trong nhiều kết hợp, người viết mắc lỗi giao thoa hay còn gọi là lỗi chuyển di ngôn ngữ  
giữa ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ đích. Người viết áp dụng cách diễn đạt trong tiếng mẹ đẻ  
và trực dịch sang tiếng Anh mà chưa chú ý đúng mức đến sự phù hợp của các kết hợp. Từ  
đó, tạo ra các kết hợp sai. Điều này xảy ra khi người viết sử dụng các kết hợp phổ biến trong  
tiếng Việt như phù hợp với, đối lập với, v.v… Ngoài ra, có thể nhận thấy, giới từ “with” là  
giới từ rất dễ gây nhầm lẫn. Đó là do đây là giới từ thường xuyên xuất hiện trong các kết hợp  
từ phổ biến. Chính vì thường xuyên sử dụng các kết hợp quen thuộc đó trong tiếng Việt đã  
dẫn đến việc người viết chủ quan, trực dịch sang tiếng Anh mà không tìm hiểu kỹ về các kết  
hợp đúng trước khi sử dụng.  
3. KẾT LUẬN  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thảo luận các lỗi kết hợp từ cố định giữa tính từ và  
giới từ và nguyên nhân gây ra lỗi. Đây là lỗi kết hợp từ vựng nhưng thiên ngữ pháp. Người  
viết có xu hướng lưu ý đến các nghĩa của giới từ trong tiếng Anh để lựa chọn trong quá trình  
sử dụng do tiếng Việt và tiếng Anh có những đặc điểm ngữ pháp giống và khác nhau. Do đó  
người viết đã trực dịch các kết hợp từ từ tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích và tạo ra các kết  
hợp sai do mắc lỗi chuyển di. Như chúng tôi đã trình bày, đây mới chỉ là khảo sát bước đầu  
về kết hợp từ cố định giữa tính từ và giới từ, chủ yếu là trong ngành ngôn ngữ học. Chúng  
tôi sẽ tiếp tục khảo sát sâu hơn, với các văn bản đa dạng hơn và căn cứ theo những tiêu chí  
đầy đủ hơn nhằm có những đánh giá toàn diện và đề xuất giải pháp hiệu quả hơn để góp  
phần vào nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh cho người Việt.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Firth J.R. (1957), Papers in Linguistics 1934- 51, Oxford Univeristy Press, Oxford.  
2. Cruse (1986), Lexical Semantics, Cambridge University Press, Cambridge.ss  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 43/2020  
117  
3. Lennon P. (1991), “Error: some problems of definition, identification, and distinction”, Applied  
Linguistics 12(2), pp. 180- 195.  
4. Ellis R. (1994), The Study of Second Language Acquisition, Oxford: Oxford University Press.  
5. Richards J. C. & Schmidt R. (2002). Dictionary of language teaching and applied linguistics,  
Longman.  
6. Odlin T. (1989), Language Transfer, Cambridge: Cambridge University Press.  
7. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Anh- Việt English- Vietnamese Dictionary, Nxb. TP Hồ  
Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.  
8. Tran T.T.P. (2014), Grammatical and cultural features of comparative English idioms and their  
Vietnamese equivalents, M.A thesis, Hanoi Open University, Hanoi.  
9. Hoang T.H. (2014), The effects of extensive reading on vocabulary acquisition and attitudes: an  
experimental study with grade 10 students at Chuong My A high school, Hanoi, M.A thesis, Hanoi  
Univeristy, Hanoi.  
10. Nguyen T.D. (2015), A study on written errors made by the first year students in English  
department at Military Science Academy, M.A. thesis, Military Science Academy, Hanoi.  
11. Dao K.A. (2013), Cohesive devices in English economic texts, a case study at college of  
statistics, M.A. thesis, Hanoi Open University, Hanoi.  
12. Pham T.B. (2012), Imrproving reading comprehension proficiency of first year students at Nam  
Dịnh Univeristy of Technology education through collaborative stretagic reading instruction,  
M.A thesis, Hanoi University.  
INTERLINGUAL ERRORS IN COLLOCATIONS OF  
ADJECTIVES AND PREPOSITION  
Abstract: In the process of second language acquisition, the similarities and differences of  
linguistic features between the mother tounge and the target language can make learners  
make errors. Errors are important for learners, teachers and linguistic researchers. Errors  
can appear in many aspects of language including collocations. This study, based on  
theories on collocations and errors by Firth (1957), Cruse (1986), Lennon (1991) Ellis  
(1994) Richards và Schmidt (2002) investigates 50 M.A. theses, mainly on linguistics to  
identify errors often made by writers. Preliminary results show that writers often make  
interlingual errors in collocations between adjectives and prepositions. These results,  
together with subsequent studies on collocations, will provide significant theoretical and  
practical grounds for teaching and learning English for Vietnamese.  
Keywords: Collocations, interlingual errors.  
pdf 8 trang baolam 23400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lỗi chuyển di trong kết hợp từ cố định giữa tính từ và giới từ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfloi_chuyen_di_trong_ket_hop_tu_co_dinh_giua_tinh_tu_va_gioi.pdf