Đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Dương Mộng Tuấn  
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NAM BỘ  
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH  
CHARACTERISTICS OF THE SOUTHERN LANGUAGE IN HO BIEU CHANH’S NOVELS  
DƯƠNG MỘNG TUẤN  
TÓM TẮT: Hồ Biểu Chánh là tác giả khởi đầu sự nghiệp văn xuôi đầu thế kỷ XX và là một trong  
những nhà văn đã góp phần làm vững mạnh nền móng sơ khởi của văn học chữ Quốc ngữ. Ông  
được xem là nhà văn sở trường đã đưa vào tiểu thuyết tiếng nói thường ngày còn được gọi là khẩu  
ngữ của người Nam Kỳ. Một lựa chọn có ý thức, vì ông theo truyền thống viết như nói, nói như thật  
nói, nói xuôi, tức không kiểu cách. Bài viết tìm hiểu ngôn ngữ người Nam Kỳ lục tỉnh trong tiểu  
thuyết Hồ Biểu Chánh trên các phương diện: 1) từ địa phương Nam Bộ; 2) Khẩu ngữ Nam Bộ; 3)  
Sự vận dụng thành ngữ linh hoạt trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh.  
Từ khóa: Hồ Biểu Chánh; ngôn ngữ Nam Bộ; tiểu thuyết.  
ABSTRACT: Ho Bieu Chanh is the author who started the prose career in the early twentieth  
century and is one of the writers who contributed to strengthening the initial foundation of national  
literature. He is considered a writer who has brought the daily voice also known as verbal words of  
the Southern people into the novels. This is a conscious choice, since he traditionally writes as  
saying, say as if saying, say fluently, or no frills. This article explores the language of the 6-  
province-southern people in Ho Bieu Chanh’s novels in the following ways: 1) from the Southern  
locality; 2) Southern verbal words; 3) The flexible use of idioms in Ho Bieu Chanh's novels.  
Key words: Ho Bieu Chanh; The Southern language; novel.  
tự nhiên ai cũng hiểu đó vẫn là tiếng Việt,  
nhưng đó là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông  
đúc tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những  
đặc sắc riêng của nó” [3, tr.112].  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nói đến Hồ Biểu Chánh, người ta thường  
nhớ đến những tác phẩm xuất sắc được chuyển  
thể thành những bộ phim hay và đã để lại dấu  
ấn sâu sắc trong lòng người đọc, người xem.  
Ông có cảm hứng đặc biệt khi tả cảnh, tả  
người, ghi nhận được những nét tinh tế, sinh  
động và đặc thù về địa phương Nam Bộ nhất là  
về phương diện ngôn ngữ. Cù Đình Tú có nhận  
xét: “Phong cách của Hồ Biểu Chánh là phong  
cách viết như nói, nói tiếng mà dân  
chúng Nam Bộ thường dùng hằng ngày vào đầu  
thế kỷ XX. (...) Điều cần phải ghi nhận ở văn  
Hồ Biểu Chánh qua cả vạn trang tiểu thuyết  
của ông là: ông viết tiểu thuyết bằng tiếng của  
dân chúng vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Lẽ  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sử dụng  
nhiều từ ngữ địa phương Nam Bộ  
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cung cấp khá  
nhiều và đa dạng phương ngữ của Nam Kỳ.  
Điều này được thể hiện qua các từ tình thái đặt  
cuối câu, từ xưng hô theo cách nói người miền  
Nam và thông qua cách đặt tên nhân vật.  
Hồ Biểu Chánh thường dùng ở cuối câu  
các từ ngữ để nhấn mạnh nà, giống, hôn, mắc  
giống gì, sợ giống gì, làm giống gì, sướng  
giống gì, còn ức nỗi gì, bất nhân hôn, dữ  
 ThS. Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang, [email protected], Mã số: TCKH23-14-2020  
130  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 – 2020  
hôn,… Hay những từ dùng để tả số lượng: đa  
đa, lắm đa, lung lắm, lung lắm đa,… mang  
đậm nét vùng miền Nam Bộ.  
