Vài nét khái quát về độc giả văn học miền Nam 1954-1975

Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tꢀp 7, Sꢁ 3 (2021) 303-322  
Vài nét khái quát về độc giả văn học miền Nam 1954-1975  
Lê Quꢁc Hiếu*  
Tóm tắt: Dưới tác động của bꢁi cảnh văn hóa và chính trị giai đoạn 1954-1975, giới cầm  
bút và độc giả văn học miền Nam hình thành nhiều khuynh hướng đa dạng. Khác với độc  
giả của văn học hiện thực xã hội ở miền Bắc, độc giả văn học miền Nam là các nhóm thực  
thể không đồng nhất về giai cấp xã hội, ý thức hệ và thị hiếu thẩm mĩ. Bài viết tꢀp trung  
khảo sát hai kiểu độc giả chính yếu và sinh hoạt sôi nổi nhất ở miền Nam: độc giả của văn  
học thị trường và độc giả của văn học nghệ thuꢀt. Những tác động của xã hội đến sinh hoạt  
văn nghệ và khuynh hướng thẩm mĩ, mãi lực của độc giả cũng được tìm hiểu trong bài viết  
này.  
Từ khóa: độc giả văn học; văn học miền Nam; 1954-1975; văn học thị trường; văn học  
nghệ thuꢀt.  
Ngày nhận 16/10/2020; ngày chỉnh sửa 29/4/2021; ngày chấp nhận đăng 30/6/2021  
DOI.............................................  
1. Mở đầu  
phương diện. Các đặc điểm về bꢁi cảnh văn  
hóa xã hội của giai đoạn 1954-1975 đều trực  
tiếp hoặc gián tiếp tác động đến sinh hoạt  
văn nghệ và diện mạo của độc giả văn học.  
Sau 9 năm kháng chiến gian khổ (1945-  
1954) nhân dân Việt Nam đã lꢀt đổ chế độ  
thực dân Pháp, khép lại một trang sử hào  
hùng của dân tộc. Hiệp định Genève về  
Đông Dương được ký kết vào ngày  
21/7/1954. Các nước tham dự hội nghị này  
đã cam kết tôn trọng độc lꢀp, chủ quyền,  
thꢁng nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước  
Đông Dương; Ngừng bắn toàn cõi Đông  
Dương; Lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân  
sự tạm thời; Pháp rút khỏi Đông Dương và  
mỗi nước Đông Dương sẽ bầu cử tự do, v.v..  
Được sự ủng hộ của Mỹ, chính quyền Ngô  
Đình Diệm được dựng lên ở miền Nam Việt  
Nam. Một thiết chế quân sự, chính trị và văn  
hóa mới được hình thành với những chính  
sách khác nhau nhằm biến miền Nam Việt  
Nam trở thành một quꢁc gia mới, do đó, làm  
biến đổi xã hội miền Nam trên nhiều  
2. Chính sách của Mỹ đối với văn hóa và  
văn học ở miền Nam  
Về cơ bản, xã hội miền Nam từ sau năm  
1954 chịu ảnh hưởng từ nhiều nền văn hóa:  
văn hóa Trung Hoa, văn hóa châu Âu (nhất  
là văn hóa Pháp hiện diện ở miền Nam  
khoảng một thế kỉ) và văn hóa Mỹ. Có thể  
nói, chính sách giáo dục là yếu tꢁ tiên quyết  
có ảnh hưởng đến diện mạo của công chúng  
văn học. Sau Hiệp định Genève, bên cạnh  
việc di chuyển các lực lượng quân sự, dân  
sự từ miền Bắc vào miền Nam, việc chuyển  
dịch các thiết chế văn hóa, giáo dục được  
Pháp và Mỹ tiến hành khẩn trương. Cụ thể  
là, dưới chính thể Quꢁc gia Việt Nam, chi  
nhánh của Viện Đại học Đông Dương ở Sài  
Gòn được tái cơ cấu thành Viện Đại học  
Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt  
Nam; email: [email protected]  
303  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
304  
Quꢁc gia Việt Nam, và từ sau năm 1957,  
được đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn.  
Các phân ngành khoa học xã hội và nhân  
văn được chú trọng đào tạo. Giáo dục đại  
học là chính sách quan trọng nhằm đào tạo  
đội ngũ nhân lực dồi dào cho chế độ mới.  
Nếu trước đây, chỉ có duy nhất một viện đại  
học đào tạo nhân lực cho toàn Đông Dương  
thì tính đến sau năm 1964, bên cạnh hai viện  
đại học công (Sài Gòn, Huế), còn có thêm  
hai viện đại học tư (Đà Lạt và Vạn Hạnh).  
Nhìn chung, giáo dục đại học ở miền Nam  
(1956-1964) vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề  
của giáo dục Pháp. Tuy nhiên, kể từ năm  
1965, khi Mỹ trực tiếp đưa quân tham chiến  
ở chiến trường miền Nam, văn hóa Mỹ và  
lꢁi sꢁng Mỹ theo đó mà “ùa tràn” vào đời  
sꢁng miền Nam Việt Nam. Từ đây, giáo dục  
đại học được cải tổ theo mô hình của Mỹ  
(điển hình là chế độ đào tạo theo tín chỉ).  
Ngân sách giáo dục của Chính quyền Việt  
Nam cộng hòa (VNCH) cho các trường,  
viện đào tạo không nằm ngoài mục đích xây  
dựng một hệ thꢁng giáo dục con người, phục  
vụ cho chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở  
miền Nam Việt Nam.  
Ở miền Nam, sự xuất hiện phong phú các  
hệ thꢁng nhà xuất bản, tạp chí, dòng phái,  
khuynh hướng văn học cho thấy nhu cầu  
thẩm mĩ đa dạng của độc giả, và tính năng  
động, tự do của thị trường tiêu thụ. Bên cạnh  
đó, có nhiều tờ báo với các thái độ văn hóa,  
chính trị khác nhau cùng hoạt động: thân  
chính phủ chꢁng Cộng hoặc ngược lại;  
Chính trị hóa hoặc phi chính trị; Văn học  
thuần khiết hoặc “văn học trong vòng tay  
chính trị” (Nguyễn Văn Trung 2001: 15).  
Các tiếng nói đꢁi lꢀp với chính quyền  
VNCH vẫn được đăng đàn trên báo chí  
đương thời, ví dụ, hai tờ báo chꢁng tham  
nhũng nổi tiếng Tin sáng và Sóng thần, đꢁi  
đầu công khai với chính phủ VNCH  
(Nguyễn Quang Duy 2015; BBC 2018).  
Ngoài ra, còn phải kể đến một sꢁ thiết  
chế văn hóa văn học khác có vai trò chi phꢁi  
hoạt động sáng tạo, xuất bản, và tiếp nhꢀn  
văn chương. Có thể liệt kê một sꢁ hội đoàn  
văn học được thành lꢀp có ảnh hưởng lên  
sinh hoạt văn học như: Hội Văn hóa Việt  
Nam, Mặt trꢀn văn hóa tự do, Hội Khổng  
học, Hội Văn hóa bình dân, Liên đoàn Văn  
nghệ sĩ, Hội Cổ học, Hội Văn hữu, Tinh  
Việt văn đoàn, v.v.. Hoạt động của các  
nhóm độc giả cùng sinh hoạt và sáng tác văn  
chương như: Sáng tạo, Quan điểm, Vấn đề,  
Trình bày, nhóm Quỳnh Dao, v.v. đã góp  
phần mang lại cho sinh hoạt văn chương  
một không khí sôi nổi, đa dạng. Hoạt động  
có hiệu quả hơn cả phải kể đến Trung tâm  
Văn bút Việt Nam. Trung tâm đã tổ chức  
nhiều cuộc trò chuyện văn chương, đàm  
luꢀn nghệ thuꢀt, trao giải thưởng văn học.  
Nhìn chung, hoạt động đa dạng của các  
nhóm phái văn học này được vꢀn hành trên  
tinh thần ít nhiều tự do, “trăm hoa đua nở” ở  
miền Nam. Bên cạnh sự hiện diện của các  
nhà xuất bản, hệ thꢁng báo chí và trung tâm  
học thuꢀt, các giải thưởng văn chương cũng  
góp phần chi phꢁi đến khuynh hướng thẩm  
Thông thường, một trong những chiến  
lược văn hóa của đế quꢁc thực dân đꢁi với  
thuộc địa là làm cho người dân thuộc địa  
nhꢀn thức về thời kì tiền thuộc địa của dân  
tộc họ “như là một trạng thái lơ lửng tiền  
khai hóa” (precivilised limbo) hoặc “một  
khoảng trꢁng lịch sử” (historical void)  
(Barry 2009: 186). Muꢁn vꢀy, quꢁc gia xâm  
lược phải làm cho người dân thuộc địa quên  
đi quá khứ, lịch sử và bản sắc văn hóa dân  
tộc thông qua việc kiến tạo nên một nền văn  
hóa mới được mẫu quꢁc hꢀu thuẫn. Các sản  
phẩm văn hóa vꢀt chất và tinh thần (hàng  
hóa Mỹ, kĩ thuꢀt Mỹ, phim ảnh, băng nhạc,  
đĩa hát, tranh ảnh, tivi, sách báo, v.v.) được  
công khai tiêu dùng và hỗ trợ nhꢀp cảng  
miền Nam Việt Nam.  
305  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
mĩ, nhu cầu đọc và mãi lực (sức mua) của  
độc giả.  
thành hai bộ phꢀn nói trên cũng phù hợp với  
ý hướng của độc giả văn học nói chung. Nhà  
văn Thạch Lam khi luꢀn bàn về người đọc  
tiểu thuyết đã phân chia người đọc thành hai  
hạng: hạng độc giả chỉ cꢁt xem truyện và  
hạng độc giả thích suy nghĩ (Thạch Lam  
1941: 33).  
Ngoài một sꢁ chính sách văn hóa nói  
trên, văn hóa đọc của độc giả miền Nam còn  
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những thay đổi  
chóng vánh của các thể chế chính trị văn  
hóa, quy luꢀt thương mại hóa văn nghệ, khói  
lửa chiến tranh tràn vào đời sꢁng sinh hoạt,  
cơn lꢁc gia tăng của thuế khóa và vꢀt giá in  
ấn, v.v..  
3.1. Độc giả của văn học thị trường  
3.1.1. Văn học thị trường là gì?  
Thuꢀt ngữ “văn học thị trường” (mass-  
marketed literature) có một nội hàm khái  
niệm khá lỏng lẻo. Báo chí văn hóa văn  
nghệ miền Nam còn sử dụng nhiều thuꢀt  
ngữ khác nhau như: “văn học tiêu thụ”, “văn  
học giải trí”, “văn học bình dân”, v.v. để  
định danh cho một khuynh hướng văn học  
đề cao tính giải trí, tính lợi nhuꢀn, và tính  
đại chúng. Văn chương trở thành thương  
phẩm, do đó, mãi lực của độc giả là mục tiêu  
và thước đo cho sự thành công của dòng văn  
học thị trường. Muꢁn vꢀy, tác phẩm phải  
hướng đến tính giải trí, tính dễ đọc  
(legibility) và tính đại chúng. Văn học thị  
trường ở miền Nam chịu sự chi phꢁi của các  
diễn ngôn thꢁng soát của từng thời kì, các  
thiết chế văn hóa xã hội được xây dựng dựa  
trên các quan hệ kinh tế tư bản như nhà xuất  
bản, nhà in, nhà phát hành, nhà sách, báo  
chí, quảng cáo, phê bình, v.v.. Tất cả những  
yếu tꢁ trên đã tác động, ở các mức độ khác  
nhau lên sinh hoạt văn chương và nhu cầu  
thẩm mĩ của độc giả.  
3. Cơ cấu của độc giả văn học miền Nam  
1954-1975  
Dưới tác động của bꢁi cảnh văn hóa thời  
đại, giới cầm bút và độc giả văn học miền  
Nam hình thành nhiều khuynh hướng đa  
dạng từ “cực hữu đến cực tả, từ viễn mơ,  
hưởng thụ đến quá khích, tranh đấu ôn hòa,  
xây dựng, v.v.” (Phạm Việt Tuyển 1972: 9).  
Văn học miền Nam chứng kiến sự hình  
thành đa dạng của các nhóm phái, tư tưởng  
khác nhau với những đꢁi tượng độc giả  
riêng, tùy thuộc vào thái độ chính trị của họ.  
