Đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Dương Mộng Tuấn
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NAM BỘ
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH
CHARACTERISTICS OF THE SOUTHERN LANGUAGE IN HO BIEU CHANH’S NOVELS
DƯƠNG MỘNG TUẤN
TÓM TẮT: Hồ Biểu Chánh là tác giả khởi đầu sự nghiệp văn xuôi đầu thế kỷ XX và là một trong
những nhà văn đã góp phần làm vững mạnh nền móng sơ khởi của văn học chữ Quốc ngữ. Ông
được xem là nhà văn sở trường đã đưa vào tiểu thuyết tiếng nói thường ngày còn được gọi là khẩu
ngữ của người Nam Kỳ. Một lựa chọn có ý thức, vì ông theo truyền thống viết như nói, nói như thật
nói, nói xuôi, tức không kiểu cách. Bài viết tìm hiểu ngôn ngữ người Nam Kỳ lục tỉnh trong tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh trên các phương diện: 1) từ địa phương Nam Bộ; 2) Khẩu ngữ Nam Bộ; 3)
Sự vận dụng thành ngữ linh hoạt trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.
Từ khóa: Hồ Biểu Chánh; ngôn ngữ Nam Bộ; tiểu thuyết.
ABSTRACT: Ho Bieu Chanh is the author who started the prose career in the early twentieth
century and is one of the writers who contributed to strengthening the initial foundation of national
literature. He is considered a writer who has brought the daily voice also known as verbal words of
the Southern people into the novels. This is a conscious choice, since he traditionally writes as
saying, say as if saying, say fluently, or no frills. This article explores the language of the 6-
province-southern people in Ho Bieu Chanh’s novels in the following ways: 1) from the Southern
locality; 2) Southern verbal words; 3) The flexible use of idioms in Ho Bieu Chanh's novels.
Key words: Ho Bieu Chanh; The Southern language; novel.
tự nhiên ai cũng hiểu đó vẫn là tiếng Việt,
nhưng đó là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông
đúc tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những
đặc sắc riêng của nó” [3, tr.112].
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nói đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường
nhớ đến những tác phẩm xuất sắc được chuyển
thể thành những bộ phim hay và đã để lại dấu
ấn sâu sắc trong lòng người đọc, người xem.
Ông có cảm hứng đặc biệt khi tả cảnh, tả
người, ghi nhận được những nét tinh tế, sinh
động và đặc thù về địa phương Nam Bộ nhất là
về phương diện ngôn ngữ. Cù Đình Tú có nhận
xét: “Phong cách của Hồ Biểu Chánh là phong
cách viết như nói, nói tiếng mà dân
chúng Nam Bộ thường dùng hằng ngày vào đầu
thế kỷ XX. (...) Điều cần phải ghi nhận ở văn
Hồ Biểu Chánh qua cả vạn trang tiểu thuyết
của ông là: ông viết tiểu thuyết bằng tiếng của
dân chúng vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Lẽ
2. NỘI DUNG
2.1. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sử dụng
nhiều từ ngữ địa phương Nam Bộ
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cung cấp khá
nhiều và đa dạng phương ngữ của Nam Kỳ.
Điều này được thể hiện qua các từ tình thái đặt
cuối câu, từ xưng hô theo cách nói người miền
Nam và thông qua cách đặt tên nhân vật.
Hồ Biểu Chánh thường dùng ở cuối câu
các từ ngữ để nhấn mạnh nà, giống, hôn, mắc
giống gì, sợ giống gì, làm giống gì, sướng
giống gì, còn ức nỗi gì, bất nhân hôn, dữ
130
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
hôn,… Hay những từ dùng để tả số lượng: đa
đa, lắm đa, lung lắm, lung lắm đa,… mang
đậm nét vùng miền Nam Bộ.
- Ngài mới lên ăn cơm với mình hôm chúa
nhựt đây mà.
- Ăn cơm thì ăn, còn chạy tờ thì chạy, hai
việc đó khác nhau.
- Quan Chủ quận chạy tờ như vậy, rồi quan
lớn Chánh nói sao?
Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh cũng thường
Việt hóa các từ ngoại lai theo khuynh hướng
Nam Bộ như: nhà dây thép, bót, nhà đèn,....