- Ngài mới lên ăn cơm với mình hôm chúa  
nhựt đây mà.  
- Ăn cơm thì ăn, còn chạy tờ thì chạy, hai  
việc đó khác nhau.  
- Quan Chủ quận chạy tờ như vậy, rồi quan  
lớn Chánh nói sao?  
Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh cũng thường  
Việt hóa các từ ngoại lai theo khuynh hướng  
Nam Bộ như: nhà dây thép, bót, nhà đèn,....  
Ông ít dùng chữ Hán dù ông đã để ra ba năm  
học các sách Tứ Thư và dịch truyện Tàu từ hai  
tập Tình Sử và Kim Cổ Kỳ Quan trước khi khởi  
sự viết văn. Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã ghi  
lại ngôn ngữ Nam Kỳ của một thời cố cựu và  
đã góp phần tái dựng nên bức tranh xã hội của  
thời điểm đó. Ngôn ngữ đó được xuất phát từ  
những con người mộc mạc, nhưng tế nhị, thừa  
biết ăn ở sao cho phải đạo. Ngôn ngữ ở đây nói  
chung có tính lạc quan, tính chân thật và ít  
phức tạp. Chân thật trong cách phát âm theo  
phương ngữ, dùng từ láy và ngay cả khi phát  
âm hay viết sai vì phải biến chế theo hoàn cảnh.  
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã ghi lại nhiều  
dấu vết có ý nghĩa về diện mạo ngôn ngữ ở một  
vùng đất và xuyên qua toàn bộ tiểu thuyết của  
ông, đã đánh dấu các chặng đường phát triển  
của tiếng nói dân tộc nơi đó. Trong số đó có  
những chữ hay cách nói ít gặp hoặc hết được  
dùng: lộn chồng, òn ý, từ mớ, từng khạo (cai),  
áo củn, chiết báng, dui dụt, ô-dề, mái chính,  
chạy tờ, giằn thúc, nôm vợ (lấy người đã có  
- Quan Chánh nói ngài biết tôi có nợ nần  
nhiều, nên tự nhiên tôi mắc lo nợ mà phải bê trễ  
công việc. Vì vậy nên ngài không trách gì; song  
nếu tôi mắc bận việc nhà, không kham chức Cai  
tổng nữa, vậy thì tôi nên từ chức Cai tổng đi,  
đặng rảnh rang mà lo việc nhà.  
- Ngài nói như vậy, nghĩa là ngài muốn xô  
đuổi mình chớ gì. Không biết ý thầy nó thế nào,  
chớ theo tôi thì cũng nên thôi phứt cho rồi, đặng  
khỏi tiếng nặng nề giằn thúc.  
- Bà nó hiệp ý với tôi lắm. Quan lớn Chánh  
khuyên tôi như vậy thì tôi trả lời tôi cám ơn ngài,  
rồi tôi ra bàn bếp hầu tôi viết một lá đơn xin từ  
chức mà đưa cho ngài liền…" [7, tr.167].  
Nếu quan sát cách đặt tên nhân vật trong  
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chúng ta cũng thấy  
tên các nhân vật mang nét đặc trưng riêng của  
người Nam Bộ. Bình dân trong cách đặt tên  
như: Thằng Ðược, Thằng Cu, Con Lựu, Lê Văn  
Ðó, Lê Văn Ðây,… hoặc tên theo vai vế thường  
dùng trong miền Nam: Ba Ðiệp, Sáu Lý, Hai  
Liền,... cách ông đặt tên theo phẩm tính, đạo  
chửa  
làm  
vợ),hốt  
tốc(hấp  
tấp),bam đức như Trần Bá Vạn, Hiếu Liêm, Chánh Tâm,  
bù, má đụng (lấy) cậu nóc giận(nuốt giận, hết Thủ Nghĩa, Châu Tất Ðắc, Võ Lộ, Nguyễn Tự  
giận),xạclơ(xuộilơ),cượng(chống),...  
