Dạy - học yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt trong chương trình Ngữ văn THCS - thực trạng và giải pháp

Khoa Ngữ văn, Trƣờng  
Đại học Sƣ phạm TP.  
Hồ Chí Minh  
DẠY – HỌC YẾU  
TỐ HÁN VIỆT,  
TỪ HÁN VIỆT  
TRONG  
Điện thoại: 0989975473  
CHƢƠNG  
(HVM)  
TRÌNH  
VĂN THCS  
THỰC TRẠNG  
VÀ GIẢI PHÁP  
NGỮ  
–
Email:  
hoangminh0075@yahoo  
.com.vn  
HOÀNG THỊ  
ThS. HUỲNH VĂN  
QUỲNH TRANG  
MINH  
TÓM TẮT  
Trong khi chờ đợi những quyết sách lớn cho công cuộc đổi mới ngành GD,  
trƣớc mắt cần hạn chế những bất cập trong hệ thống GD hiện nay. Lấy việc dạy – học  
yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt trong chƣơng trình Ngữ văn Cấp II làm cơ sở, bài viết tiến  
hành khảo sát chất lƣợng của đội ngũ giáo viên, nội dung chƣơng trình trong sách giáo  
khoa, qua đó chỉ ra những hạn chế, bất cập;đồng thời, đề xuất những nhóm giải pháp  
cho việc biên soạn chƣơng trình cũng nhƣ việc dạy – học những vấn đề nêu trên đƣợc  
hiệu quả hơn.  
Từ khoá: dạy – học, yếu tố Hán Việt, trung học cơ sở, thực trạng, giải pháp  
ABSTRACT  
Teaching and Learning Sino-Vietnamese Vocabulary at the High Schools – The Real  
Situation and Solutions  
While awaiting policies of large-scale educational innovation, it is vital to limit  
disadvantages in our available system. Based on the procedure of teaching and learning  
Sino-Vietnamese vocabulary in junior high-school language and literature program, this  
paper investigates the quality of teaching staff and curriculum, through which shedding  
light on the shortcomings which led to limited teaching-learning effects, and suggesting  
some groups of resolutions for mentioned problems.  
Key words: teaching and learning, Sino-Vietnamese, vocabulary, high school  
346  
Trong công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục, ngành ngữ văn, bộ môn ngữ văn  
tất yếu cũng phải có sự vận động, chuyển mình cho phù hợp. Mục đích của công cuộc  
đổi mới ấy là phát huy, nâng cao ý thức tự giác học tập, khả năng tiếp cận và chủ động  
chiếm lĩnh kiến thức của ngƣời học. Đó là mục đích chung. Riêng với môn Ngữ văn,  
tiếp cận mục đích ấy tức đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng cảm thụ (đối với tác  
phẩm văn học) và nắm bắt đƣợc những đặc trƣng cơ bản của các kiểu loại hình văn bản  
khác, tạo lập kĩ năng vận dụng ngôn từ (tiếng Việt) trong việc tìm hiểu, phân tích và lí  
giải các vấn đề văn học và ngôn ngữ nói chung. Đó là cơ sở để phát huy, giữ gìn sự  
trong sáng của tiếng Việt. Để đạt đƣợc hoặc ít ra tiệm cận với mục đích nêu trên thì mọi  
khâu, mọi qui trình đều phải đƣợc xây dựng có tính định hƣớng, nhất quán và khả thi.  
Trên tinh thần nhƣ vậy, thông qua việc khảo sát chất lƣợng giáo viên(GV), nội dung  
chƣơng trình sách giáo khoa (SGK), bài viết xin nêu một vài ý kiến nhận xét về tình  
hình biên soạn chƣơng trình, cũng nhƣ hoạt động dạy – học yếu tố Hán Việt (YTHV),  
từ Hán Việt (THV) trong chƣơng trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS), đồng thời đề  
xuất một vài nhóm giải pháp về vấn đề này.  