Một sꢁ khuynh hướng văn học nổi bꢀt như:  
Khuynh hướng yêu nước chꢁng thực dân  
Pháp, đế quꢁc Mỹ; Khuynh hướng văn hóa  
văn học bị dán nhãn là “đồi trụy, phản  
động”; Khuynh hướng tìm về văn hóa dân  
tộc; Khuynh hướng đứng ngoài lề, thực hành  
văn học thuần túy, đi sâu vào mô tả phong  
tục, tâm lí, và đời sꢁng thường ngày;  
Khuynh hướng thực hành triết học, tôn giáo  
qua văn chương; Khuynh hướng văn chương  
tiêu thụ, v.v.. Do đó, khác với độc giả quần  
chúng của văn học hiện thực xã hội ở miền  
Bắc, độc giả văn học miền Nam là các nhóm  
thực thể không đồng nhất về thành phần giai  
cấp xã hội, ý thức hệ, và khuynh hướng  
thẩm mĩ. Bài viết tꢀp trung khảo sát hai kiểu  
độc giả chính yếu và sinh hoạt có phần sôi  
nổi nhất ở miền Nam: độc giả của văn học  
thị trường và độc giả của văn học nghệ  
thuꢀt. Việc phân chia cơ cấu của độc giả  
Tuy nhiên, cách định danh văn học “thị  
trường”, “tiêu thụ”, “giải trí”, “bình dân” đã  
“ẩn chứa một thái độ kỳ thị, một cảm xúc  
tiêu cực” (Võ Văn Nhơn và cộng sự 2015:  
91), có phần hạ thấp giá trị tinh thần, chức  
năng giải trí của tác phẩm, đồng thời làm xa  
lạ hóa bản chất nguyên thủy của tiểu thuyết:  
giải trí, mua vui. Một định nghĩa có tính  
kinh điển về văn chương tiêu thụ thường  
xuất hiện trong các bài viết về văn học thị  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
306  
trường miền Nam (Lữ Phương 1967; Võ  
Văn Nhơn và cộng sự 2015; Huỳnh Như  
Phương 2015) là của Sơn Nam”: “Đó là loại  
kẹo ngọt, loại bông hường bằng ni-lon… ba  
món ăn chơi. Độc giả tiêu thụ hấp tấp, đọc  
để tìm hiểu cꢁt chuyện, không câu nệ về  
cách hành văn, chính tả, cách chấm câu. Đọc  
rồi là họ quên ngay, quên cả tựa quyển sách,  
“sẵn sàng bán ve chai” (Lữ Phương 1967:  
114). Bản thân định nghĩa này đã hàm ý một  
thái độ coi thường các kiểu loại văn chương  
thiên về/ chỉ để “mua vui”, “giải trí”. Mặc  
dù, trên thực tế, rất nhiều tiểu thuyết thị  
trường được in ấn nhanh chóng, cẩu thả, dễ  
dãi theo hình thức feuilleton (tiểu thuyết  
đăng báo nhiều kỳ) để thỏa mãn cấp tꢁc nhu  
cầu giải trí, tò mò của độc giả.  
ngoài chợ. Khác hẳn ngoài Bắc, giới lao  
động trong Nam rất chịu mua báo, đọc báo.  
Ở Hà Nội, người ta không thể nào bắt gặp  
một anh xích lô ghếch mũi xe vào một hè  
đường vắng, dưới bóng cây râm mát nằm  
khểnh trên nệm, phì phèo điếu thuꢁc, đọc  
báo suꢁt một buổi trưa, từ chꢁi chở khách,  
cũng như khó tưởng tượng được cái cảnh  
một bà bán cá trong chợ vừa trả lời giá cả  
với khách hàng vừa coi tiểu thuyết trong  
báo” (1982: 69).  
3.1.3. Thị hiếu thẩm mĩ của độc giả văn học  
thị trường  
Thị hiếu thẩm mĩ của độc giả văn học thị  
trường xoay quanh hai đꢁi tượng chính,  
truyện Tàu và truyện tình. Nhìn từ truyền  
thꢁng tiếp nhꢀn, hai kiểu văn chương thị  
trường này vꢁn là món ăn tinh thần của đại  
đa sꢁ người dân miền Nam ngay từ những  
năm đầu thế kỉ XX. Đặc điểm chung nhất  
của kiểu độc giả này đó là: i. Họ yêu thích,  
thꢀm chí là say mê các “sản phẩm” văn học  
trinh thám, hoang đường, dã sử, phiêu lưu,  
kiếm hiệp, chưởng, ái tình, v.v. bởi những  
thương phẩm này đã đáp ứng nhu cầu văn  
hóa, “mở ra một chân trời phong phú mênh  
mông hơn cuộc đời vô vị thường ngày”  
(Nguyễn Mộng Giác 1972b: 29) của độc giả  
thành thị; ii. Vì thế, đꢁi với nhiều độc giả,  
thưởng thức văn học giải trí được xem như  
là một hành vi kháng cự lại/ vượt thoát khỏi  
thực tại đời sꢁng ngột ngạt, chao đảo đang  
bao trùm toàn bộ miền Nam trong khoảng  
20 năm.  
3.1.2. Độc giả của văn học thị trường là ai?  
Chủ thể tiêu dùng của văn học thị trường  
là thị dân, bán thị dân, đꢁi tượng vừa tiêu  
thụ và vừa phục vụ quá trình tiêu thụ của xã  
hội miền Nam. Họ là một cộng đồng độc giả  
hỗn tạp với đủ mọi giai cấp, địa vị, nghề  
nghiệp, và thái độ văn hóa, chính trị, v.v.  
khác nhau: tiểu thương, thợ thủ công, trí  
thức, tư sản, công nhân, nội trợ, v.v.. Tuy  
nhiên, thành phần độc giả đông đảo nhất của  
văn học thị trường là bộ phꢀn lao động thuộc  
giới bình dân thành thị. Họ trước đây chủ  
yếu là nông dân, có cơ hội được gia nhꢀp và  
sinh hoạt văn nghệ là nhờ quá trình thành thị  
hóa người nông dân.  
Nhìn chung, giới độc giả của văn học thị  
trường gắn chặt với nhꢀt báo. Thói quen đọc  
nhꢀt báo và mãi lực của họ quyết định sinh  
mệnh của một tờ nhꢀt báo. Đó là lí do vì sao  
hầu hết các tác phẩm văn học giải trí, thị  
trường trước khi được in thành sách, chúng  
đều có tiền kiếp của chúng ở dạng feuilleton  
trên các nhꢀt báo. Vấn đề này đã được  
Thanh Nam lí giải như sau: “…thành phần  
độc giả của các báo hàng ngày cũng như  
hàng tuần ở Sài Gòn đa sꢁ thuộc giới bình  
dân, lao động, những bà những cô bán hàng  
3.1.4. Độc giả say mê truyện Tàu  
Văn học giải trí giai đoạn này đáng chú ý  
nhất là các tiểu thuyết ăn khách: truyện anh  
hùng, hảo hán, dã sử Tam Quốc diễn nghĩa  
(La Quán Trung), Đông Chu liệt quốc (Sài  
Nguyên Phóng), truyện trinh thám của  
Sherlock Holmes, Conan Doyle, truyện  
kiếm hiệp Ba người lính ngự lâm (A. Dumas  
père), truyện hoang đường Liêu trai chí dị  
307  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
(Bồ Tùng Linh), truyện viễn tưởng Xứ người  
mù (H.G. Wells), truyện kinh dị Bàn tay  
máu của Phi Long (Ngọc Sơn), truyện võ  
hiệp kỳ tình Kỹ nữ Gò Ôn Khâu (Hoài Điệp  
Thứ Lang - nhà thơ Đinh Hùng), Lệnh xé  
xác (Lã Phi Khanh - Vũ Bình Thư), v.v..  
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất phải kể đến hiện  
tượng Kim Dung. Việc tiếp nhꢀn Kim Dung  
vꢁn nằm trong truyền thꢁng tiếp nhꢀn truyện  
Tàu trước đó ở miền Nam. Độc giả miền  
Nam, nhất là độc giả nam giới, rất mê truyện  
Tàu (kiếm hiệp, truyện chưởng) thꢀm chí họ  
còn bị nhiễm nhân sinh quan của Tàu rất  
đꢀm (Bình Nguyên Lộc 1969: 13-14). Thú  
xem truyện Tàu (một tựa sách của Vương  
Hồng Sến) rất điển hình cho sinh hoạt văn  
học văn hóa trong 30 năm (1890-1920) ở  
miền Nam trước khi nó bị các tiểu thuyết  
của Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Hồ  
Biểu Chánh làm cho lụi tàn (Bình Nguyên  
Lộc 1969: 15). Năm 1961, dịch giả Từ  
Khánh Phụng với bản dịch Cô gái Đồ Long  
trên Báo Đồng Nai đã khởi mở đầu cơn sꢁt  
Kim Dung tại Việt Nam. Trong suꢁt giai  
đoạn 1965-1973, một cuộc chạy đua dịch  
thuꢀt, phát hành truyện võ hiệp, truyện  
chưởng của Kim Dung, thꢀm chí sáng tác  
truyện “nhái” Kim Dung, “ăn theo” Kim  
Dung trên hầu hết nhꢀt báo miền Nam. Cơn  
sꢁt Kim Dung còn kéo dài đến tꢀn giai đoạn  
1972-1974 khi bộ Lộc đỉnh ký được dịch và  
xuất bản (Nguyễn Văn Lục 2014). Có thể  
nói, sáng tác của Kim Dung là một hiện  
tượng văn học, văn hóa có tính dân tộc,  
xuyên dân tộc, và liên văn hóa, v.v. vượt ra  
khỏi những phạm trù/ thuꢀt ngữ hạn hẹp  
thường định danh chúng: “Văn học đại  
chúng”, “Văn học bình dân”, “Văn học tiêu  
khiển”, v.v..  
ở thành thị. Người đạp xích lô, tài xế taxi,  
giới tiểu thương cũng có thói quen đọc nhꢀt  
trình những khi vắng khách. Theo Hiếu  
Chân, “không chỉ có những người trong đại  
chúng bình dân, những học sinh, thợ thuyền  
và tiểu công tư chức mà ngay cả những tay  
đại trí thức, những người đã từng du học bên  
Âu - Mỹ trở về, đã từng đỗ những mảnh  
bằng cao nhất về luꢀt học hay khoa học cũng  
say mê võ hiệp tiểu thuyết như điếu đổ”  
(Trần Lê Hoa Tranh 2009). Chưa hết, theo  
Nguyễn Viết Khánh, các nhà tu hành cũng  
ham thích truyện chưởng của Kim Dung,  
“những ông bự và những ông đại sứ cho  
người về nước khuân hàng… thùng tài liệu  
Kim Dung để đem đi đọc ở xứ người. Các  
bà cũng thích chưởng. Giáo sư thảo luꢀn với  
học sinh về chưởng. Trẻ em đánh nhau  
ngoài đường cũng dùng chưởng…” (Trần Lê  
Hoa Tranh 2009). Vꢀy điều gì làm nên sức  
hấp dẫn của Kim Dung đꢁi với độc giả? Có  
thể thấy, Kim Dung đã xây dựng nên một  
thế giới võ lâm sꢁng động với các tình  
huꢁng lưỡng nan giữa chính - tà, thiện - ác,  
chính nghĩa - phi nghĩa, quá khứ - hiện tại,  
tình yêu - hꢀn thù, và lý trí - tình cảm.  
Những bài học nhân văn về tình huynh đệ,  
tình phụ tử, tình sư đồ, v.v. được chuyển tải  
khéo léo, hấp dẫn, xúc động qua thế giới võ  
lâm. Tri thức uyên bác của Kim Dung về  
nhân tình thế thái, về văn hóa Trung Hoa  
nhất là lịch sử và võ hiệp, ngôn ngữ đꢀm  
tính bình dân có sức hấp dẫn đặc biệt với  
độc giả nhất là nam giới. Các nhân vꢀt nữ  
trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung  
thường xinh đẹp, thông minh, tài năng và cá  
tính hoặc xuất thân từ tà ma ngoại đạo (ma  
giáo), hành tung và thân phꢀn đầy bí ẩn, v.v.  
thường chiếm trọn cảm tình của độc giả nam  
giới. Tuy là tiểu thuyết võ hiệp, có vẻ đẫm  
sắc thái nam tính và hợp hơn với nam giới,  
nhưng không, về bản chất, cũng có thể coi  
tác phẩm của Kim Dung là những câu  
chuyện diễm tình đầy nữ tính. Kim Dung đã  
“đánh trúng” tâm lí của con người về/ trong  
Tác phẩm của Kim Dung là món ăn tinh  
thần của mọi giai tầng, giới tính, lứa tuổi  
khác nhau. Ở miền Nam, văn hóa đọc nhꢀt  
trình, tiểu thuyết feuilleton, v.v. đã ăn sâu  
vào sinh hoạt hàng ngày của người lao động  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
308  
tình yêu. Các mꢁi tình đầy cắc cơ: chính  
phái yêu tà phái, bạch đạo yêu hắc đạo cùng  
với những hệ lụy của tình yêu - hꢀn thù,  
ghen tuông - mù quáng, v.v. có sức hút đông  
đảo với độc giả nữ giới.  
chuyện gì, bất kể lꢁi văn gì, miễn cho có  
chuyện tình là ưa đọc lắm” (Võ Văn Nhơn  
và cộng sự 2015: 93). Một sꢁ hiện tượng  
văn học ái tình bán chạy, ăn khách như: tiểu  
thuyết thấm đẫm sắc màu hiện sinh sꢁng  
gấp, yêu vội của Chu Tử (Yêu, Ghen, Loạn,  
Sống), Hoài Điệp Tử (Trái cấm), Thế Uyên  
(Tiền đồn, Ngoài đêm), Lê Xuyên (Vợ thày  
Hương), Nguyễn Thị Thụy Vũ (Mèo đêm,  
Đêm nay và mãi mãi); Túy Hồng (Vết  
thương dậy thì), Hoàng Đông Phương (Vòng  
tay học trò), v.v. hay các tꢀp thơ diễm tình  
của Nhꢀt Tuấn, v.v.. Chưa bàn đến chất  
lượng văn học hay giá trị thẩm mĩ, những tái  
trình hiện về chuyện tình trai gái, đời sꢁng  
tình yêu, tình dục cởi mở, mãi dâm và bạo  
lực, v.v. đã có hấp lực đꢁi với một bộ phꢀn  
độc giả trẻ, và tầng lớp bình dân Sài Gòn.  