Cao,... cũng mang dụng ý rõ ràng, phản ánh  
đúng bản chất nhân vật.  
TríchmộtcuộcđốithoạitrongĐóaHoaTàn(1936):  
"… Ông Bình ngồi uống nước. Bà kéo ghế  
ngồi ngang đó mà hỏi rằng: "Bữa nay thầy nó đi  
hầu việc gì vậy?". Ông Bình cười. Ông uống hết  
bốn chén nước rồi mới đáp rằng:  
Hồ Biểu Chánh đặc biệt sử dụng tiếng  
xưng hô bằng từ biến thể trong hợp âm: thẩy (thầy  
ấy), cổ (cô ấy), cỏn (con ấy, ông chỉ dùng để gọi  
vợ của em trai hay vợ của con trai), thẳng (thằng  
ấy, cũng như cỏn, chỉ dùng để gọi chồng em gái  
hay chồng con gái), bây (ngôi hai, số nhiều và  
- Quan Chánh kêu tôi lên mà quở tôi.  
- Có chuyện gì mà quở?  
-Ngài nói theo tờ của quan Chủ quận thì mấy ít),... hay những tiếng thường dùng trong  
thángnaytôicứloviệcnhàkhônglothuếvụnêntrễnải. Nam: tía, má nó, sắp nhỏ, má sắp nhỏ, qua (ngôi  
- Quan Chủ quận chạy tờ hay sao? Có lẽ  
nào ngài làm như vậy!  
thứ nhất), hay trong giới theo Tây, xưng gọi  
là toa, moa, ma femme (ngôi thứ ba),… như trong ví  
dụ bà mẹ Kế Hiền hỏi con trai Thượng Tứ: "Không  
- Có thiệt chớ, chạy tờ kín.  
131  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Dương Mộng Tuấn  
có cỏn về hay sao?" [8, tr.103]; hay: "Này, còn  
chuyện của sắp nhỏ, chú thím liệu sao?" [4, tr.97].  
Ngôn ngữ rõ là chân phương và giàu hình  
Đưa từ khẩu ngữ vào tác phẩm văn  
chương, đó là một sự thay đổi lớn về quan niệm  
sáng tác. Trước thế kỷ XX, các nhà văn nhà thơ  
thường chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ. Đối với  
họ, ngôn ngữ văn chương cần phải qua sự sàng  
lọc cẩn thận. Càng “cầu kỳ bóng bẩy” sẽ càng  
“trang trọng đài các” như thế mới “Lời lời  
châu ngọc hàng hàng gấm thêu”. Cùng thời với  
ảnh cụ thể, trực tiếp để diễn tả những tình cảm,  
tư tưởng. Chân phương để phản ánh đúng cách  
nói của người Nam Kỳ mà Hồ Biểu Chánh đã  
dùng thật nhiều từ chuyển hóa như phiền  
ba (phồn hoa) hiệp ý (hợp ý) xao xiến (xao  
xuyến), chính chiên (chính chuyên). Hayông dùng Hồ Biểu Chánh, nhiều ông khác như Hoàng  
từ đọc trại vì sự kiêng kỵ hay do ảnh hưởng của phương Ngọc Phách, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn,  
ngữ:yên(an),hường(hồng),nhơn(nhân) tình,đờn(đàn),… Nguyễn Trọng Thuật,... vẫn giữ cung cách gọt  
Ðối với người vùng khác thì nghĩ đấy là những  
chữ viết sai nhưng đây mới thật sự là sự phản ánh  
đúng cách nói của người Nam Kỳ (nói sao viết  
vậy) mà theo chúng tôi chỉ có thể tìm thấy cách  
nói thuần chất Nam Bộ này ở tiểu thuyết của Hồ  
Biểu Chánh.  