Ông ít dùng chữ Hán dù ông đã để ra ba năm
học các sách Tứ Thư và dịch truyện Tàu từ hai
tập Tình Sử và Kim Cổ Kỳ Quan trước khi khởi
sự viết văn. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã ghi
lại ngôn ngữ Nam Kỳ của một thời cố cựu và
đã góp phần tái dựng nên bức tranh xã hội của
thời điểm đó. Ngôn ngữ đó được xuất phát từ
những con người mộc mạc, nhưng tế nhị, thừa
biết ăn ở sao cho phải đạo. Ngôn ngữ ở đây nói
chung có tính lạc quan, tính chân thật và ít
phức tạp. Chân thật trong cách phát âm theo
phương ngữ, dùng từ láy và ngay cả khi phát
âm hay viết sai vì phải biến chế theo hoàn cảnh.
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã ghi lại nhiều
dấu vết có ý nghĩa về diện mạo ngôn ngữ ở một
vùng đất và xuyên qua toàn bộ tiểu thuyết của
ông, đã đánh dấu các chặng đường phát triển
của tiếng nói dân tộc nơi đó. Trong số đó có
những chữ hay cách nói ít gặp hoặc hết được
dùng: lộn chồng, òn ý, từ mớ, từng khạo (cai),
áo củn, chiết báng, dui dụt, ô-dề, mái chính,
chạy tờ, giằn thúc, nôm vợ (lấy người đã có
- Quan Chánh nói ngài biết tôi có nợ nần
nhiều, nên tự nhiên tôi mắc lo nợ mà phải bê trễ
công việc. Vì vậy nên ngài không trách gì; song
nếu tôi mắc bận việc nhà, không kham chức Cai
tổng nữa, vậy thì tôi nên từ chức Cai tổng đi,
đặng rảnh rang mà lo việc nhà.
- Ngài nói như vậy, nghĩa là ngài muốn xô
đuổi mình chớ gì. Không biết ý thầy nó thế nào,
chớ theo tôi thì cũng nên thôi phứt cho rồi, đặng
khỏi tiếng nặng nề giằn thúc.
- Bà nó hiệp ý với tôi lắm. Quan lớn Chánh
khuyên tôi như vậy thì tôi trả lời tôi cám ơn ngài,
rồi tôi ra bàn bếp hầu tôi viết một lá đơn xin từ
chức mà đưa cho ngài liền…" [7, tr.167].
Nếu quan sát cách đặt tên nhân vật trong
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chúng ta cũng thấy
tên các nhân vật mang nét đặc trưng riêng của
người Nam Bộ. Bình dân trong cách đặt tên
như: Thằng Ðược, Thằng Cu, Con Lựu, Lê Văn
Ðó, Lê Văn Ðây,… hoặc tên theo vai vế thường
dùng trong miền Nam: Ba Ðiệp, Sáu Lý, Hai
Liền,... cách ông đặt tên theo phẩm tính, đạo
chửa
làm
vợ),hốt
tốc(hấp
tấp),bam đức như Trần Bá Vạn, Hiếu Liêm, Chánh Tâm,
bù, má đụng (lấy) cậu nóc giận(nuốt giận, hết Thủ Nghĩa, Châu Tất Ðắc, Võ Lộ, Nguyễn Tự
giận),xạclơ(xuộilơ),cượng(chống),...
Cao,... cũng mang dụng ý rõ ràng, phản ánh
đúng bản chất nhân vật.
TríchmộtcuộcđốithoạitrongĐóaHoaTàn(1936):
"… Ông Bình ngồi uống nước. Bà kéo ghế
ngồi ngang đó mà hỏi rằng: "Bữa nay thầy nó đi
hầu việc gì vậy?". Ông Bình cười. Ông uống hết
bốn chén nước rồi mới đáp rằng:
Hồ Biểu Chánh đặc biệt sử dụng tiếng
xưng hô bằng từ biến thể trong hợp âm: thẩy (thầy
ấy), cổ (cô ấy), cỏn (con ấy, ông chỉ dùng để gọi
vợ của em trai hay vợ của con trai), thẳng (thằng
ấy, cũng như cỏn, chỉ dùng để gọi chồng em gái
hay chồng con gái), bây (ngôi hai, số nhiều và
- Quan Chánh kêu tôi lên mà quở tôi.
- Có chuyện gì mà quở?
-Ngài nói theo tờ của quan Chủ quận thì mấy ít),... hay những tiếng thường dùng trong
thángnaytôicứloviệcnhàkhônglothuếvụnêntrễnải. Nam: tía, má nó, sắp nhỏ, má sắp nhỏ, qua (ngôi
- Quan Chủ quận chạy tờ hay sao? Có lẽ
nào ngài làm như vậy!
thứ nhất), hay trong giới theo Tây, xưng gọi
là toa, moa, ma femme (ngôi thứ ba),… như trong ví
dụ bà mẹ Kế Hiền hỏi con trai Thượng Tứ: "Không
- Có thiệt chớ, chạy tờ kín.