1. Tình hình đào tạo – chất lƣợng của giáo viên Trung học cơ sở  
Trƣớc tiên, xem trong chƣơng trình đào tạo giáo viên ngữ văn bậc THPT và  
THCS hiện nay của một số cơ sở đào tạo Đại học và Cao đẳng, YTHV - THV là những  
nội dung thƣờng đƣợc lồng ghép hoặc đƣợc nhắc đến trong một số bộ môn liên quan ở  
những mức độ nông sâu khác nhau. Có thể đƣợc khái quát phần nào trong các học phần  
nhƣ Ngữ âm – từ vựng tiếng Việt; Từ vựng học…; bƣớc đầu nhận diện qua học phần  
Thực hành văn bản tiếng Việt, và phần nào đƣợc cụ thể hóa trong các học phần có tính  
tổng hợp nhƣ Hán Nôm, hoặc hữu biệt nhƣ Văn bản Hán văn Trung Quốc; Văn bản Hán  
văn Việt Nam… Trong một số khung chƣơng trình mới, đã có xây dựng những học phần  
mang tính chuyên đề (Từ Hán Việt với việc giảng dạy ngữ văn ở THPT) nhƣng nhìn  
chung vẫn tập trung nhiều vào phạm vi lý thuyết, chƣa thật sự đi sâu, làm rõ thực tiễn  
sinh động của các YTHV – THV trong tiếng Việt cũng nhƣ tính chất “hiểu nhƣng khó  
hoặc không giải thích đƣợc” của nó. Hệ quả là, năng lực cảm, hiểu và lí giải các vấn đề  
có liên quan đến từ mƣợn tiếng Hán của giáo viên còn nhiều hạn chế. Để có cái nhìn  
khách quan về kết quả đào tạo, cũng nhƣ chất lƣợng của giáo viên, chúng tôi tiến hành  
khảo sát trên 22 giáo viên THCS hiện đang công tác tại thành phố Hồ Chí Minh về vấn  
đề này (xin không nêu tên và đơn vị công tác của đối tƣợng đƣợc khảo sát):  
Số lƣợng bài khảo sát: 22  
Số tổ hợp từ đƣợc khảo sát: 22  
Nội dung khảo sát:  
Nghĩa của yếu tố trong tổ hợp.  
347  
Kết cấu của tổ hợp (từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ).  
Bảng khảo sát nhƣ sau:  
Cho biết ngữ nghĩa của yếu tố có trong các tổ hợp; xác định kết cấu của tổ hợp bằng  
cách đánh dấu (X) vào ô tƣơng ứng:  
Kết cấu  
chính phụ  
Yếu tố  
Tổ hợp  
Nghĩa yếu tố  
Đẳng lập  
Chính  
Chính  
sau  
trƣớc  
cố hữu  
cố nông  
cố  
cố hương  
tứ cố (vô thân)  
dự trù  
tham dự  
do dự  
dự  
hậu vận  
đôn hậu  
hậu  
lãnh đạo  
lãnh đạm  
thủ lãnh  
lãnh hải  
lãnh  
phong ba  
gia phong  
phong thái  
phong trào  
phong  
348  
niêm phong  
thủ pháp  
thủ công  
thủ thuật  
thủ quỹ  
thủ  
Kết quả khảo sát:  
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ TỔNG HỢP CỦA 22 BÀI  
Nghĩa yếu tố  
Kết cấu  
Yếu tố  
Tổ hợp  
Đ
S
K
Đ
S
K
3 (13.6%)*  
0 (0%)  
16  
14  
0
3
8
0
4
7 (31.8%)  
4 (18.2%)  
9 (40.9%)  
2 (9.1%)  
8
7
7
11  
3
cố hữu  
cố nông  
cố  
22 (100%)  
1 (4.5%)  
10  
8
cố hương  
tứ cố (vô thân)  
17  
12  
13(59.1%)  
16(72.7%)  
12 (54.5%)  
6
2
5
3
4
5
2 (9.1%)  
4 (18.2%)  
5 (22.7%)  
11  
9
9
9
dự trù  
tham dự  
do dự  
dự  
6
11  
21 (95.5%)  
4 (18.2%)  
0
1
3
5 (22.7%)  
5 (22.7%)  
11  