Việc độc giả tiếp nhꢀn và tỏ ra yêu thích các  
tác phẩm này là một hiện tượng có tính tự  
nhiên của sinh hoạt văn nghệ Sài Gòn trong  
bꢁi cảnh văn hóa Âu Mỹ đã và đang lấn át  
văn hóa dân tộc. Trong sꢁ các hiện tượng  
tiểu thuyết diễm tình thu hút mãi lực của độc  
giả nói trên, đáng chú ý nhất là hiện tượng  
Chu Tử, một cây bút vꢁn bị dán nhãn là  
“suy đồi”, “phản động”. Tác giả Quꢁc Chính  
nhꢀn định như sau trong Tin Sách sꢁ 20  
(tháng 2/1964): “Hiện tượng đáng chú ý  
nhất trong năm là hiện tượng Chu Tử.  
Chúng tôi đã trình bày hiện tượng này trong  
sꢁ trước. Một điều đáng nói thêm là ngoài  
yếu tꢁ “đang ăn khách”, Chu Tử còn gặp  
thêm một điều may: các nhà xuất bản ghen  
tức lẫn nhau nên ganh đua nhau dành dꢀt tác  
phẩm của Chu Tử. Chắc chắn là truyện của  
Chu Tử còn bán chạy được khá lâu nữa, cho  
tới khi nào các nhà xuất bản chán hay mệt  
trong việc tranh dành không mấy lợi lộc  
này” (Phạm Việt Tuyển 1973: 14).  
Những huyền thoại của văn hóa bình dân  
thoát thai từ truyện võ hiệp của Kim Dung  
đã “ăn sâu bén rễ” trong tâm thức và sinh  
hoạt của người dân miền Nam. Các nam anh  
hùng - nữ mỹ nhân, chàng hào hoa - nàng  
diễm lệ, chính - tà, thiện - ác bước ra từ  
không gian truyện kể của Kim Dung để rồi  
hiện diện sinh động trong đời sꢁng văn hóa  
Sài Gòn. Niềm say mê truyện chưởng Kim  
Dung lớn đến nỗi phong vị Kim Dung bàng  
bạc trong khẩu khí sinh hoạt đời thường của  
người dân miền Nam. Trong đời sꢁng học  
thuꢀt, tên các nhân vꢀt của Kim Dung còn  
được một sꢁ học giả dùng làm bút danh:  
“Nhiều nhà văn từ việc mê chưởng đã lấy  
bút hiệu bằng tên một sꢁ nhân vꢀt mà họ  
tâm đắc trong truyện Kim Dung. Chu Văn  
Bình, ngoài những bút hiệu Chu Tử, Ao Thả  
Vịt, v.v. còn lấy thêm bút hiệu Kha Trấn Ác  
(một trong Giang Nam thất quái trong Anh  
hùng xạ điêu), Lê Tất Điều dùng bút hiệu  
Kiều Phong (nhân vꢀt trong Lục mạch thần  
kiếm), còn những người bạn Vũ Khắc  
Khoan thì lấy tên Hồng Thất Công (trong  
Anh hùng xạ điêu) đặt biệt hiệu cho Vũ vì  
Vũ cũng uꢁng rượu say sưa như nhân vꢀt  
này, Nguyên Sa lấy bút hiệu Hư Trúc (nhân  
vꢀt trong Lục mạch thần kiếm), Vũ Đức Sao  
Biển lấy bút hiệu Mạc Đại tiên sinh (Tiếu  
ngạo giang hồ), v.v.” (Trần Lê Hoa Tranh  
2009).  
3.1.5. Độc giả hứng thú với truyện tình  
Song song với tiếp nhꢀn truyện Tàu, độc  
giả thành thị miền Nam, nhất là nữ giới, còn  
rất hứng thú với truyện tình. Loại truyện này  
có cả một truyền thꢁng tiếp nhꢀn trước đó.  
Ngay từ năm 1925, Tùng Lâm trên Công  
luận báo đã nhꢀn xét: “Xã hội ta hiện giờ,  
phần nhiều lại ưa đọc tiểu thuyết tình bất kì  
Đầu năm 1972, hiện tượng Quỳnh Dao  
đã tái khởi động cho một cơn bộc phát, một  
cuộc đua ráo riết về bản quyền và dịch thuꢀt  
các sáng tác của Quỳnh Dao khắp các nhꢀt  
309  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
báo miền Nam. Sau quá trình quảng cáo  
“rùm beng”, tiếp nhꢀn ồ ạt, hiện tượng  
Quỳnh Dao nhanh chóng lụi tàn, không tạo  
được một cơn sꢁt kéo dài như hiện tượng  
Kim Dung. Có thể giải thích điều này với ba  
lí do cơ bản. Hiện tượng Quỳnh Dao là sự  
tiếp nꢁi khuynh hướng tiếp nhꢀn truyện  
diễm tình vꢁn đã được một sꢁ nhà văn, nhất  
là nữ giới khơi mở từ trước đó với mꢁi quan  
tâm thường trực của họ về phụ nữ, nữ  
quyền, chẳng hạn như: Nguyễn Thị Vinh,  
Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh cho đến  
Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng,  
Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ  
Hằng. Vì thế, hiện tượng Quỳnh Dao là  
“món ăn” vꢁn đã trở nên ngồn ngộn, ứ tràn  
trên “bàn tiệc” văn chương thời điểm đó. Sự  
thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của độc giả thành  
thị nữ mới nổi diễn ra đầy chóng vánh. Họ  
có xu hướng chạy theo thị trường sách báo  
phổ thông (trình bày màu sắc, hình ảnh bắt  
mắt) và các hình thức giải trí hấp dẫn, thời  
thượng và đa dạng hơn (chớp bóng, kịch  
nghệ, tivi, v.v.). Ngoài ra, chiến sự ngày  
càng khꢁc liệt, không khí loạn lạc, lo âu “leo  
thang” khiến cuộc sꢁng ngày càng trở nên  
khó khăn, bế tắc, do đó nhu cầu đọc và mãi  
lực của độc giả bị giảm sút. Từ sau năm  
1973, độc giả có xu hướng quan tâm đến  
chiến sự, chính trường - những vấn đề có  
tính tồn vong thay vì đắm chìm trong những  
câu chuyện [tình] tưởng tượng.  
nhất, theo Võ Phiến, là hạng người đọc “mới  
nổi” tham gia vào sinh hoạt văn chương đô  
thị nhờ quá trình thị dân hóa, và cũng nhờ sự  
hiện diện và tiêu sài dịch vụ của đông đảo  
binh lính Mỹ tham chiến: “Người ta có  
những lời nói khinh bạc về một vài hạng độc  
giả mới: hạng “các em”, hạng “sến”… Thꢀt  
ra, các cô thợ may, thợ uꢁn tóc, các cô bán  
hàng, các cô cꢀu trong những gia đình làm  
công, làm thợ… đều có thể thuê Kim Dung,  
Quỳnh Dao về giải trí, để nói năng cho hợp  
thời thức” (1974: 21). “Sự thăng tiến giả tạo  
vội vã của tầng lớp cần lao thành thị” đã tác  
động không nhỏ đến sinh hoạt văn chương  
miền Nam. Vấn đề này tôi sẽ trình bày cụ  
thể hơn ở phần sau.  
3.1.6. Đọc văn học thị trường như là cách  
thức vượt thoát thực tại  
Lý giải về sự lên ngôi của dòng văn học  
giải trí, tác giả Đoàn Thêm cho rằng: “Cuộc  
đời càng khó khăn, càng làm ăn một cách  
mệt nhọc, càng cần những giờ phút khuây  
khỏa, và tìm vui sꢁng” (1963: 46). Trong  
suꢁt 21 năm, không khí sinh hoạt miền Nam  
luôn trong tình trạng phong bế, chao đảo.  
Cuộc sꢁng ngày càng khó khăn đã làm nảy  
nở trong lòng người ham muꢁn được lãng  
quên. Vì thế mà, có thể coi dòng văn học thị  
trường: tiểu thuyết trinh thám, phiêu lưu, du  
kí, nhất là truyện Tàu, truyện tình, v.v. là  
một thứ “văn chương thoát ly”, một phương  
cách để tìm quên thực tại. Vì thế, theo  
Nguyễn Mộng Giác, tác giả của văn học thị  
trường cũng là người “sản xuất ảo giác”  
(1972a: 49). Còn theo cách nói giàu hình  
ảnh và hàm ý mỉa mai của Nguyên Sa, đó là  
thứ “bài tiết rỉ ra”, thứ “chỉ còn đủ sức làm  
đầy thêm cho cuộc sꢁng, vꢁn dư dả sung túc  
của thị dân ưu đãi, tô điểm thêm một tiếng  
cười khà, một tiếng vỗ đét vào vế khi trà dư  
tửu hꢀu” (Nguyễn Mộng Giác 1972a: 50).  
Đây cũng là hệ quả của việc nhà văn quá dễ  
dãi khi chiều theo thị hiếu sꢁ đông của độc  
giả, dẫn dụ họ vào “những thế giới mê hoặc  
Nhìn chung, độc giả chủ yếu của phân  
khúc văn học này là nữ giới. Họ có xu  
hướng thích những câu chuyện tình mùi  
mẫn, éo le, lâm li, bi đát, hoặc những câu  
chuyện có ý thức giải nam quyền/ phụ hệ.  
Họ chủ yếu là các bà nội trợ rảnh rỗi đọc  
trong khi chờ chồng đi làm về, hay các bà  
tiểu thương ở các chợ đọc lúc vắng khách,  
cũng có thể là các thiếu nữ mới lớn đang  
yêu, hay các quý cô học đòi đọc theo trào  
lưu. Tuy nhiên, một bộ phꢀn độc giả khác  
đáng chú ý nhất và cũng chiếm sꢁ lượng lớn  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
310  
huyền ảo, thế giới của chàng hào hoa và  
nàng diễm lệ, yêu nhau giữa khung trời mờ  
ảo của sương, trong gian phòng ngꢀp khói  
thuꢁc lá và men rượu nồng”. Những loại  
hình tiểu thuyết này làm khuây khỏa tinh  
thần, kích thích trí tưởng tượng của độc giả  
để họ tạm quên đi thực tại chán ngán của  
kiếp nhân sinh. Do đó, hệ lụy của văn học  
diễm tình, hay dòng văn học kéo độc giả vào  
không gian viễn mơ đã bị phê phán kịch liệt.  
đảo, phần lớn được đào tạo dưới nền giáo  
dục của Pháp. Sau biến cꢁ chính trị 1954,  
cuộc di cư vào Nam dưới tên gọi Chiến dịch  
con đường đến tự do (Operation Passage to  
Freedom) của hơn một triệu người di dân từ  
miền Bắc, bao gồm lực lượng trong hệ thꢁng  
chính quyền của thực dân Pháp, hàng chục  
vạn giáo dân, nhà kinh doanh, công chức,  
văn nghệ sĩ, kĩ sư bác sĩ, v.v.. Trong khi đó,  
ở miền Nam có khoảng 150.000 cán bộ,  
chiến sĩ, học sinh miền Nam tꢀp kết ra Bắc  
(Nguyễn Đình Lê 2010: 6-7). Ngoài ra,  
chính sách chiêu hồi của chính phủ VNCH  
nhằm khuyến khích, lôi kéo các thành phần  
vꢁn ủng hộ cách mạng (Mặt trꢀn Dân tộc  
Giải phóng miền Nam Việt Nam, Việt Nam  
Dân chủ Cộng hòa) thì nay đi theo tư tưởng  
được gọi là chính nghĩa VNCH, phục vụ cho  
chính thể VNCH.  