131
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Dương Mộng Tuấn
có cỏn về hay sao?" [8, tr.103]; hay: "Này, còn
chuyện của sắp nhỏ, chú thím liệu sao?" [4, tr.97].
Ngôn ngữ rõ là chân phương và giàu hình
Đưa từ khẩu ngữ vào tác phẩm văn
chương, đó là một sự thay đổi lớn về quan niệm
sáng tác. Trước thế kỷ XX, các nhà văn nhà thơ
thường chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ. Đối với
họ, ngôn ngữ văn chương cần phải qua sự sàng
lọc cẩn thận. Càng “cầu kỳ bóng bẩy” sẽ càng
“trang trọng đài các” như thế mới “Lời lời
châu ngọc hàng hàng gấm thêu”. Cùng thời với
ảnh cụ thể, trực tiếp để diễn tả những tình cảm,
tư tưởng. Chân phương để phản ánh đúng cách
nói của người Nam Kỳ mà Hồ Biểu Chánh đã
dùng thật nhiều từ chuyển hóa như phiền
ba (phồn hoa) hiệp ý (hợp ý) xao xiến (xao
xuyến), chính chiên (chính chuyên). Hayông dùng Hồ Biểu Chánh, nhiều ông khác như Hoàng
từ đọc trại vì sự kiêng kỵ hay do ảnh hưởng của phương Ngọc Phách, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn,
ngữ:yên(an),hường(hồng),nhơn(nhân) tình,đờn(đàn),… Nguyễn Trọng Thuật,... vẫn giữ cung cách gọt
Ðối với người vùng khác thì nghĩ đấy là những
chữ viết sai nhưng đây mới thật sự là sự phản ánh
đúng cách nói của người Nam Kỳ (nói sao viết
vậy) mà theo chúng tôi chỉ có thể tìm thấy cách
nói thuần chất Nam Bộ này ở tiểu thuyết của Hồ
Biểu Chánh.
giũa cẩn thận từng câu chữ. Vì thế họ chưa tạo
được nét mới về ngôn ngữ qua sáng tác của
mình. Ngôn ngữ trong tác phẩm của họ có điểm
chung là xa lạ với tiếng nói hằng ngày của quần
chúng, rất kiểu cách, cầu kỳ. Sự xuất hiện của
từ khẩu ngữ với tần số không nhỏ đã làm cho
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự gần gũi, quen
thuộc với công chúng bình dân. Người đọc có
cảm giác như được nghe chính tiếng nói của
mình, được chia sẻ, được cảm thông. Tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh đã mang màu sắc của
chính cuộc sống thực. Đưa từ khẩu ngữ vào tác
phẩm văn chương đã trở thành sở trường của
Hồ Biểu Chánh. Đây là một đóng góp đáng kể
đối với văn học hồi đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu
Chánh đã khẳng định được quan điểm có thể
dùng khẩu ngữ của dân chúng Nam Bộ làm cơ
sở để xây dựng tác phẩm văn chương.
2.2. Khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh đã khai thác triệt để lớp
khẩu ngữ Nam Bộ. Từ khẩu ngữ không chỉ xuất
hiện trong lời đối thoại giữa các nhân vật mà
còn được nhà văn dùng khi miêu tả hay thuật
truyện. Hàng loạt các từ khẩu ngữ sau đây đã
được ông sử dụng trong nhiều tác phẩm của
mình. Ví dụ: “Con Quyên ra đi thì lòng mừng
khấp khởi, miệng chúm chím cười. Tuy nó mặt
đồ vải bô, song mặt nó trắng tươi môi nó đỏ
lòm, chân mày nó nhỏ mứt, bàn tay nó dịu nhĩu,
tướng nó đi khoan thai” [4, tr.109].
Trong quá trình sử dụng khẩu ngữ, Hồ
Còn đây là lời của nhân vật: “Bên Tây nhà
giàu họ xài tiền đúng lắm, nhằm chuyện bao
nhiêu họ cũng không tiếc, còn không nhằm
chuyện, dầu một đồng điếu họ cũng không loại,
chớ không phải họ xài như mình vậy đâu” [4,
tr.66]. Khi thuật truyện, ông cũng dùng từ khẩu
ngữ, điều mà nhiều nhà văn ít khi vận dụng:
“Trần Văn Sửu nín khe, bỏ đi thẳng vô nhà bếp.