6
6
hậu vận  
đôn hậu  
hậu  
15  
11  
6 (27.3%)  
5 (22.7%)  
0 (0%)  
13  
10  
20  
9
3
7
2
3
9 (40.9%)  
8
6
5
11  
7
lãnh đạo  
lãnh đạm  
thủ lãnh  
lãnh hải  
5 (22.7%)  
3 (13.6%)  
lãnh  
12  
14  
2 (9.1%)  
10 (45.5%)  
6
20 (90.9%)  
1
1
6 (27.3%)  
10  
6
phong phong ba  
349  
16 (72.7%)  
4
10  
14  
8
2
6
8
8
3 (13.6%)  
5 (22.7%)  
4 (18.2%)  
4 (18.2%)  
11  
9
8
8
gia phong  
phong thái  
phong trào  
niêm phong  
6 (27.3%)  
0 (0%)  
8
10  
11  
6 (27.3)  
7
0 (0%)  
10  
4
12  
6
3 (13.6%)  
3 (13.65)  
7
8
5
5
12  
11  
11  
7
thủ pháp  
thủ công  
thủ thuật  
thủ quỹ  
12 (54.5%)  
3 (13.6%)  
18 (81.8%)  
thủ  
9
9
6(27.3%)  
10(45.5%)  
3
1
(Đ: đúng;S: sai; K: không có đáp án; (*): tỉ lệ % của đáp án đúng)  
Nhận xét:  
- Về ngữ nghĩa yếu tố trong tổ hợp:  
Có 8/22 trƣờng hợp cho kết quả đúng có tỉ lệ đạt trên 50%  
Có 4/22 trƣờng hợp không có đáp án  
Duy nhất một trƣờng hợp cho kết quả đúng đạt tỉ lệ 100% (cố hƣơng)  
- Về kết cấu:  
Không có trƣờng hợp nào có đáp án đúng trên 50 %.  
Tỉ lệ cao nhất chỉ đạt 45.5%. Ngay trong trƣờng hợp xác định ngữ nghĩa  
của yếu tố đạt kết quả đúng 100%, phần xác định kết cấu chỉ đạt tỉ lệ 40.9%  
BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ CỦA TỪNG BÀI  
Số câu trả lời đúng  
Đạt  
Số câu trả lời đúng  
Đạt  
Bài  
Bài  
số  
số  
(…/44)  
(%)  
(…/44)  
(%)  
1
24  
17  
17  
20  
54.5  
38.6  
38.6  
45.5  
12  
13  
14  
15  
11  
10  
18  
10  
25  
2
3
4
22.7  
40.9  
22.7  
350  
5
03  
19  
14  
09  
08  
11  
11  
6.8  
43.2  
31.8  
20.5  
18.2  
25  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
10  
12  
13  
08  
22  
11  
11  
22.7  
27.3  
29.5  
18.2  
50  
6
7
8
9
10  
11  
25  
25  
25  
- Về cá nhân, có 2/22 giáo viên đƣợc khảo sát có đáp án đúng đạt tỉ lệ trên 50%  
(bài số 1 và 20).  
- Có trƣờng hợp chỉ trả lời đúng 3/44 câu hỏi đƣa ra (bài số 5).  
Qua hai bảng thống kê, những con số thống kê, tuy chƣa phải là toàn diện nhƣng  
cũng phần nào thấy đƣợc năng lực của giáo viên THCS hiện nay. Các tổ hợp đƣợc sử  
dụng để khảo sát phần lớn đều nằm trong phạm vi “nhật dụng”, nội dung khảo sát rất  
gần, rất sát với nội dung dạy – học trong chƣơng trình ngữ văn THCS. Điều đó chứng  
tỏ, có một “khoảng mờ” về ngữ nghĩa đối với bản thân các giáo viên nói riêng, và của  
không ít ngƣời Việt nói chung đang sử dụng tiếng Việt.  
2. Về phân phối chƣơng trình (nội dung, số lượng tiết học)  
Ngữ văn 6 : 2 tiết  
Bài Từ mượn, tập 1  
Yêu cầu cần đạt: biết đƣợc từ mƣợn trong tiếng Việt, từ mƣợn tiếng  
Hán.  
Bài Ôn tập Tiếng Việt, tập 1  
Yêu cầu cần đạt: tóm tắt phân loại từ mƣợn trong tiếng Việt, tập trung  
nêu rõ phần từ mƣợn tiếng Hán.  