3.2. Độc giả của văn học nghệ thuật:  
“Ham đọc, hiếu học, ưa suy nghĩ”  
Đây là kiểu độc giả trí thức hay như cách  
diễn đạt “ham đọc, hiếu học, ưa suy nghĩ”  
(Võ Phiến 1974: 21) của ông Nguyễn Đình  
Vượng, chủ trương tạp chí Văn để định vị  
kiểu độc giả văn học nghệ thuꢀt. Theo Võ  
Phiến, trong suꢁt thời gian từ 1954-1964,  
kiểu độc giả này đã làm nên tiếng tăm cho  
các tờ Sáng tạo, Thế kỷ 20, Văn nghệ, các  
sách của Quan Điểm, Giao Điểm, với các  
tác giả như Thanh Tâm Tuyền, Mặc Đỗ, Mai  
Thảo, Dương Nghiễm Mꢀu, v.v.. Một kiểu  
ngôn ngữ “thời thượng” gắn với đặc tính  
chung của kiểu độc giả này đó là: “suy tư”,  
“dằn vặt”, khắc khoải”, “hoang mang” và  
“hiện hữu”, v.v.. Đꢁi tượng độc giả này đa  
phần là giới trí thức có trình độ văn hóa cao,  
và nhất là công chức, sinh viên và học sinh.  
Trước làn sóng tiếp nhꢀn văn học thị trường  
ồ ạt (Kim Dung, Quỳnh Dao, truyện diễm  
tình) được dịch giả, nhà văn và hệ thꢁng  
xuất bản phát hành hꢀu thuẫn, thao túng và  
chiều lòng thị hiếu độc giả, văn học nghệ  
thuꢀt và độc giả của nó dần dần bị thu hẹp  
đến mức tưởng chừng như “mất dạng” (Võ  
Phiến 1974: 21).  
Ở các đô thị, thị xã lớn như Đà Nẵng,  
Huế, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Sài Gòn, Cần  
Thơ, v.v. sự ra đời và ngày càng lớn mạnh  
của các trường, phân viện đại học, cao đẳng  
gắn với các trung tâm học thuꢀt, văn hóa, và  
hệ thꢁng báo chí văn nghệ đa dạng, v.v. đã  
dẫn đến sự hình thành của một bộ phꢀn đông  
đảo độc giả là giới trí thức thành thị: văn  
nghệ sĩ, giới giáo chức và sinh viên đại học,  
cao đẳng, v.v.. Theo Đoàn Viết Hoạt, sꢁ  
lượng sinh viên ở miền Nam ngày càng  
đông. Năm học 1954-1955 chỉ có tổng sꢁ  
2.145 sinh viên trên toàn miền Nam, đến  
năm học 1962-1963 đã lên tới 17.929, năm  
1964 tổng sꢁ sinh viên là 23.662, và năm  
1969 sꢁ này tăng lên tới 46.257 (1972: 83).  
Tương ứng với sꢁ lượng tăng của sinh viên,  
miền Nam cũng xuất hiện nhiều trường đại  
học. Trước năm 1963, ngoài Đại học Sài  
Gòn chỉ có thêm hai trường đại học khác  
mới được thành lꢀp: Viện Đại học Huế và  
Viện Đại học Đà Lạt. Từ năm 1963 xuất  
hiện thêm 5 trường đại học mới (trong đó 4  
trường đại học thuộc tư nhân và 01 trường  
đại học công - Viện Đại học Cần Thơ (Đoàn  
3.2.1. Tiền đề cho sự hình thành độc giả của  
văn học nghệ thuật  
Sự gia tăng về sꢁ lượng và trình độ của  
độc giả trí thức đến từ nhiều nguồn. Trước  
năm 1954, trí thức ở miền Nam khá đông  
311  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
Viết Hoạt 1972: 83). Chỉ sau ngành luꢀt, sꢁ  
sinh viên tꢁt nghiệp chuyên ngành văn từ  
1954-1974 là 2010 (cử nhân), 58 (cao học)  
chiếm sꢁ lượng đông hơn cả các ngành khác  
(Khoa học, Y, Dược, Kiến trúc) (Trần Ngọc  
Định 1975: 18). Theo Nguyễn Đình Lê và  
cộng sự, năm học 1973-1974, sau ngành  
Luꢀt, ngành Văn khoa thu hút nhiều sinh  
viên nhất với 26.673 người (2019: 287).  
Nhìn chung, sự hiện hiện đông đảo của sinh  
viên và các trường đại học đã góp phần nâng  
cao tri thức xã hội, tạo ra một lực lượng  
người đọc có tri thức nói chung.  
hồn của một nhân vꢀt nào” (1941: 36). Cuộc  
phỏng vấn bạn đọc: Độc giả bây giờ đọc  
tiểu thuyết nào? khởi đăng trên Tạp chí  
Nghệ thuật từ sꢁ 36 đến 57/1966 có lẽ là  
một nỗ lực dài hơi nhất nhằm làm sáng tỏ  
diện mạo thực sự của tiểu thuyết và độc giả  
văn học miền Nam. Nhà văn Mai Thảo chủ  
bút tờ Nghệ thuật đưa ra tổng kết dựa trên  
những hồi đáp của bạn đọc về 5 câu hỏi1 gợi  
ý của toà soạn. Về độ tuổi và công việc, như  
tôi đã khẳng định trước đó, độc giả văn học  
nghệ thuꢀt phần lớn là bộ phꢀn học sinh sinh  
viên, giáo chức, văn nghệ sĩ và một bộ phꢀn  
trí thức tiểu tư sản: “Phần lớn những bài trả  
lời đã đăng cũng như phần lớn những ý kiến  
toà soạn vừa nhꢀn được, đều gửi đến từ  
những cửa trường, những phân khoa (…),  
anh chị em sinh viên học sinh là thành phần  
hưởng ứng đông đảo và nồng nhiệt nhất”  
(Mai Thảo 1966: 10). Sở thích chung của họ  
là “những nhà văn mới, những nhà văn đang  
có nhiều tác phẩm được in ra, những nhà  
văn có mặt” (Mai Thảo 1966: 10). Điều này  
Bên cạnh đó phải kể đến các chương  
trình văn hóa giáo dục của Mỹ như: gửi sinh  
viên Việt Nam di du học ở Mỹ, gửi các phái  
đoàn nhân viên giáo dục Việt Nam đi tu  
nghiệp và thực tế tại Mỹ, hỗ trợ cho các cơ  
sở giáo dục trong nước, v.v.. Các chính sách  
giáo dục, văn hóa của Mỹ nhằm “Mỹ hóa  
học đường”, gây sức ảnh hưởng của Mỹ lên  
sinh hoạt văn hóa chính trị tại miền Nam đã  
có những kết quả nhất định. Do một bộ phꢀn  
lớn trí thức thành thị miền Nam còn đang bị  
ảnh hưởng sâu đꢀm văn hóa Pháp cho nên  
những nỗ lực của đế quꢁc Mỹ không đạt  
được như kì vọng. Nhìn chung, những tiền  
đề trên đã góp phần hình thành một lượng  
độc giả có trình độ kiến văn, có khả năng  
thẩm bình văn chương. Tuy nhiên, bộ phꢀn  
độc giả này chỉ là một thiểu sꢁ ở thành thị  
gồm học sinh sinh viên và một phần nhỏ trí  
thức xã hội khác (Nguyễn Văn Trung 1966:  
18).  
1 5 câu hỏi đó là:  
“i. Khi nói đến truyện, đến tiểu thuyết Việt Nam (kể  
cả những người viết truyện ngắn) bạn nghĩ tới tác  
giả nào trước hết?  
ii. Bạn theo dõi một tác giả như thế nào? Chỉ qua các  
tác phẩm hay còn qua đời sꢁng riêng? Bạn có đọc tất  
cả mọi tác phẩm của tác giả bạn thích không? Ví dụ  
có, thì bây giờ bạn thấy tác giả đó ra sao so với  
chính ông ta (hay bà, cô) từ khi bạn biết?  
iii. Bạn quan niệm như thế nào về vai trò của văn  
chương: văn chương dùng để giải trí hay văn chương  
có một giá trị nào đꢁi với chính bạn hoặc đꢁi với xã  
hội? Hoặc văn chương chỉ có giá trị với chính nó?  
iv. Vꢀy theo quan niệm bạn vừa nói (ví dụ văn  
chương là để giải trí thì tiểu thuyết có đáp ứng được  
phần nào điều bạn mong mỏi ở nó không? Nếu có,  
nó đáp ứng được như thế nào và nếu không, nó đã  
thất bại như thế nào?  
v. Bỏ ra ngoài mọi quan niệm trên và chỉ xét theo  
phần giá trị riêng của tác giả, xin bạn lꢀp cho một  
danh sách 10 nhà văn mà bạn thích nhất.  
Ngoài 5 câu hỏi này, bạn có thể phát biểu thêm  
những gì bạn muꢁn nói” (Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 35:  
7)  
3.2.2. Diện mạo của độc giả văn học nghệ  
thuật  
Có thể tạm dùng nhꢀn định của nhà văn  
Thạch Lam để định vị diện mạo của kiểu  
độc giả này: “Hạng này là những người  
không lười trí, họ ưa suy nghĩ, tư tưởng và  
tìm tòi. Họ thờ phụng và theo đuổi cái đẹp,  
cái hoàn toàn. Họ biết thưởng thức một câu  
văn hay, một ý tưởng sâu sắc, và cảm thấy  
một cái thú vô song khi sắp bước vào tâm  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
312  
cho thấy độc giả có xu hướng quan tâm đến  
những vấn đề đương thời, và những cách  
biểu đạt mới trong nghệ thuꢀt, “bạn đọc  
đứng về phía cái thế giới tiểu thuyết đang  
mở đường, đang tìm kiếm, đang thoát ly  
những chân trời tiểu thuyết cũ”. Không  
những vꢀy, bạn đọc còn bày tỏ niềm thích  
thú với những thể nghiệm mà nhà văn tạo  
dựng, đồng hành cùng nhà văn trên hành  
trình đầy chông chênh của viết và đọc, sáng  
tạo và thưởng thức. Mai Thảo đánh giá cao  
trình độ của độc giả: “…Cuộc phỏng vấn đã  
đem lại cho nhà văn một phát giác kỳ thú:  
người đọc bây giờ đã lớn bổng lên. Và là  
những người đọc ý thức, những người đọc  
tự do, không nằm trong khuôn mòn, không  
nói theo thành kiến” (Mai Thảo 1966: 31).  
Theo Mai Thảo, bạn đọc đã tái định nghĩa  
về khái niệm “tác phẩm”. Với bạn đọc, “tác  
phẩm bây giờ khác với tác phẩm cổ điển ở  
điểm nó không còn mang tinh thần của một  
kinh thánh văn chương. Tác phẩm chỉ là một  
đất đai gặp mặt, từ đó người mở thêm những  
cửa ngõ và những chân trời mới cho nhꢀn  
thức chủ quan của mình. Nói cách khác, tác  
phẩm chỉ là một động lực thúc đẩy và giúp  
đỡ con người trong khám phá bản thân và  
đời sꢁng”. Mai Thảo đã đưa ra một sự phân  
biệt về hệ hình thẩm mĩ và tiếp nhꢀn của độc  
giả văn học cổ điển và hiện đại. Từ đó, cho  
thấy bước chuyển đổi mới mẻ từ hệ hình văn  
học cổ điển sang hiện đại. Độc giả trở thành  
chủ thể tiếp nhꢀn với trạng thái bất tín, hoài  
nghi về những sự thꢀt được trình bày trong  
tác phẩm, thứ không còn là “kinh thánh” với  
một chân lí duy nhất nữa. Về thị hiếu của  
độc giả trí thức, phần lớn họ không đi theo/  
đứng ngoài thị hiếu của sꢁ đông độc giả văn  
nghệ thị trường (mặc dù có một bộ phꢀn độc  
giả trí thức say mê truyện Tàu), lựa chọn  
đọc của họ là những tác phẩm khiến họ phải  
suy nghĩ, trăn trở, thꢀm chí là dằn vặt. Sau  
năm 1954, độc giả của Nguyễn Mạnh Côn,  
Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quꢁc Sỹ, Mặc Đỗ,  
Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo là “những con  
người đầy ưu tư”, “bꢀn tâm về thời thế hoặc  
thắc mắc về vấn đề ý nghĩa cuộc sꢁng, về  
đường lꢁi chính trị, hoặc ít ra cũng băn  
khoăn theo dõi sự tìm kiếm một đường lꢁi  
sáng tác…” (Võ Phiến 1974: 21). Tác phẩm  
không mang đến cho họ những giờ phút  
nghỉ ngơi khuây khỏa, ngược lại tác phẩm  
làm dấy lên trong tâm tư họ những chất vấn  
miên man về bản thể và tha nhân: “Đọc  
không còn là giết thì giờ. Đọc là tìm kiếm  
những thì giờ đã mất” (Viên Linh 1966: 19).  
Minh chứng rõ nhất cho những đặc điểm  
trên của độc giả trí thức đó là chuyên mục  
“Bạn đọc viết về những nhân vꢀt tiểu thuyết  
V.N”2 khởi đi từ Nghệ thuật sꢁ 52. Có thể  
coi chuyên mục này là một nỗ lực kéo dài  
với mục đích “để người viết đꢁi diện người  
đọc”, người đọc trực tiếp trình bày, chất vấn  
với nhân vꢀt và tác giả tiểu thuyết.  