giũa cẩn thận từng câu chữ. Vì thế họ chưa tạo  
được nét mới về ngôn ngữ qua sáng tác của  
mình. Ngôn ngữ trong tác phẩm của họ có điểm  
chung là xa lạ với tiếng nói hằng ngày của quần  
chúng, rất kiểu cách, cầu kỳ. Sự xuất hiện của  
từ khẩu ngữ với tần số không nhỏ đã làm cho  
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự gần gũi, quen  
thuộc với công chúng bình dân. Người đọc có  
cảm giác như được nghe chính tiếng nói của  
mình, được chia sẻ, được cảm thông. Tiểu  
thuyết Hồ Biểu Chánh đã mang màu sắc của  
chính cuộc sống thực. Đưa từ khẩu ngữ vào tác  
phẩm văn chương đã trở thành sở trường của  
Hồ Biểu Chánh. Đây là một đóng góp đáng kể  
đối với văn học hồi đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu  
Chánh đã khẳng định được quan điểm có thể  
dùng khẩu ngữ của dân chúng Nam Bộ làm cơ  
sở để xây dựng tác phẩm văn chương.  
2.2. Khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ  
Biểu Chánh  
Hồ Biểu Chánh đã khai thác triệt để lớp  
khẩu ngữ Nam Bộ. Từ khẩu ngữ không chỉ xuất  
hiện trong lời đối thoại giữa các nhân vật mà  
còn được nhà văn dùng khi miêu tả hay thuật  
truyện. Hàng loạt các từ khẩu ngữ sau đây đã  
được ông sử dụng trong nhiều tác phẩm của  
mình. Ví dụ: “Con Quyên ra đi thì lòng mừng  
khấp khởi, miệng chúm chím cười. Tuy nó mặt  
đồ vải bô, song mặt nó trắng tươi môi nó đỏ  
lòm, chân mày nó nhỏ mứt, bàn tay nó dịu nhĩu,  
tướng nó đi khoan thai” [4, tr.109].  
Trong quá trình sử dụng khẩu ngữ, Hồ  
Còn đây là lời của nhân vật: “Bên Tây nhà  
giàu họ xài tiền đúng lắm, nhằm chuyện bao  
nhiêu họ cũng không tiếc, còn không nhằm  
chuyện, dầu một đồng điếu họ cũng không loại,  
chớ không phải họ xài như mình vậy đâu” [4,  
tr.66]. Khi thuật truyện, ông cũng dùng từ khẩu  
ngữ, điều mà nhiều nhà văn ít khi vận dụng:  
“Trần Văn Sửu nín khe, bỏ đi thẳng vô nhà bếp.  
Anh ta thấy bếp núc lạnh tanh, mà sắc mặt chẳng  
có một chút giận nào hết. Anh ta xách nồi đi xúc  
gạo đem vo, rồi nhúm lửa bắt lên mà nấu. Thị  
Lựu không hề léo vô bếp” [4, tr.107].  
Biểu Chánh cũng để lại một ít hạn chế. Ông  
chưa chú ý sàng lọc, chưa tập hợp những tinh  
hoa của khẩu ngữ Nam Bộ. Không ít trường  
hợp, khi đưa khẩu ngữ vào tác phẩm, Hồ Biểu  
Chánh tỏ ra dễ dãi, vô tình làm ảnh hưởng đến  
giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ văn chương trong  
tác phẩm nghệ thuật, ít nhiều gợi lên tính chất  
thông tục như các ví dụ sau: “Tao đánh bài, dầu  
có thua đi nữa, thì tao thua tiền của tao, chứ phải  
tiền bạc của cha mẹ mày chở đến đây hay sao mà  
mày nói? Tao là con nhà giàu, từ nhỏ đến lớn tao  
ăn xài bài bạc chơi đã quen rồi chứ phải quân ăn  
mày coi đồng bạc như cái bánh xe đâu. Mày có  
132  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 23, Tháng 9 – 2020  
chê tao thì mày để tao ra rồi đi cưới vợ khác đi.  