Ngữ văn 7: 2 tiết  
Bài Từ Hán Việt, tập 1  
Yêu cầu cần đạt: biết đƣợc yếu tố Hán Việt, từ ghép Hán Việt; biết sử  
dụng (nói và viết) từ Hán Việt.  
Bài Từ Hán Việt (tiếp theo), tập 1  
351  
Yêu cầu cần đạt: biết đƣợc sắc thái ý nghĩa của từ Hán Việt phù hợp  
để tăng hiệu quả khi nói và viết.  
Ngữ văn 9: 2 tiết  
Bài Tổng kết về từ vựng (trong đó có Từ mƣợn, từ Hán Việt), tập 1.  
Nhận xét chung:  
Trên cơ sở khảo sát phạm vi lí thuyết, hệ thống bài tập tƣơng ứng của từng bài  
học trong SGK; hệ thống đáp án, hƣớng dẫn trong SGV và các sách tham khảo, chúng  
tôi đều đã có những nhận xét và kết luận riêng. Trong phạm vi bài viết, chúng tôichỉ đƣa  
ra những nhận xét có tính tổng hợp về vấn đề này.  
Đại thể, chƣơng trình đƣợc thiết kế đã đề cập tới những vấn đề cơ bản của từ  
Hán Việt, yếu tố Hán Việt. Song, nội dung còn mỏng, lại chủ trƣơng đơn giản hóa (theo  
tinh thần của các tác giả biên soạn sách giáo khoa). Chúng tôi cho rằng, tuy yêu cầu về  
kiến thức chƣa cao nhƣng thiết nghĩ cũng nên cung cấp cho học sinh những khái niệm  
cơ bản, mang tính tiền đề.  
Trong ý tƣởng thiết kế của sách giáo khoa THCS, nội dung chƣơng trình trải từ  
lớp 6 đến lớp 9 theo tinh thần kế thừa, nâng cao. Xem trong chƣơng trình, với những  
lớp trên, vấn đề này đơn thuần chỉ đƣợc nhắc lại kiến thức vốn đƣợc cung cấp ở lớp  
dƣới (ở dạng đề mục), không thấy tính kế thừa, đồng nghĩa với không mở rộng và nâng  
cao. Vấn đề là, đến THPT, cả 3 bộ ngữ văn 10, 11, 12 (không kể chƣơng trình Nâng  
cao) không còn đề cập tới nội dung từ Hán Việt, yếu tố Hán Việt nữa. Nhƣ vậy, có thể  
nói, kiến thức cơ bản về từ Hán Việt, yếu tố Hán Việt của 12 năm phổ thông, chỉ hạn  
hẹp trong nội dung chƣơng trình lớp 6 và 7 (ở bậc tiểu học, học sinh cũng đã đƣợc làm  
quen, nhận diện YTHV – THV theo phạm vi chủ đề, chủ điểm của bài học) .  
Bài tập yêu cầu trong sách giáo khoa mặc dù không cao so với năng lực thực tế  
của học sinh, nhƣng theo phản hồi từ phía giáo viên đƣợc khảo sát, đa số học sinh  
không nắm bắt đƣợc phần ngữ nghĩa cũng nhƣ kết cấu của lớp từ mƣợn gốc Hán. Hoạt  
động dạy – học sở dĩ diễn ra suôn sẻ là vì nhờ đã có hệ thống sách giáo viên, sách tham  
khảo “hùng hậu”bổ sung.  
Về bảng tra cứu các yếu tố Hán việt, mỗi bộ sách Ngữ văn THCS (từ lớp 6 tới  
lớp 9) đều có 2 tập, và mỗi bộ đều có phần Phụ lục – Bảng tra cứu yếu tố Hán Việt,  
nhằm bổ sung kiến thức về từ Hán Việt cho học sinh theo hƣớng tự rèn luyện. Tuy  
nhiên, bảng phụ lục này đƣợc đặt ở cuối cuốn Ngữ văn tập hai. Vị trí chƣa hợp lý. Bởi  
những yếu tố Hán Việt đƣợc liệt kê bao gồm cả những yếu tố xuất hiện trong sách Ngữ  
văn tập một. Thực tế nữa là, cũng theo kết quả khảo sát từ phía giáo viên, không một  
352  
thầy cô giáo nào sử dụng, và cũng không có bất cứ một sự tƣơng tác nào giữa GV – HS  
xoay quanh bảng tra cứu nêu trên.  