Độc giả trí thức đã tái định nghĩa “sự  
đọc” và “tác phẩm văn chương”. Mai Thảo  
nhꢀn định về một bộ phꢀn độc giả mới của  
văn chương: “Đꢁi với người đọc, cái mà  
người viết bây giờ đã thực hiện được, là đã  
đẩy được người đọc mình đến đứng chung  
với mình trên mặt điểm khởi hành mới, thỏa  
thuꢀn gia nhꢀp với mình vào một hành trình  
mới, cũng cảm thấy cần thiết như mình là  
phải có những trải nghiệm mới, đưa tới  
những khám phá và những thực hiện mới.  
Nội dung tiểu thuyết hiện nay dồn đuổi  
2
Các bài như: Tôn Thất Miên. 1966. “Một con  
người trong tác phẩm của Dương Kiền”, Tạp chí  
Nghệ thuật sꢁ 52: 10, 32; Nguyễn Thúy. 1966. “Kẻ  
không muꢁn mất tích trong một tác phẩm của Thanh  
Tâm Tuyền”. Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 53: 4-5; Đỗ Tư  
Nhơn. 1966. “Về chuyến viễn du bí mꢀt của chàng”.  
Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 54: 10-11, 22; Nguyên Anh.  
1966. “Cô đơn thân phꢀn trong truyện Nguyễn Đình  
Toàn”. Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 55: 10-11, 23; Đoàn  
Minh Hải. 1966. “Sợi dây, Duy Thanh tôi với Đạo”.  
Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 56: 10-11; Trương Văn Ngọc.  
1966. “Chiến tranh và tai nạn qua nhân vꢀt Michèle  
Gấm của Thụy Vũ”. Tạp chí Nghệ thuật sꢁ 57: 10-  
11, 23.  
313  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
người đọc ra khỏi cái tinh thần thưởng  
ngoạn bình yên hằng cửu là thái độ xưa cũ  
của người đọc trước những tác phẩm cổ  
điển. Tác phẩm cổ điển là những cuꢁn kinh  
thánh bằng văn chương. Đọc và tin. Giữa tác  
phẩm cổ điển, với tác giả cổ điển và người  
đọc là một trạng thái chấp nhꢀn và thỏa  
thuꢀn hoàn toàn về đời sꢁng và cho chính  
bản thân người đọc. Đọc bây giờ khác. Đọc  
không còn đem lại yên ổn cho tâm hồn, mà  
trái lại, tiểu thuyết bây giờ bảo người đọc là  
cuộc đời không phải như vꢀy đâu, như trong  
những tác phẩm cổ điển. Bằng những lột  
trần tàn nhẫn, bằng những đào xâu xuꢁng  
những tầng đáy chưa khám phá của tiềm  
thức và tâm linh, tiểu thuyết chúng ta hiện  
nay đã thành công một phần nào trên ý  
hướng đem lại cho người đọc một đòi hỏi  
mới, tạo cho người đọc một nhꢀn thức mới.  
Nói khác, ở người đọc đã có một thái độ mới  
về tiêu chuẩn thưởng ngoạn. Qua tiểu thuyết  
của chúng ta hiện nay, người viết và người  
đọc đã gặp nhau trên một đất đứng chung.  
Đó là những băn khoăn đòi xét lại” (BBT  
1965: 7). Nhꢀn định này của Mai Thảo cho  
thấy những chuyển biến của lꢁi sáng tác,  
thꢀm chí là lí luꢀn, phê bình văn học lấy  
người đọc làm trung tâm (reader-response  
criticism) thay vì lấy văn bản làm trung tâm  
(text-centred criticism) trước đó.  
lại được bổ trợ bằng thực tế là một sꢁ tác  
phẩm của Khái Hưng như: Hồn bướm mơ  
tiên, Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ đều  
hiện diện trong chương trình quꢁc văn của  
học sinh trung học… đã tạo điều kiện cho  
Nhà xuất bản Văn nghệ phát hành và tái bản  
được một sꢁ lượng lớn tiểu thuyết của Khái  
Hưng. Trước đó, một bộ phꢀn tác giả (Duy  
Thanh và cộng sự 1960) đã chất vấn lại/  
nhìn lại các giá trị của Tự lực văn đoàn nói  
riêng và văn hóa văn học thời tiền chiến nói  
chung.  
Trong giai đoạn từ năm 1966-1968, trước  
sự lấn át của dòng văn học thị trường, dự án  
sách phổ thông (sách hay, dễ đọc, in với sꢁ  
lượng nhiều) của Nhà xuất bản Văn là một  
nỗi lực để kháng cự lại sự lấn lướt của dòng  
văn học thị trường và sự suy tàn của dòng  
văn học nghệ thuꢀt. Sự thành công của dòng  
sách phổ thông cho thấy văn học “nghiêm  
chỉnh” vẫn có chỗ đứng dù khiêm nhường  
trong thị trường tiêu thụ cạnh tranh khꢁc  
liệt. Ông Nguyễn Đình Vượng chủ Nhà xuất  
bản Văn đã thương thảo nhuꢀn bút thấp với  
tác giả cꢁt để có giá bán rẻ hơn, từ đó kích  
cầu độc giả mua sách. Một sꢁ tác phẩm văn  
học miền Nam của Nhà xuất bản Văn bán  
chạy là: Tuổi nước độc (Dương Nghiễm  
Mꢀu), Người về đầu non (Võ Hồng), Gia  
đình tôi (Duy Lam), Khuôn mặt (Thanh Tâm  
Tuyền), Chị em Hải (Nguyễn Đình Toàn),  
v.v.. (Nghê-Bá-Lí 1969c: 78-79).  
Độc giả, nhất là một bộ phꢀn độc giả trẻ  
sinh sau năm 1945 muꢁn tìm hiểu các sáng  
tác tiền chiến và văn hóa tiền chiến. Từ năm  
1967, một bộ phꢀn độc giả trí thức thành thị  
có xu hướng tiếp nhꢀn di sản của Tự lực văn  
đoàn, nhất là Khái Hưng, một hiện tượng  
văn hóa đọc ngoại lệ, nằm ngoài quán tính  
thị trường. Việc độc quyền xuất bản tác  
phẩm của Khái Hưng kể từ cuꢁi năm 1963,  
cùng với trào lưu phục hồi ánh hào quang  
một thời của Tự lực văn đoàn nói riêng và  
văn thơ tiền chiến nói chung (từ năm 1967)3,  
3.2.3. Đọc văn học nghệ thuật chưa trở  
thành một nhu cầu văn hóa cần thiết  
Đọc văn học chưa trở thành một nhu cầu  
văn hóa có tính cấp thiết nếu so với nhꢀt  
báo, hoặc so với các bộ môn nghệ thuꢀt  
khác, chẳng hạn kịch nghệ và điện ảnh. Từ  
“văn học” ở đây là chỉ văn học nghệ thuꢀt,  
cꢁ Mꢀu Thân đến nay”. Tạp chí Tân văn sꢁ 16&17:  
1-11 ; và Mai Thảo. 1969. “Trước phong tào tái bản  
và làm sꢁng lại văn thơ tiền chiến”. Tạp chí Tân văn  
sꢁ 16&17: 21-31  
3 Xin xem thêm hai bài viết được đăng trên Tân văn:  
Nguyễn Hiến Lê. 1969. “Tình hình xuất bản từ biến  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
314  
văn học “nghiêm chỉnh”, thuộc về một nghệ  
thuꢀt vꢁn không mang đến cho độc giả giây  
phút tiêu khiển và giải trí đơn thuần, ngược  
lại, nó đòi hỏi ở độc giả tính nhẫn nại, khả  
năng đồng hành cùng tác phẩm trên hành  
trình đầy chênh vênh, gian nan của sự đọc.  
Có chăng, văn học chỉ thực sự trở thành  
“món ăn tinh thần” đꢁi với một bộ phꢀn nhỏ  
độc giả: sinh viên (chủ yếu Văn khoa), giới  
văn nghệ sĩ, trí thức xã hội khác. Văn học  
nghệ thuꢀt và độc giả của nó hoàn toàn bị  
lép vế, bị dồn đuổi vào “phần đất hẹp khiêm  
nhường vả lẻ loi” (Nguyễn Mộng Giác  
1975: 30) trước sức mạnh thao túng của thị  
trường và làn sóng ngấu nghiến truyện Tàu,  
truyện tình hay truyện trinh thám, kinh dị  
của đại đa sꢁ quần chúng. Thực vꢀy, theo  
Nguyễn Mộng Giác (1972a: 49), mặc dù hầu  
hết các tiểu thuyết ở miền Nam trước khi  
được in thành sách đều có tiền kiếp của  
chúng là feuilleton trên các nhꢀt báo, nhưng  
phần lớn đều là tiểu thuyết võ hiệp, diễm  
tình nặng tính giải trí, chiều theo sꢁ đông thị  
hiếu độc giả. Trong khi đó, các tạp chí văn  
nghệ, trước đó là Sáng tạo, rồi Văn, Trình  
bày, Khởi hành, Vấn đề… hầu như “chìm  
trong sự hờ hững của quần chúng, mất địa  
vị, mất ảnh hưởng…” (Võ Phiến 1972: 42).  
sách học làm người, sách tri thức bỏ túi,  
sách giải trí vꢁn bán rất chạy và được hàng  
loạt các nhà sách đua nhau ấn hành. Thꢁng  
kê đến năm 1968, các cuꢁn: Đắc nhân tâm,  
Nghệ thuật nói trước công chúng, Kim chỉ  
nam cho học sinh, v.v.. là những đầu sách  
bán chạy nhất của Nhà xuất bản Nguyễn  
Hiến Lê (Nghê-Bá-Lí 1969a: 38). Với Nhà  
xuất bản An Tiêm, hai cuꢁn Hố thẳm của tư  
tưởng (9.000 bản), Tự do đầu tiên và cuối  
cùng (Krishnamurti, Phạm Công Thiện dịch  
4.000 cuꢁn, đang in lại) liên quan đến tác  
giả và dịch giả Phạm Công Thiện bán chạy  
nhất (Nghê-Bá-Lí 1969a: 112). Hoặc với  
Nhà xuất bản Lá Bꢁi, các tựa sách của thiền  
sư Thích Nhất Hạnh được tái bản với sꢁ  
lượng lớn, chẳng hạn cuꢁn Nói với tuổi hai  
mươi được tái bản 3 lần với tổng in 21.000  
cuꢁn, cuꢁn Đạo Phật ngày nay được tái bản  
3 lần, cuꢁn Bông hồng cài áo được in  
70.000 bản (Nghê-Bá-Lí 1969b 66). Một ấn  
phẩm dịch khác thuộc dòng Sách giáo dục  
mới được đông đảo thanh thiếu niên yêu  
thích đó là cuꢁn Tâm hồn cao thượng  
(Edmond de Amicis) được Nhà xuất bản  
Sꢁng mới tái bản liên tục đến lần thứ 14 (Vũ  
Hạnh và cộng sự 2008: 391). Nhìn chung,  
các đầu sách bán chạy nói trên phần lớn là  
sách dịch, trong đó đáng chú ý là dòng sách  
self-help. Dòng sách này luôn chiếm lĩnh thị  
trường sách miền Nam và nhìn vào thực tiễn  
ngày nay, đây cũng là dòng sách được tiêu  
thụ nhiều nhất toàn cầu.  
Theo Nguiễn-Ngu-Í, người thuꢀt lại  
“Buổi nói chuyện về tình trạng bế tắc trong  
ngành tiểu thuyết Việt Nam”, một trong  
những nguyên nhân đẩy tiểu thuyết Việt  
Nam đương thời đi vào bế tắc đó là ý thức  
đọc sách, văn hóa đọc của độc giả còn rất  
thấp (1962: 109). Điều này còn được minh  
chứng qua sꢁ liệu thꢁng kê lượt mượn sách  
tại các thư viện vào năm 1961. Sꢁ lượt  
mượn sách của người Việt rất thấp so với  
một sꢁ nước khác có cùng tỷ lệ dân sꢁ  
(Đoàn Thêm 1963: 49). Ngoài ra, thꢁng kê  
các ấn phẩm được phát hành nhiều nhất giai  
đoạn trước còn cho thấy sꢁ lượng tiêu thụ  
sách văn học còn khá thấp so với sách giáo  
khoa, sách kĩ năng sꢁng, sách giáo dục mới,  
4. Độc giả và tác động của văn hóa xã hội  
4.1. Người nông dân: Từ quá trình ngoại  
biên hóa đến trung tâm hóa sinh hoạt văn  
chương  
Một bộ phꢀn độc giả bình dân của văn  
chương tiêu khiển ở các đô thị lớn được  
hình thành từ quá trình thị dân hóa nông  
dân. Người nông dân bị cưỡng bức, bị ngoại  
315  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
biên hóa (marginalization) khỏi môi trường  
đồng ruộng để lánh trú và mưu sinh ở đô thị.  