Anh ta thấy bếp núc lạnh tanh, mà sắc mặt chẳng
có một chút giận nào hết. Anh ta xách nồi đi xúc
gạo đem vo, rồi nhúm lửa bắt lên mà nấu. Thị
Lựu không hề léo vô bếp” [4, tr.107].
Biểu Chánh cũng để lại một ít hạn chế. Ông
chưa chú ý sàng lọc, chưa tập hợp những tinh
hoa của khẩu ngữ Nam Bộ. Không ít trường
hợp, khi đưa khẩu ngữ vào tác phẩm, Hồ Biểu
Chánh tỏ ra dễ dãi, vô tình làm ảnh hưởng đến
giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương trong
tác phẩm nghệ thuật, ít nhiều gợi lên tính chất
thông tục như các ví dụ sau: “Tao đánh bài, dầu
có thua đi nữa, thì tao thua tiền của tao, chứ phải
tiền bạc của cha mẹ mày chở đến đây hay sao mà
mày nói? Tao là con nhà giàu, từ nhỏ đến lớn tao
ăn xài bài bạc chơi đã quen rồi chứ phải quân ăn
mày coi đồng bạc như cái bánh xe đâu. Mày có
132
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
chê tao thì mày để tao ra rồi đi cưới vợ khác đi.
Cha chả! Mày tưởng tao màng cái tuồng mặt mày
lắm sao? Bực mày là đồ bỏ đa, đừng có làm
phách” [7, tr.83].
thành ngữ. Thành ngữ cũng góp phần không
nhỏ trong việc biểu đạt tình cảm, ghi lại cuộc
sống của người Nam Bộ bằng cách diễn đạt
riêng vừa hình tượng, vừa khái quát tạo cho câu
văn thêm phần hấp dẫn, thú vị có sức thuyết
phục cao. Cách vận dụng thành ngữ của ông rất
uyển chuyển, linh hoạt, hợp lý, không gò bó và
với nhiều hình thức khác nhau: Vận dụng
nguyên mẫu và cải biến. Ta bắt gặp trong tác
phẩm của ông những thành ngữ ở dạng nguyên
mẫu như: “Tan xương nát thịt, sóng dập gió
dồi, trôi sông lạc chợ, no cơm ấm áo, mặt dạn
mày dày, lên xe xuống ngựa, ngậm đắng nuốt
cay, đủ lông đủ cánh, bán phấn buôn hương”…
Nét riêng trong sự vận dụng và mang đậm
tính Nam Bộ thể hiện rõ qua những thành ngữ
được dùng ở dạng cải biến.
Dường như Hồ Biểu Chánh muốn diễn tả
thật cụ thể, sống động tính cách của những
nhân vật phản diện. Bởi cách nói năng như trên
thường được ông mớm vào cửa miệng của
những kẻ độc ác, ích kỷ tham lam hay hư thân
mất nết. Thế nhưng, vẫn có trường hợp không
hẳn như vậy. Trong tác phẩm “Thầy thông
ngôn”, ông miêu tả cô Sáu Lý là một cô gái
khôn khéo, lanh lợi nhưng không kém phần nết
na. Thế mà, có những đoạn văn viết về cô gái
ấy hay thuật lại lời đối thoại của cô Sáu Lý vẫn
có nhiều từ khẩu ngữ mang sắc thái thô thiển
nặng nề. Ví dụ: “Cô đợi một hồi lâu không
nghe thầy trả lời, cô mới đứng dậy hỉ mũi mà
nói,...” [7, tr.46] hay: “Thầy thúi lắm, làm trai
như vậy nên lắt cái mặt mà quăng đi” [7, tr.48].
Đây là một đặc điểm chung của văn xuôi
quốc ngữ Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX. Không
riêng gì Hồ Biểu Chánh, nhiều ông khác cũng
có cách sử dụng từ khẩu ngữ như thế. Có lẽ đó
là một tất yếu của giai đoạn giao thời khi văn
học mới từ giã cung cách đài các, trang trọng,
khuôn phép để tiến đến lối viết tự nhiên, gần
gũi với quần chúng lao động. Mặc dù khi dùng
từ khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh chưa đạt được sự
thành thục khéo léo thế nhưng không ai có thể
phủ nhận sự hiện diện thường xuyên của từ
khẩu ngữ trên từng trang viết đã đưa tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh đến gần với đông đảo công
chúng bình dân. Tầm đón nhận của tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh vừa rộng lớn, vừa lâu bền. Lời
giải đáp cho thực tế ấy cũng không loại trừ việc
sử dụng từ khẩu ngữ.