Về số lƣợng yếu tố Hán Việt đƣợc thống kê, ta có các con số nhƣ sau:  
Số lƣợng yếu tố Hán Việt đƣợc  
Sách  
thống kê  
Ngữ văn 6, tập 2  
Ngữ văn 7, tập 2  
Ngữ văn 8, tập 2  
Ngữ văn 9, tập 2  
Tổng số  
50  
50  
50  
70  
220  
Chƣơng trình Ngữvăn THCS gồm 4 bộ sách, cả thảy 8 tập, tổng số lƣợng yếu tố  
Hán Việt đƣợc thống kê là 220. Nếu đem so với khối lƣợng từ vựng phải học của một  
ngoại ngữ nào đó trong suốt 4 năm, thì rõ ràng 220 là con số khiêm tốn. Mỗi bài học chỉ  
thống kê từ 1 đến 10 yếu tố Hán Việt, dẫn tới hệ quả, học sinh sẽ có suy nghĩ rằng bài  
học đó chỉ có chừng ấy yếu tố Hán Việt và đã đƣợc thống kê, còn lại không phải là yếu  
tố Hán Việt.  
Việc thống kê nêu trên cho thấy tính định hƣớng và “tham vọng” của các nhà  
biên soạn sách giáo khoa. Song, cần “thực tiễn hóa” nó trong hoạt động dạy – học bằng  
những yêu cầu cụ thể, đồng thời xem đây là nhiệm vụ dài hơi trong việc rèn luyện, mở  
rộng và nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh.  
1. Giải pháp  
Về công tác đào tạo giáo viên  
Xây dựng các học phần cơ sở, các chuyên đề có liên quan đến Hán Nôm, lớp từ  
mƣợn tiếng Hán. Công việc này không phải chỉ đối với đội ngũ giáo viên bậc THCS,  
THPT mà phải bắt đầu từ ngay bậc Tiểu học – việc mà hầu nhƣ chƣa có đơn vị đào tạo  
nào thực hiện.  
Nâng cao ý thức rèn luyện, trau dồi về năng lực ngôn ngữ , kĩ năng giải thích,  
phân tích các vấn đề nói chung và ngôn từ nói riêng.  
353  
Nâng cao văn hóa đọc cho học sinh, sinh viên. Vai trò của văn hóa đọc không gì  
phải bàn. Không thể suy nghĩ rằng, tiếng Việt đọc đƣợc là có thể hiểu đƣợc. Đọc mà  
hiểu là phải ở một“trình” nào đó.  
Nền tảng của lớp từ mƣợn gốc Hán là ở chữ Hán. Thông qua tiếng Việt, nhận  
diện và “quy ra đƣợc”chữ Hán thì khả năng lý giải, phân tích ngữ nghĩa nói chung là  
thuận lợi, dễ dàng hơn. Đây là con đƣờng tiếp cận trực tiếp dẫn đến “cảm giác ngôn ngữ  
trực tiếp”. Vì vậy, giúp sinh viên xây dựng thái độ, tinh thần học tập nghiêm túc, đặc  
biệt là với các môn đƣợc cho là vừa “khô” vừa “khổ” nhƣ Hán Nôm cũng nhƣ các môn  
có liên quan đến bộ môn này.  
Về việc điều chỉnh ở sách giáo khoa  
Cần khái quát lại phần lý thuyết chung. Bài học nên đƣợc sắp xếp thành nhóm,  
tránh “phân mảng” nhƣ hiện nay. Việc bố trí gián cách những bài học có cùng nội dung,  
mặc dù đã có định hƣớng, nhƣng nhìn chung là rất bất tiện cho việc triển khai quá trình  
dạy - học, làm mất tính liên tục của vấn đề, đó còn chƣa kể sự khó khăn, bất cập trong  
việc ghi chép bài vở của học sinh.  