Từ đây, họ trở thành thị dân, bán thị dân với  
nhu cầu tiêu dùng văn chương như là thú  
tiêu khiển.  
tại Việt Nam hay một vụ “xuꢁng đường” tại  
Sài Gòn (…) Chúng ta chưa hề có một tờ  
báo của nông dân. Chúng ta chỉ có những tờ  
báo của một thiểu sꢁ trí thức trưởng giả  
(ngay cả tờ báo mà quý bạn cầm trên tay  
đây). Trong khi chúng ta có biết bao điều để  
nói với nông dân và họ cũng có biết bao  
điều để nói với chúng ta” (1965: III-IV).  
Văn học, nhất là văn học thị trường gắn chặt  
với nhꢀt báo nhưng nhꢀt báo (nhất là các  
nhꢀt báo chꢁng cách mạng) cũng chỉ được  
phân phꢁi đến các quꢀn huyện tỉnh lị trong  
vùng tạm bị chiếm, khó có thể đi sâu hơn  
vào các vùng nông thôn, cao nguyên miền  
Nam. Nhꢀt báo là vꢀy, còn tạp chí văn nghệ  
hầu như không có vai trò và ảnh hưởng gì  
đến người nông dân. Với họ, tất cả những gì  
không phải là “miếng cơm”, “manh áo” đều  
là xa xỉ phẩm. Thân phꢀn văn hóa đọc của  
người nông dân được hình thành và có vai  
trò quan trọng trong sinh hoạt văn nghệ đô  
thị kể từ sau quá trình di dân vào các đô thị  
lớn ở miền Nam do tác động của chiến tranh  
và thời cuộc.  
4.1.1. Từ quá trình ngoại biên hóa…  
Đại đa sꢁ nông dân miền Nam bị gạt ra  
bên lề sinh hoạt nghệ thuꢀt và báo chí. Từ  
năm 1955, dưới sự kiểm soát và chꢁng phá  
của chính quyền VNCH, Thành ủy, Khu ủy  
Sài Gòn cũng như giới văn nghệ sĩ yêu nước  
khó có thể gây dựng được một bộ phꢀn độc  
giả quần chúng văn học hiện thực xã hội chủ  
nghĩa lớn mạnh, thꢁng nhất như ở miền Bắc.  
Vì thế, các nhóm thực thể độc giả có tính lai  
ghép như: “độc giả quần chúng”, “độc giả -  
chiến sĩ”, “nhà văn - chiến sĩ” dường như  
chỉ gắn với bộ phꢀn độc giả và tác giả của  
dòng văn học chꢁng Pháp và chꢁng Mỹ  
(trong điều kiện hoạt động ở các vùng giải  
phóng) và hầu như xa lạ với sinh hoạt văn  
chương ở các đô thị miền Nam. Mặt khác,  
độc giả quần chúng công nông binh, không  
phải là chủ thể tiếp nhꢀn chính của nền văn  
hóa văn nghệ miền Nam. Hầu hết các nhà  
xuất bản, tạp chí văn học nghệ thuꢀt đều đặt  
trụ sở tại các đô thị lớn, hướng đến nhu cầu  
của hai đꢁi tượng độc giả chính yếu: độc giả  
của văn học thị trường và văn học nghệ  
thuꢀt. Ngay cả với báo chí, người nông dân  
cũng không phải là đꢁi tượng độc giả tiềm  
năng của nó. Đánh giá về mꢁi quan hệ giữa  
người nông dân và báo chí Sài Gòn, tác giả  
Dương Kiền cho rằng: “Báo chí là phương  
tiện tuyên truyền mạnh mẽ nhất tại thành thị,  
nhưng chỉ tại thành thị mà thôi. Một người  
nông dân không thể tìm thấy một điều gì  
liên quan đến họ trong một tờ báo. Người  
nông dân X. tại một làng Y. đọc một tờ báo  
xuất bản tại Sài Gòn cũng dửng dưng như  
chúng ta đọc một tờ báo xuất bản tại Mã Lai  
chẳng hạn, mặc dù làng Y. chỉ cách Sài Gòn  
chừng vài chục cây sꢁ và tờ báo X. dành cả  
4 trang cho tình hình Việt Nam, chiến cuộc  
4.1.2. Đến quá trình trung tâm hóa sinh hoạt  
văn chương  
Từ giữa thꢀp niên 1960 trở đi, độc giả  
văn học miền Nam có sự thay đổi về thành  
phần, khuynh hướng thẩm mĩ, độ tuổi và  
nghề nghiệp. Một bộ phꢀn lớn độc giả bình  
dân mới nổi là kết quả của quá trình trung  
tâm hóa sinh hoạt văn chương đô thị.  
Khởi đi từ Chiến tranh cục bộ (1965-  
1967), phương lược của Mỹ và chính quyền  
Sài Gòn là bình định vùng nông thôn, nhất  
là nông thôn đồng bằng ven các đô thị.  
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,  
Mỹ đã sử dụng 14 triệu tấn bom đạn, rải  
chất độc hóa học khắp vùng nông thôn miền  
Nam (Nguyễn Đình Lê và cộng sự 2019:  
187). Cuộc chiến khꢁc liệt giữa chính quyền  
Sài Gòn và cách mạng để giành giꢀt từng địa  
bàn nông thôn đã đẩy sinh mệnh và cơ  
nghiệp của người nông dân vào cảnh “màn  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
316  
trời chiếu đất”. Từ giữa năm 1965, làn sóng  
di cư từ vùng chiến sự ác liệt đến các vùng ít  
ác liệt hơn hoặc đến các khu ven đô, đô thị  
diễn ra với tần suất liên tục và sꢁ lượng  
đông đảo. “Trong Chiến tranh cục bộ và  
nhất là thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh,  
theo quan sát của báo chí nước ngoài, tính  
đến năm 1971 đã có 6 triệu dân nông thôn  
bỏ ruộng vườn, quê hương đi nơi khác.  
Trong sꢁ này có 4,2 triệu dân sơ tán vào  
thành thị” (Nguyễn Đình Lê và cộng sự  
2019: 166). Trung bình cứ mỗi người nông  
dân sẽ phải sơ tán 2 lần trong đời (Nguyễn  
Đình Lê và cộng sự 2019: 188). Với mục  
đích lánh nạn và kiếm sꢁng, hàng triệu  
người nông dân đã đổ vào các thành phꢁ lớn  
ở miền Nam, “chiến tranh đã ép người nông  
thôn thành thị dân” (Nguyễn Đình Lê và  
cộng sự 2019: 74), từ đó, đưa tỉ lệ dân sꢁ đô  
thị từ 17-18% trước 1960 lên khoảng 40%  
vào 1973 (Nguyễn Đình Lê và cộng sự  
2019: 190-191). Có thể nói, thực trạng các  
đô thị ngày càng gia tăng về dân sꢁ là hiện  
tượng phổ biến của quá trình chuyển đổi từ  
văn minh nông nghiệp sang văn minh cơ  
giới, từ nông nghiệp sang công nghiệp.  
sꢁng vꢀt chất và tinh thần. Bộ phꢀn thị dân  
mới nổi này nhanh chóng thích nghi và hòa  
nhꢀp với nền kinh tế hàng hóa và văn hóa  
tiêu dùng. Theo Nguyễn Mộng Giác, độc giả  
mới nổi này có đặc điểm chung như sau:  
“Những người bỏ đồng ruộng tản cư lên phꢁ  
tìm được việc làm, con cái được ăn học, đời  
sꢁng gia đình được thăng tiến. Sự trù phú  
giả tạo ở các thị trấn ảnh hưởng đến tinh  
thần lớp thị dân mới mẻ. Họ nhiễm dễ dàng  
các thói xấu của kẻ mất gꢁc, chạy đi tìm  
những hình thức họ tưởng là kiểu mẫu mới,  
liều lĩnh, nhẹ dạ, đua đòi học làm sang. Sꢁ  
độc giả mới rất đông đảo này có một tâm  
tình khác hẳn với sꢁ thị dân cũ và sꢁ công  
chức học sinh lâu nay là độc giả trung thành  
của tạp chí văn học. Họ dễ dàng tin theo  
những lời quảng cáo, mê chuộng thời trang,  
lo lắng sợ bị chê là quê mùa. Do đó sách báo  
ở trình độ phổ thông (loại báo phụ nữ, sân  
khấu, cải lương, bói toán, trinh thám, v.v.)  
bán rất chạy ở các thành thị” (Nguyễn Mộng  
Giác 1972b: 28-29). Họ trở thành bộ phꢀn  
độc giả chủ lực của văn học thị trường, đọc  
văn chương như một thú tiêu khiển. “Sự  
thăng tiến giả tạo vội vã của tầng lớp cần lao  
thành thị” mới nổi này đã tác động mạnh mẽ  
đến sinh hoạt văn chương miền Nam. Việc  
nuông chiều dễ dãi thị hiếu giải trí của bộ  
phꢀn độc giả này khiến cho yếu tꢁ thương  
mại ngày càng lấn lướt yếu tꢁ nghệ thuꢀt,  
đẩy văn học nghệ thuꢀt “vào phần đất hẹp  
khiêm nhường và lẻ loi” (Nguyễn Mộng  
Giác 1975: 30).  
Hiện tương di dân này còn được hꢀu  
thuẫn bởi sự hiện diện đông đảo của binh  
lính Mỹ và quân đồng minh, nhất là trong  
giai đoạn 1965-1972. Bên cạnh nguồn viện  
trợ khổng lồ rót vào chính thể VNCH, lực  
lượng binh lính Mỹ, hiện thân sinh động của  
văn hóa Mỹ với mức lương cao và tư tưởng  
“FTA” (Fun Travel Adventure: vui vẻ - du  
lịch - phiêu lưu) đã tiêu dùng và hưởng thụ  
các dịch vụ văn hóa giải trí (quán rượu, ổ  
điếm, vũ trường, rạp chớp bóng, sân khấu,  
v.v.) ở miền Việt Nam. Vì thế, xã hội miền  
Nam rất cần một lực lượng lao động bình  
dân thành thị để tham gia vào các quá trình  
phục vụ, tiêu thụ và vꢀn hành. Những người  
nông dân bị “bứng” khỏi đồng ruộng, phải  
lên thành phꢁ mưu sinh, nơi có điều kiện  
kiếm tiền dễ hơn, cho phép họ cải thiện đời  
4.2. Độc giả tiếp nhận đa dạng văn hóa Xô  
viết  
Ngoài ra, cũng có một sꢁ tờ báo với tư  
tưởng đꢁi lꢀp cách mạng hoạt động sôi nổi  
như: Ngôn luận (chủ bút Hà Ðức Minh),  
Chính luận (chủ bút Đặng Văn Sung) (hai tờ  
báo này của người Bắc Kỳ di cư, nổi tiếng ở  
Sài Gòn), nhꢀt báo Sóng thần, tuần báo Đời  
(chủ bút Chu Tử), Trắng đen (chủ bút Việt  
317  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
Định Phương), v.v.. Khác với độc giả quần  
chúng ở miền Bắc, vꢁn chịu ảnh hưởng sâu  
đꢀm của văn hóa Xô viết (nhất là văn hóa  
mác xít), độc giả miền Nam lại có xu hướng  
tiếp nhꢀn điều độ, cởi mở và tự do hơn, bao  
gồm cả văn hóa phản ý thức hệ Xô viết. Có  
thể thấy, ở miền Bắc, hầu hết các tác giả văn  
học Xô viết đoạt Giải thưởng Quꢁc tế Lenin,  
Giải thưởng Nhà nước Liên Xô, Giải thưởng  
Nhà nước Liên bang Nga, v.v. đều được  
điều phꢁi để trở thành những xuất bản phẩm  
chủ lực, được tái bản nhiều lần với sꢁ lượng  
lớn, được phát hành và tuyên truyền rộng  
khắp. Những tác phẩm chính trị này đóng  
vai trò quan trọng trong việc truyền bá ý  
thức hệ mác xít. Độc giả miền Nam tiếp  
nhꢀn đa dạng, trong đó phải kể đến các tác  
giả chꢁng cộng quꢁc tế, phản chủ nghĩa xã  
hội vꢁn xa lạ với độc giả miền Bắc, ví dụ  
công trình Thần đêm u ám (tꢀp hợp các bài  
viết bị gán nhãn là “chính trị phản động” của  
Richard Crosman, Raymond Aron, Ignazio  
Silone, Richard Wright, Arthur Koestler,  
v.v.); Các tiểu thuyết Số không với vô tận  
(Arthur Koestler), Độc hành, Lối thoát cuối  
cùng, Giờ thứ hai mươi lăm (Constantin  
Virgil Gheorghiu), v.v.. Theo Trần Trọng  
Đăng Đàn, việc dịch và xuất bản các tài liệu  
sách báo có tính phản mác xít, chꢁng cộng  
nằm trong guồng máy “chiến tranh tâm lý”  
(2015: 37) của chính quyền Sài Gòn. Nhìn  
chung, việc tiếp nhꢀn văn học Xô viết của  
độc giả miền Nam có phần cởi mở, đa dạng  
hơn và không mang tính phong trào và đại  
chúng so với độc giả miền Bắc.  