Cải biến cách phát âm: Tu nhơn tích đức
(tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn (nhắm
mắt đưa chân), tâm đầu ý hiệp (tâm đầu ý hợp),
cải tử hườn sanh (cải tử hoàn sinh)...
Ví dụ: “Tôi tu nhơn tích đức không muốn
sanh sự” [4, tr.439]; “Cha cấm tuyệt không cho
thấy được nữa, vậy thì chàng phải nhắm mắt
đưa chơn mà bước vào đường đời” [9, tr.30].
Đọc tiểu thuyết là hình thức để giải trí và
thưởng thức. Nếu câu văn cầu kỳ, khó hiểu cũng
không mấy hấp dẫn đối với đa số độc giả, nên
giản dị, nên nói cái ngôn ngữ của người đọc để
cho họ dễ đọc. Ðó là những điều kiện để tiểu
thuyết được nhiều người ưa thích và nhiều tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh có đủ những điều kiện
đó, ông đã đáp ứng đúng nhu cầu đọc tiểu thuyết
để tiêu khiển của đa số độc giả Nam Bộ trong các
thập niên 1920 - 1940 của thế kỷ XX.
Hồ Biểu Chánh đã chắt lọc và sáng tạo lại
lời ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào
trong sáng tác của mình. Điều này không chỉ
góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ trong
tiểu thuyết của ông mà còn là sự đóng góp của
nhà văn vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc.
2.3. Sự vận dụng thành ngữ linh hoạt trong
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm nhiều
thành ngữ. Lớp từ này được ông vận dụng rất
đa dạng và phong phú. Câu văn xuôi của Hồ
Biểu Chánh có tính thuyết phục là nhờ vào
133
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Dương Mộng Tuấn
một con đường ngắn nhất để đi đến thành công,
đó là học tập ngôn ngữ dân tộc, học tập văn
chương của các nhà văn đi trước. Vì thế ông đã
viết nên những tác phẩm có giá trị về nghệ thuật
ngôn từ. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có thể
xem là một bộ lịch sử phong tục về một miền
Nam Kỳ lục tỉnh thời của ông vì qua đó ngoài
những phản ánh đạo đức luân lý, truyền thống
tập quán, người đọc đời sau còn hiểu được quá
trình quan hệ với nước ngoài qua bình diện ngôn
ngữ, tức là qua những từ ngữ ngoại lai mượn từ
Hán tự, Hoa ngữ truyền khẩu và Pháp ngữ phiên
âm. Cái làm nên phong cách tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh đó là ngôn ngữ sử dụng, câu văn viết, từ
ngữ riêng, phương ngữ và ở lối tả chân thật, tự
nhiên. Tất cả đã góp phần tạo nên ngôn ngữ tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh.
3. KẾT LUẬN
Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của
chập chững dò dẫm bước đi với những văn bản
quốc ngữ đầu tiên, phôi thai, đơn sơ, thì Hồ Biểu
Chánh đã vững bước hơn, vừa tây hóa kỹ thuật,
vừa bảo tồn sắc thái dân tộc cũng như địa
phương, vừa mô phỏng (những tiểu thuyết
phỏng dịch) vừa sáng tạo, chính là nhờ ngôn ngữ
sử dụng trong tiểu thuyết của ông vậy. Hồ Biểu
Chánh là một nhà văn có sự thận trọng trong
việc sử dụng từ ngữ, chính ông đã tạo cho ngôn
ngữ trong văn xuôi có được những đặc điểm
mới, đưa văn xuôi Quốc ngữ đi vào con đường
hiện đại. Kể từ Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ trong
tác phẩm văn chương và ngôn ngữ trong cuộc
sống không còn khoảng cách như trước kia. Đó
là đóng góp to lớn, là thành công đáng ghi nhận
của Hồ Biểu Chánh. Ông đã biết chọn cho mình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ, Nxb
Giáo dục.
[2] Thanh Lãng (1967), Bảng lược đồ Văn học Việt Nam, Nxb Trình Bày.
[3] Cù Đình Tú (2003), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
Ngày nhận bài: 31-8-2020. Ngày biên tập xong: 11-9-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020
134
Bạn đang xem tài liệu "Đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_trung_ngon_ngu_nam_bo_trong_tieu_thuyet_ho_bieu_chanh.pdf