Nếu thực sự muốn thống kê số lƣợng yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt xuất hiện thì  
nên thống kê ở từng bài và thống kê theo nhóm, theo phạm vi (có định hƣớng), không  
nhất thiết phải thống kê toàn bộ các yếu tố, các từ Hán Việt có trong bài học đó. Ƣu tiên  
thống kê các yếu tố Hán Việt độc lập trƣớc, vì đây là nhóm yếu tố Hán Việt quen thuộc,  
dễ nhận diện rồi lấy đó làm “căn cứ” để mở rộng. Còn nhƣ vẫn bảo lƣu bảng tra cứu đã  
có, để phát huy hiệu quả, cần có cách sắp xếp hợp lí hơn. Đồng thời, cũng nên có những  
hƣớng dẫn, yêu cầu cụ thể để GV – HS có ý thức và thƣờng xuyên sử dụng, tra cứu.  
Trên cơ sở Bảng tra cứu yếu tố Hán Việt, có thể lồng ghép, giới thiệu cho học  
sinh làm quen, nhận diện một số các đơn vị chữ Hán cơ bản, “làm vốn liếng” để các em  
theo học những ngành có liên quan sau này.  
Giúp học sinh làm quen với một số yếu tố phụ trƣớc, phụ sau có tần số xuất hiện  
cao trong các tổ hợp gốc Hán (phụ trƣớc: vô, phi, bất, sở...; phụ sau: thủ, sĩ, viên, giả,  
gia...) đƣơng nhiên, cần cân nhắc lựa chọn giới thiệu một vài trong số chúng.  
Việc giải thích, phân tích và tạo lập các tổ hợp yếu tố gốc Hán là thao tác đƣợc  
lồng ghép thƣờng xuyên không chỉ hạn hẹp trong các bài học có nội dung liên quan.  
Cuối cùng là, xây dựng những “nguyên tắc cơ bản” trong việc tìm hiểu, phân  
tích, giải thích yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt, giúp học sinh (kể cả sinh viên) hình thành  
khả năng và kĩ năng sử dụng tiếng Việt nói chung. Đó là:  
Hạn chế việc sử dụng tổ hợp gốc Hán để “chú giải” cho một yếu tố gốc Hán.  
354  
Dùng cái đã biết để nói cái chƣa biết.  
Lấy cái đơn giản để nói cái phức tạp.  
Từ nghĩa gốc mở rộng ra nghĩa phái sinh.  
Từ cái cụ thể để nói cái khái quát.  
Từ mức độ phổ thông nâng lên, tiếp cận mức độ khoa học, chuyên môn.  
Ngữ nghĩa của yếu tố đƣợc giải thích phải đặt trong mối tƣơng quan với ngữ  
nghĩa của tổ hợp.  
Trừ những trƣờng hợp bất khả kháng mới vận dụng những nguyên tắc khác  
ngoài những nguyên tắc nêu trên. Điều quan trọng là, phải tìm đƣợc một đơn vị từ vựng  
tƣơng ứng (ƣu tiên từ thuần Việt) để chú giải cho yếu tố cần chú giải. Phải từ những đơn  
vị từ vựng cụ thể nhƣ vậy thì học sinh mới có thể nắm bắt, so sánh, đối chiếu và thông  
qua đó để có thể khái quát thành những mức độ cao hơn.  
Trong các thao tác phân tích, giải thích ngôn từ nói chung, đặc biệt là đối với  
yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt, thƣờng không đƣợc chú trọng đến những nguyên tắc ấy,  
chủ yếu hoặc dựa trên cảm nhận chủ quan, hoặc đôi khi lại chủ trƣơng máy móc. Có thể  
lấy một ví dụ để minh họa cho tính cấp thiết phải xây dựng những “nguyên tắc” nêu  
trên.  
Sách ngữ văn 7, trang 70, tập 1,trong phần luyện tập có yêu cầu học sinh phân  
biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt đồng âm trong các từ ngữ sau:  
o Hoa1: hoa quả, hƣơng hoa  
o Hoa2 : hoa mĩ, hoa lệ  
Đáp án đƣợc trình bày trong sách giáo viên và một số sách tham khảo:  
Sách giáo viên: không đƣa ra đáp án, chủ trƣơng cho học sinh tra cứu Từ điển  
Từ Hán Việt.  