(điển hình là Pháp, Mỹ, Anh), trong đó phải  
kể đến khuynh hướng văn học bị dán nhãn là  
“suy đồi”, “phản động”. Theo Trần Trọng  
Đăng Đàn, năm 1976, thꢁng kê sách dịch ở  
miền Nam như sau: “Dịch và giới thiệu tác  
phẩm của các tác giả Pháp: 499 tên sách;  
Tiếp theo đó là của các tác giả Trung Quꢁc,  
bao gồm cả lục địa Đài Loan và Hồng Kông:  
358 tên sách của các tác giả Hoa Kỳ: 273  
tên sách; Của các tác giả Nga và Xô viết:  
120 tên sách; Của các tác giả Anh: 97 tên  
sách; Của các tác giả Nhꢀt: 71 tên sách; Của  
các tác giả Ý: 58 tên sách; Của các tác giả  
Đức: 57 tên sách; cùng 156 tác phẩm dịch  
và công trình, bài viết về văn học nghệ thuꢀt  
của các nước khác” (2015: 40). Trước hết,  
sꢁ lượng sách Pháp được dịch thuꢀt và tiếp  
nhꢀn ở miền Nam Việt Nam cho thấy quán  
tính tiếp nhꢀn và ảnh hưởng sâu đꢀm nền  
văn hóa này của độc giả văn học vꢁn có từ  
hơn một thế kỉ. Kể từ khi xâm lược miền  
Nam, Mỹ đã thực hiện nhiều sách lược để  
Mỹ hóa văn hóa Việt Nam, giảm bớt dần  
ảnh hưởng của văn hóa Pháp trong sinh hoạt  
tinh thần của người dân miền Nam. Mặt  
khác, trào lưu sách dịch nhộn nhịp đến mức  
lạm phát thị trường chữ nghĩa. Kể từ năm  
1972, có lẽ trong bꢁi cảnh o ép của không  
khí chiến tranh tao loạn, chính sách kiểm  
duyệt gắt gao hơn trước, tình trạng rệu rã  
của sáng tác, xuất bản, phát hành văn học  
trong nước, cho nên sách dịch là cách tꢁt  
nhất để đáp ứng cung cầu của thị hiếu độc  
giả, khai thác nguồn tiềm năng sẵn có (một  
đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp, nguồn bản  
thảo dồi dào, hấp dẫn), đồng thời giúp các  
nhà sách gắng gượng sꢁng sót qua cơn bĩ  
cực. “Cuꢁi năm 1972, ngồi kết toán, những  
nhà phát hành đã ước lượng rằng tỷ lệ sách  
dịch thuꢀt của 1972 tăng lên khoảng từ 60%  
đến 65% tổng sản lượng ấn loát phẩm (…).  
Sang tới năm 1973, tỷ lệ nói trên còn vọt  
cao hơn nữa, đạt đến mức xấp xỉ 80%” (Đào  
Trường Phúc 1973: 33). Đánh giá về hiện  
tượng nổi lên của sách dịch trong năm 1972,  
4.3. Độc giả tiếp nhận ồ ạt văn hóa văn học  
phương Tây  
Trong khi độc giả miền Bắc tiếp nhꢀn  
chủ yếu văn hóa văn học phe xã hội chủ  
nghĩa (Xô viết [nhất là Nga], Trung Quꢁc)  
(Lê Quꢁc Hiếu 2020: 56), độc giả miền Nam  
lại có thiên hướng tiếp nhꢀn đa dạng, tự do  
văn hóa văn học nghệ thuꢀt phương Tây  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
318  
1973, Đào Trường Phúc lí giải: “… Trong  
mấy năm qua, càng lúc, đà sáng tác của  
những nhà văn Việt Nam càng có vẻ chꢀm  
lại, và hiểu theo một cách nào đó thì dần dà  
người ta đã có dịp ghi nhꢀn sự chênh lệch  
giữa mức cung và mức cầu của món ăn tinh  
thần, hay nói cách khác, sự thiếu thꢁn tác  
phẩm so với mức độ đòi hỏi của độc giả. Vì  
sao các nhà văn Việt Nam viết ít đi và viết  
chꢀm lại? Vấn đề ấy được ràng buộc với  
nhiều yếu tꢁ tế nhị: hoàn cảnh sinh hoạt cá  
nhân, sự khó khăn trong ngành xuất bản và  
phát hành, những trở ngại về kiểm duyệt…”  
(1973: 36-37). Nhìn chung, độc giả văn học  
miền Nam có xu hướng lựa chọn sách văn  
học ngoại, “sách nhꢀp cảng” thay vì văn nội  
hóa, có lẽ là bởi sách ngoại mở ra những  
chân trời kiến thức rộng lớn, đa dạng về văn  
hóa nhất là văn hóa Âu Mỹ vꢁn đang được  
khuyến khích để “ăn sâu bén rễ” trong sinh  
hoạt tinh thần ở miền Nam Việt Nam.  
trong sinh hoạt văn học miền Nam. Không  
khí chiến tranh tao loạn tác động sâu rộng  
đến khả năng sáng tác của nhà văn, năng  
suất phát hành của nhà xuất bản, và mãi lực  
của độc giả. Chẳng hạn, biến cꢁ Mꢀu Thân  
(1968) làm phá sản, điêu đứng, và tê liệt một  
sꢁ tạp chí và nhà xuất bản ở miền Nam, đời  
sꢁng của người dân ngày càng khꢁn khó:  
“Mải lo trăm chuyện: vꢀt giá cứ hiên ngang  
leo thang mà đồng bạc cứ âm thầm xuꢁng  
giá, lo làm sao đủ tiêu cho tới cuꢁi tháng;  
Hết lo thiếu sữa, thiếu gạo, bây giờ lại lo  
thiếu đường; Lo tin tức con cháu ngoài mặt  
trꢀn, lại lo bị giꢀt xách tay ở giữa đường, lo  
điều chỉnh tờ khai gia đình, lo địch dọa tấn  
công mạnh vân vân, vì vꢀy tinh thần lúc nào  
cũng căng thẳng, chỉ mưu tính cuộc sꢁng  
hằng ngày cũng đủ mệt, và lần lần chúng  
cũng muꢁn quên cơn ác mộng Tết Mꢀu  
Thân năm ngoái” (Nguyễn Hiến Lê 1969:  
1). Sức mua và nhu cầu đọc của độc giả bị  
giảm sút nghiêm trọng do tác động nặng nề  
của chính sách thuế “kiệm ước”. Thuế má và  
vꢀt giá leo thang khiến nhiều nhà xuất bản  
phải “nằm im chờ thời”, thꢀm chí đi đến phá  
sản.  
Theo Nguyễn Hiến Lê (1969: 5), thái độ  
“chán ngán” tính “vꢀt chất” và “nổi loạn”  
của văn hóa văn minh phương Tây là hꢀu  
quả của việc tiếp nhꢀn ồ ạt và thừa mứa, từ  
đó, độc giả có xu hướng tìm về các giá trị  
tinh thần phương Đông và văn hóa dân tộc.  
Đây là lí do vì sao, từ năm 1967, một loạt  
sách dịch và khảo cứu được ấn bán liên tục  
và bán khá chạy: sách của Khrisnamurti (Ấn  
Độ), Hermann Hess (Đức), hai bộ Kinh  
dịch, sách biên khảo về nếp sꢁng cổ Việt  
Nam, tế lễ, phong tục, tôn giáo của Đỗ Bằng  
Đoàn, Toan Ánh, v.v.. Cũng theo Nguyễn  
Hiến Lê, độc giả có xu hướng tìm hiểu về  
văn hóa, lịch sử của các dân tộc nhược tiểu  
đang cùng cảnh ngộ thuộc địa.  
Nhìn vào sinh hoạt năm 1967, Thanh  
Lãng (1967: 16-17) đã chất vấn tình trạng  
“cô đơn”, “lẻ loi”, “độc thoại” của cả ba  
giới, phải chăng điều này đã dẫn đến việc  
“giới tiêu thụ văn đã chẳng thèm tiêu thụ sản  
phẩm văn nội hóa mà chỉ say mê xài đồ  
ngoại hóa, đặc biệt đồ Tàu: hiện tượng độc  
giả đam mê truyện Tàu chẳng phải thể hiện  
cái tâm lý khinh đồ nội hóa đấy ư?” Cùng  
chung quan điểm này, Huỳnh Như Phương  
(2015: 33) nhꢀn định về hꢀu quả của dòng  
văn học thị trường: “Tính chất thương mại  
hóa của báo chí và xuất bản đã gây ra hꢀu  
quả tầm thường hóa văn học như hiện tượng  
đổ xô viết tiểu thuyết feuilleton, tranh đua  
dịch sách về tính dục, đề cao quá đáng Kim  
Dung, Quỳnh Dao; Nhưng đặt trong bꢁi  
cảnh thị trường, thì điều đó cũng dễ hiểu khi  
4.4. Văn hóa đọc xuống cấp  
Từ năm 1967, tình trạng xuꢁng cấp của  
văn hóa đọc, sự “lạc lõng”, “mất kết nꢁi”  
giữa ba giới: tác giả - phê bình - người đọc  
trong hệ thꢁng sản xuất, định hướng và tiếp  
nhꢀn văn học trở thành vấn đề nhức nhꢁi  
319  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
văn học trở thành một hàng hóa tiêu thụ đáp  
ứng bữa ăn tinh thần đa dạng của độc  
giả…”.  
những tái trình hiện về đời sꢁng văn hóa Âu  
Mỹ.  
Văn hóa đọc càng xuꢁng cấp trầm trọng  
hơn trong bꢁi cảnh lên ngôi của các hình  
thức giải trí đại chúng như nhꢀt trình, điện  
ảnh và cải lương. Điện ảnh, một loại hình  
nghệ thuꢀt đại chúng đầy mới mẻ, phản ánh  
những chủ đề hấp dẫn và kích thích như tình  
dục và bạo lực, đã trở thành một hình thức  
sinh hoạt tinh thần ưu thế hơn cả so với văn  
học. Từ năm 1969 đến đầu thꢀp niên 1970,  
sau một thời kì dài “bất lực”, “câm nín”  
trước sự lên ngôi và thꢁng soát của điện ảnh  
ngoại nhꢀp, điện ảnh nội địa đã có những cú  
“trở mình” và ghi nhꢀn những thành công  
vang đội với Chiều kỷ niệm (1969), Loan  
mắt nhung (1970), Chân trời tím (1971)  
(Mai Thảo 1970: 4). Ngoài ra, giai đoạn này  
còn phải kể đến một xu hướng tái sinh văn  
học và nꢁi dài hành vi đọc của độc giả thông  
qua hiện tượng điện ảnh hóa cải lương và  
tiểu thuyết. Các phim được cải biên từ tiểu  
thuyết của Văn Quang, Nguyễn Đình Toàn,  
Mai Thảo, Ngọc Linh, Nguyễn Thị Hoàng,  
Duyên Anh, Viên Linh, v.v. có thể xem như  
là những “hꢀu kiếp” của tiểu thuyết nguồn  
(source novel), nꢁi dài và chuyển hóa quá  
trình đọc và xem của độc giả/ khán giả. Bộ  
phim Chân trời tím đạt sꢁ lượng xem kỉ lục,  
cao nhất ở VNCH và chưa từng bị soán ngôi  
với 31 triệu lượt xem, tiếp đó là phim Xin  
đừng bỏ em với 29,8 triệu lượt xem và Biển  
động với 27,8 triệu lượt xem (Vũ Hạnh  
1971: 33-34). Trước sự lên ngôi của điện  
ảnh thân xác và bạo lực, tình trạng xuꢁng  
cấp của văn hóa đọc ngày càng đáng báo  
động. Theo thꢁng kê của linh mục Nguyễn  
Ngọc Lan, trong sꢁ 41 phim được chiếu  
trong 1 ngày ở Sài Gòn đã có đến 35 phim  
“đồi trụy” với chủ đề chính là về “tình dục”  
và “bạo lực” (Phan Đắc Lꢀp 1974: 54).  
Những tái trình hiện về văn hóa truyền  
thꢁng dân tộc đang ngày càng bị lấn át bởi  
5. Kết luận  
Nhìn chung, hệ hình độc giả của văn học  
miền Nam khác biệt so với hệ hình độc giả  
văn học miền Bắc. Điều này là do hệ quả  
của những khác biệt về thể chế chính trị và  
văn hóa. Dưới sự chi phꢁi của ý thức hệ xã  
hội chủ nghĩa, văn học trở thành “mặt trꢀn”,  
tác giả và độc giả văn học (chủ yếu quần  
chúng công nông binh) trở thành “chiến sĩ”  
cách mạng; việc sáng tác - phát hành - tiếp  
nhꢀn đều nằm trong kế hoạch, đường lꢁi của  
Đảng và được đặt hàng và kiểm soát thông  
qua các thiết chế khác nhau từ trung ương  
đến địa phương (Lê Quꢁc Hiếu 2020: 46);  
khắp miền Bắc là sự hiện diện của các  
huyền thoại văn hóa xã hội chủ nghĩa: hiệu  
sách nhân dân, thư viện nhân dân, v.v...  