Cha chả! Mày tưởng tao màng cái tuồng mặt mày  
lắm sao? Bực mày là đồ bỏ đa, đừng có làm  
phách” [7, tr.83].  
thành ngữ. Thành ngữ cũng góp phần không  
nhỏ trong việc biểu đạt tình cảm, ghi lại cuộc  
sống của người Nam Bộ bằng cách diễn đạt  
riêng vừa hình tượng, vừa khái quát tạo cho câu  
văn thêm phần hấp dẫn, thú vị có sức thuyết  
phục cao. Cách vận dụng thành ngữ của ông rất  
uyển chuyển, linh hoạt, hợp lý, không gò bó và  
với nhiều hình thức khác nhau: Vận dụng  
nguyên mẫu và cải biến. Ta bắt gặp trong tác  
phẩm của ông những thành ngữ ở dạng nguyên  
mẫu như: “Tan xương nát thịt, sóng dập gió  
dồi, trôi sông lạc chợ, no cơm ấm áo, mặt dạn  
mày dày, lên xe xuống ngựa, ngậm đắng nuốt  
cay, đủ lông đủ cánh, bán phấn buôn hương”…  
Nét riêng trong sự vận dụng và mang đậm  
tính Nam Bộ thể hiện rõ qua những thành ngữ  
được dùng ở dạng cải biến.  
Dường như Hồ Biểu Chánh muốn diễn tả  
thật cụ thể, sống động tính cách của những  
nhân vật phản diện. Bởi cách nói năng như trên  
thường được ông mớm vào cửa miệng của  
những kẻ độc ác, ích kỷ tham lam hay hư thân  
mất nết. Thế nhưng, vẫn có trường hợp không  
hẳn như vậy. Trong tác phẩm “Thầy thông  
ngôn”, ông miêu tả cô Sáu Lý là một cô gái  
khôn khéo, lanh lợi nhưng không kém phần nết  
na. Thế mà, có những đoạn văn viết về cô gái  
ấy hay thuật lại lời đối thoại của cô Sáu Lý vẫn  
có nhiều từ khẩu ngữ mang sắc thái thô thiển  
nặng nề. Ví dụ: “Cô đợi một hồi lâu không  
nghe thầy trả lời, cô mới đứng dậy hỉ mũi mà  
nói,...” [7, tr.46] hay: “Thầy thúi lắm, làm trai  
như vậy nên lắt cái mặt mà quăng đi” [7, tr.48].  
Đây là một đặc điểm chung của văn xuôi  
quốc ngữ Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX. Không  
riêng gì Hồ Biểu Chánh, nhiều ông khác cũng  
có cách sử dụng từ khẩu ngữ như thế. Có lẽ đó  
là một tất yếu của giai đoạn giao thời khi văn  
học mới từ giã cung cách đài các, trang trọng,  
khuôn phép để tiến đến lối viết tự nhiên, gần  
gũi với quần chúng lao động. Mặc dù khi dùng  
từ khẩu ngữ, Hồ Biểu Chánh chưa đạt được sự  
thành thục khéo léo thế nhưng không ai có thể  
phủ nhận sự hiện diện thường xuyên của từ  
khẩu ngữ trên từng trang viết đã đưa tiểu thuyết  
Hồ Biểu Chánh đến gần với đông đảo công  
chúng bình dân. Tầm đón nhận của tiểu thuyết  
Hồ Biểu Chánh vừa rộng lớn, vừa lâu bền. Lời  
giải đáp cho thực tế ấy cũng không loại trừ việc  
sử dụng từ khẩu ngữ.  
Cải biến cách phát âm: Tu nhơn tích đức  
(tu nhân tích đức), nhắm mắt đưa chơn (nhắm  
mắt đưa chân), tâm đầu ý hiệp (tâm đầu ý hợp),  
cải tử hườn sanh (cải tử hoàn sinh)...  
Ví dụ: “Tôi tu nhơn tích đức không muốn  
sanh sự” [4, tr.439]; “Cha cấm tuyệt không cho  
thấy được nữa, vậy thì chàng phải nhắm mắt  
đưa chơn mà bước vào đường đời” [9, tr.30].  