Theo quan điểm của lí thuyết gia mác xít  
người Pháp Althusser, có thể nói, “các cấu  
trúc  
đàn  
áp/ý  
thức  
hệ”  
(repressive/ideological structures) hoặc “các  
công cụ ý thức hệ của nhà nước” (state  
ideological apparatuses) (Barry 2009: 158)  
đã được áp dụng triệt để trong văn hóa văn  
học miền Bắc, để định hướng văn hóa văn  
nghệ. Khác với nền văn nghệ quần chúng ở  
miền Bắc, văn nghệ miền Nam, về cơ bản,  
phát triển khá tự do và chịu tác động to lớn  
của quy luꢀt thương mại hóa văn nghệ. Ở  
miền Nam, trước sự lên ngôi của các hình  
thức văn học thị trường, dòng văn học nghệ  
thuꢀt và cộng đồng độc giả “ham đọc, hiếu  
học, ưa suy nghĩ” của nó vẫn luôn hiện hữu  
dù mờ nhạt, “khiêm nhường” trong sinh hoạt  
văn nghệ đô thị. Bài viết đã trình bày một  
vài nét khái quát về hai kiểu độc giả văn học  
ở miền Nam giai đoạn 1954-1975: độc giả  
của văn học thị trường và độc giả của văn  
học nghệ thuꢀt, đặt trong mꢁi quan hệ với  
các thiết chế văn học và văn hóa. Bài viết  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
320  
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_  
content&view=article&id=214:bc-u-tim-hiu-v-  
qhin-tng-kim-dungq-ti-vit-nam&catid=64:vn-  
hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108).  
Truy cꢀp tháng 7 năm 2020.  
chưa có điều kiện khảo sát đꢁi tượng độc giả  
văn học thiếu nhi và độc giả nữ đặc biệt là  
khuynh hướng nữ tính hóa văn chương từ  
sau thꢀp niên 1960. Các lí thuyết phê bình  
như: Lý thuyết tiếp nhꢀn, Nữ quyền luꢀn và  
Hꢀu thực dân, v.v. cũng chưa được ứng  
dụng để “đọc sâu” các bình diện về giới  
tính, chủng tộc, thuộc địa có liên quan trực  
tiếp đến người đọc.  
Huỳnh Như Phương. 2015. “Chiến tranh, xã hội  
tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954-  
1975”. Tạp chí Nghiên cứu văn học sꢁ 4: 27-  
40.  
Lê Quꢁc Hiếu. 2020. “Bước đầu tìm hiểu độc giả  
của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt  
Nam giai đoạn 1945-1975”. Tạp chí Nghiên  
cứu Văn học sꢁ 10 (584): 45-61  
Tài liệu trích dẫn  
Lữ Phương. 1967. Mấy vấn đề văn nghệ. Sài Gòn:  
Barry Peter. 2009. Beginning theory: An  
Introduction to Literary and Cultural Theory,  
Third edition, Manchester University Press,  
384 pages.  
Nhà xuất bản Trình bày.  
Lý Chánh Trung. 1970. “Văn hóa võ khí bảo vệ  
dân tộc.” Trang 912-923 trong sách Nhìn lại  
một chặng đường văn học. Nghiên cứu - Sưu  
tầm – Tuyển chọn Trần Hữu Tá. Thành phꢁ Hồ  
Chí Minh: Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh.  
BBC. 2018. “Báo Sóng Thần chꢁng tham nhũng  
trước  
1975”  
43911897). Truy cꢀp tháng 5 năm 2020.  
Mai Thảo. 1966. “Ghi nhꢀn thứ nhất về ý kiến bạn  
đọc đꢁi với tiểu thuyết bây giờ”. Tạp chí Nghệ  
thuật 42: 10, 31.  
BBT.1965. “Nhꢀn định về tiểu thuyết Việt Nam  
hiện nay”. Tạp chí Nghệ thuật 9: 6-8, 27.  
Mai Thảo. 1969. “Trước phong tào tái bản và làm  
sꢁng lại văn thơ tiền chiến”. Tạp chí Tân văn  
16&17: 21-31.  
Bình Nguyên Lộc. 1969. “Thời vàng son của nghề  
xuất bản tại Sài Gòn”. Tạp chí Tân văn sꢁ  
16&17: 13-19.  
Mai Thảo. 1970. “Những nét lớn về sinh hoạt  
nghệ thuꢀt miền Nam 1970”. Tạp chí Vấn đề  
42&43: 1-11  
Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ  
Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thùy  
Yên, Trần Thanh Hiệp. 1960. “Nhìn lại văn  
nghệ tiền chiến ở Việt Nam”. Sáng tạo (bộ  
mới) 4: 1-16.  
Nghê-Bá-Lí. 1969a. “Qua những cuộc đàm thoại  
với một sꢁ nhà xuất bản ở thủ đô, thử kiểm  
điểm: Tình hình xuất bản sách trước và sau  
biến cꢁ Tết Mꢀu Thân 1968”. Tạp chí Bách  
Khoa thời đại 289: 35-40,107-114.  
Dương Kiền. 1965. “Một chính sách thông tin -  
văn hóa mới”. Tạp chí Văn Học 40: I-VII.  
Đào Trường Phúc. 1973. “Sách dịch thuꢀt trong  
năm qua”. Tạp chí Bách Khoa thời đại sꢁ  
402&403: 33-37.  
Nghê-Bá-Lí. 1969b. “Qua những cuộc đàm thoại  
với một sꢁ nhà xuất bản ở thủ đô, thử kiểm  
điểm: Tình hình xuất bản sách trước và sau  
biến cꢁ Tết Mꢀu Thân 1968”. Tạp chí Bách  
Khoa thời đại 293: 63-71.  
Đoàn Thêm. 1963. “Tác giả - Độc giả - Nhà phê  
bình” (tiếp theo). Tạp chí Bách Khoa sꢁ 147:  
41-49.  
Nghê-Bá-Lí. 1969c. “Qua những cuộc đàm thoại  
với một sꢁ nhà xuất bản ở thủ đô, thử kiểm  
điểm: Tình hình xuất bản sách trước và sau  
biến cꢁ Tết Mꢀu Thân 1968”. Tạp chí Bách  
Khoa thời đại sꢁ 294: 75-80.  
Đoàn Viết Hoạt. 1972. “Cơn sꢁt đại học miền  
Nam” (tiếp theo). Tạp chí Tư tưởng 2: 81-98.  
Hiếu Chân. 1967. “Bàn về tiểu thuyết võ hiệp”.  
Báo Tin văn sꢁ 16.6.1967. Dẫn theo Trần Lê  
Hoa Tranh. 2009. “Bước đầu tìm hiểu về “hiện  
tượng Kim Dung” tại Việt Nam”  
321  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
Nguiễn-Ngu-Í thuật. 1962. “Buổi nói chuyện về  
tình trạng bế tắc trong ngành tiểu thuyết Việt  
Nam. Tạp chí Bách Khoa 128: 108-110.  
Phan Đắc Lꢀp. 1974. “Đồi trụy, một đặc điểm của  
văn học thực dân mới ở miền Nam”. Tạp chí  
Văn học sꢁ 148: 54-64.  
Nguyễn Đình Lê. 2010. Lịch sử Việt Nam (1954-  
1975). Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.  
Sơn Nam. 1966. “Bàn về hiện tượng sách báo”,  
Đồng Nai văn tập sꢁ 7, tháng 7&8/1966. Dẫn  
lại theo Lữ Phương. 1967. Mấy vấn đề văn  
nghệ. Sài Gòn: Nhà xuất bản Trình bày.  
Nguyễn Đình Lê (Chủ biên), Phan Hải Vân. 2019.  
Biến chuyển xã hội Việt Nam 1954-1975. Hà  
Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.  
Tùng Lâm. 1925. Công luận báo sꢁ 45 ngày  
21/3/1925. Dẫn theo Võ Văn Nhơn, Nguyễn  
Thị Phương Thúy. 2015. “Văn học thị trường ở  
thành phꢁ Hồ Chí Minh”. Tạp chí Nghiên cứu  
văn học sꢁ 9: 89-104.  
Nguyễn Hiến Lê. 1969. “Tình hình xuất bản từ  
biến cꢁ Mꢀu Thân đến nay”. Tạp chí Tân văn  
sꢁ 16&17: 1-11.  
Nguyễn Hiến Lê. 1972. “Sau 18 năm tiếp xúc với  
người Mỹ, vài suy nghĩ về phong trào về  
nguồn”. Tạp chí Bách Khoa sꢁ 361&362: 53-  
66.  
Thạch Lam. 1941. Theo giòng: vài ý nghĩ về văn  
chương. Hà Nội: Nhà xuất bản Đời nay.  
Thanh Lãng. 1967. “Người 67 nhìn vào phê bình  
67”. Tạp chí Văn Học 74: 20-36.  
Nguyễn Mộng Giác. 1972a. “Nhìn lại 15 năm văn  
nghệ miền Nam”. Tạp chí Bách Khoa  
361&362: 40-51  
Thanh Nam. 1982. “Hai mươi năm viết văn làm  
báo ở Sài Gòn”. Tạp chí Văn, Hoa Kỳ sꢁ 2  
tháng 8-1982.  
Nguyễn Mộng Giác. 1972b. “Nghĩ về một vài hiện  
tượng trong tình hình chữ nghĩa 1972”. Tạp chí  
Bách Khoa 385&386: 23-30.  
Trần Lê Hoa Tranh. 2009. “Bước đầu tìm hiểu về  
“hiện tượng Kim Dung” tại Việt Nam”  
Nguyễn Mộng Giác. 1975. “Nghĩ về thơ, truyện  
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_  
content&view=article&id=214:bc-u-tim-hiu-v-  
qhin-tng-kim-dungq-ti-vit-nam&catid=64:vn-  
hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108).  
Truy cập tháng 9 năm 2020.  
1974”. Tạp chí Bách Khoa 421&422: 25-33.  
Nguyễn Quang Duy. 2015. “Nhìn lại báo chí thời  
Đệ  
nhị  
Cộng  
hòa”  
09/150911_nguyenquangduy_baochi_vnch).  
Truy cập tháng 5 năm 2020.  
Trần Ngọc Định. 1975. “Nền giáo dục đại học  
thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt nam  
trước ngày giải phóng”. Tạp chí Nghiên cứu  
lịch sử sꢁ 165: 17-25.  
Nguyễn Văn Lục. 2014. “20 năm văn học dịch  
thuꢀt  
miền  
Nam  
1955-1975”  
/03/20-nam-van-hoc-dich-thuat-mien-nam-  
1955-1975-nguyen-van-luc/). Truy cập tháng 6  
năm 2020.  
Trần Trọng Đăng Đàn. 2015. Văn học trong cuộc  
đấu tranh tư tưởng tại miền Nam thời kỳ 1945  
– 1975. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã  
hội.  
Nguyễn Văn Trung. 1965. “Thử đặt lại vấn đề văn  
hóa ở Việt Nam ngày nay”. Tạp chí Văn Học  
sꢁ 40: 8-13, 89-105.  
Trùng Dương. 2018. “Báo Sóng Thần chꢁng tham  
nhũng  
trước  
1975”  
43911897). Truy cập tháng 7 năm 2020.  
Nguyễn Văn Trung. 1966. “Thảo luꢀn về thực  
trạng văn nghệ miền Nam”. Diễm Châu ghi.  
Tạp chí Nghệ thuật 53: 18-19, 30.  
Viên Linh. 1966. “Ghi nhꢀn chót”. Tạp chí Nghệ  
thuật sꢁ 45: 18-19, 31.  
Nguyễn Văn Trung. 2001. “Văn học trong vòng  
tay chính trị”. Tạp chí Văn học sꢁ 179: 15-41.  
Võ Phiến. 1972. “Nhìn lại 15 năm văn nghệ miền  
Nam”. Tạp chí Bách Khoa sꢁ 361&362: 39-42.  
Phạm Việt Tuyển. 1972. “Người cầm bút từ năm  
1954 tới nay”. Tạp chí Bách Khoa 378: 9-16,  
62-63.  
Võ Phiến. 1974. “Có gì mới trong sinh hoạt văn  
nghệ”. Tạp chí Bách Khoa thời đại sꢁ  
421&422: 19-24  
Lê Quốc Hiếu / Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 7, Số 3 (2021) 303-322  
322  
Võ Văn Nhơn, Nguyễn Thị Phương Thúy. 2015.  
“Văn học thị trường ở thành phꢁ Hồ Chí  
Minh”. Tạp chí Nghiên cứu văn học sꢁ 9: 89-  
104.  
Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan. 2008. Văn học thời  
kỳ 1945-1975 ở thành phố Hồ Chí Minh. Hồ  
Chí Minh: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phꢁ  
Hồ Chí Minh.  
Vũ Hạnh. 1971. “Vài nét về sinh hoạt văn nghệ  
trong năm 71”. Tạp chí Bách Khoa 361&362:  
31-35.  
pdf 20 trang baolam 25380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vài nét khái quát về độc giả văn học miền Nam 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_net_khai_quat_ve_doc_gia_van_hoc_mien_nam_1954_1975.pdf