Đọc tiểu thuyết là hình thức để giải trí và  
thưởng thức. Nếu câu văn cầu kỳ, khó hiểu cũng  
không mấy hấp dẫn đối với đa số độc giả, nên  
giản dị, nên nói cái ngôn ngữ của người đọc để  
cho họ dễ đọc. Ðó là những điều kiện để tiểu  
thuyết được nhiều người ưa thích và nhiều tiểu  
thuyết của Hồ Biểu Chánh có đủ những điều kiện  
đó, ông đã đáp ứng đúng nhu cầu đọc tiểu thuyết  
để tiêu khiển của đa số độc giả Nam Bộ trong các  
thập niên 1920 - 1940 của thế kỷ XX.  
Hồ Biểu Chánh đã chắt lọc và sáng tạo lại  
lời ăn tiếng nói của nhân dân và vận dụng vào  
trong sáng tác của mình. Điều này không chỉ  
góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ trong  
tiểu thuyết của ông mà còn là sự đóng góp của  
nhà văn vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc.  
2.3. Sự vận dụng thành ngữ linh hoạt trong  
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh  
Hồ Biểu Chánh đưa vào tác phẩm nhiều  
thành ngữ. Lớp từ này được ông vận dụng rất  
đa dạng và phong phú. Câu văn xuôi của Hồ  
Biểu Chánh có tính thuyết phục là nhờ vào  
133  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Dương Mộng Tuấn  
một con đường ngắn nhất để đi đến thành công,  
đó là học tập ngôn ngữ dân tộc, học tập văn  
chương của các nhà văn đi trước. Vì thế ông đã  
viết nên những tác phẩm có giá trị về nghệ thuật  
ngôn từ. Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có thể  
xem là một bộ lịch sử phong tục về một miền  
Nam Kỳ lục tỉnh thời của ông vì qua đó ngoài  
những phản ánh đạo đức luân lý, truyền thống  
tập quán, người đọc đời sau còn hiểu được quá  
trình quan hệ với nước ngoài qua bình diện ngôn  
ngữ, tức là qua những từ ngữ ngoại lai mượn từ  
Hán tự, Hoa ngữ truyền khẩu và Pháp ngữ phiên  
âm. Cái làm nên phong cách tiểu thuyết Hồ Biểu  
Chánh đó là ngôn ngữ sử dụng, câu văn viết, từ  
ngữ riêng, phương ngữ và ở lối tả chân thật, tự  
nhiên. Tất cả đã góp phần tạo nên ngôn ngữ tiểu  
thuyết Hồ Biểu Chánh.  
3. KẾT LUẬN  
Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của  
chập chững dò dẫm bước đi với những văn bản  
quốc ngữ đầu tiên, phôi thai, đơn sơ, thì Hồ Biểu  
Chánh đã vững bước hơn, vừa tây hóa kỹ thuật,  
vừa bảo tồn sắc thái dân tộc cũng như địa  
phương, vừa mô phỏng (những tiểu thuyết  
phỏng dịch) vừa sáng tạo, chính là nhờ ngôn ngữ  
sử dụng trong tiểu thuyết của ông vậy. Hồ Biểu  
Chánh là một nhà văn có sự thận trọng trong  
việc sử dụng từ ngữ, chính ông đã tạo cho ngôn  
ngữ trong văn xuôi có được những đặc điểm  
mới, đưa văn xuôi Quốc ngữ đi vào con đường  
hiện đại. Kể từ Hồ Biểu Chánh, ngôn ngữ trong  
tác phẩm văn chương và ngôn ngữ trong cuộc  
sống không còn khoảng cách như trước kia. Đó  
là đóng góp to lớn, là thành công đáng ghi nhận  
của Hồ Biểu Chánh. Ông đã biết chọn cho mình  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ, Nxb  
Giáo dục.  
[2] Thanh Lãng (1967), Bảng lược đồ Văn học Việt Nam, Nxb Trình Bày.  
[3] Cù Đình Tú (2003), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục.  
Ngày nhận bài: 31-8-2020. Ngày biên tập xong: 11-9-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020  
134  
pdf 5 trang baolam 26541 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_trung_ngon_ngu_nam_bo_trong_tieu_thuyet_ho_bieu_chanh.pdf