Sách Thiết kế bài giảng ngữ văn của nhóm tác giả 1 (xin không nêu tên):  
o Hoa1: chỉ sự vật, cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín  
o Hoa2: phồn hoa, bóng bẩy  
Sách Thiết kế bài dạy ngữ văn của nhóm tác giả 2:  
o Hoa1: chỉ loài hoa  
o Hoa2: chỉ sự đẹp  
Bài viết không chủ trƣơng bàn chuyện đúng sai, mà chỉ cốt đề cập đến phƣơng  
pháp, cách thức trong việc đƣa ra các đáp án, hƣớng dẫn. Các tác giả của sách GV vẫn  
nhất quán chủ trƣơng phát huy tính chủ động, tự học của học sinh nên không đƣa ra đáp  
án. Điều chúng tôibăn khoăn là, không phải học sinh nào cũng có đủ điều kiện và khả  
355  
năng để trang bị và sử dụng hệ thống sách tra cứu nhƣ thế. Mà nếu có và lạm dụng, thì  
lại làm triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Sách giáo viên là vậy. Sách tham  
khảo có phần cụ thể hơn. Theo cách giải quyết vấn đề nhƣ trên, rõ ràng nhóm tác giả  
thứ nhất chú trọng đến “tính chuyên môn” cao, trong khi nhóm thứ hai lại chủ trƣơng  
“khái quát hóa” mà không dựa trên một cơ sở, một tiền đề nào. Đối chiếu, so sánh các  
hƣớng dẫn nêu trên với cách giải thích ngữ nghĩa yếu tố gốc Hán trong bảng tra cứu ở  
SGK dễ dàng nhận ra “độ vênh” giữa chúng. Bảng tra cứu đã phần nào thể hiện đƣợc  
tính nhất quán trong việc vận dụng những nguyên tắc nêu trên. Chỉ tiếc là, dù ở góc độ  
nào, ở bất cứ hoạt động nào có liên quan đến việc dạy – học, nó vẫn không đƣợc sử  
dụng đểtham khảo, tham chiếu. Nhƣ vậy, trở lại ví dụ nêu trên, dù có hay không có đáp  
án cũng không giúp gì nhiều đến việc phát huy kĩ năng phân tích, giải thích và sử dụng  
tiếng Việt của học sinh.  
KẾT LUẬN  
Việc giảng dạy từ Hán Việt trong chƣơng trình Ngữ văn THCS là cần thiết.  
Song, qua những tìm hiểu ở trên, chúng tôi thấy rằng,vấn đề này chƣa thật sự đƣợc chú  
trọng, nội dung còn đơn giản, chƣa chặt chẽ. Thể hiện ở số tiết học còn ít; nội dung bài  
học còn giản lƣợc; hệ thống Phụ lục còn nhiều hạn chế, chƣa hợp lí, thiếu tính nhất quán  
và không khả dụng.  
Những điều này khiến hiệu quả dạy học không cao, kĩ năng giải thích, phân tích  
và sử dụng ngôn từ của học sinh không đƣợc cải thiện nhiều, hiện tƣợng hiểu sai, dùng  
sai từ Hán Việt xảy ra thƣờng xuyên.  
Về công tác đào tạo giáo viên, bên cạnh những học phần liên quan, cần xây  
dựng hệ thống các học phần có tính chất nền và các học phần mang tính “chuyên đề”  
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến từ Hán Việt.  
Nhƣ vậy, để thực sự đạt đƣợc hiệu quả trong việc giảng dạy từ Hán Việt, góp  
phần đạt đƣợc mục tiêu của việc giảng dạy phân môn Tiếng Việt, cần sự đầu tƣ chỉnh  
lý, bổ sung những vấn đề còn thiếu sót nhƣ đã trình bày ở trên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lê Xuân Soạn (2005). Thiết kế bài dạy Ngữ văn 7, tập 1. Tp.HCM: ĐHQG Tp.  
HCM.  
2. Nguyễn khắc Phi (Tổng Chủ biên) (2007). Ngữ văn (từ lớp 6 - 9). Nxb GD.  
3. Nguyễn khắc Phi (Tổng Chủ biên) (2007). Ngữ văn 7, Sách giáo viên, Nxb GD.  
4. Nguyễn Văn Đƣờng (2003). Thiết kế bài giảng Ngữ văn 7, tập 1, Hà Nội.  
356  
5. Phan Văn Các (2001). Từ điển từ Hán Việt. Tp. HCM.  
6. Thiều Chửu (2004). Hán Việt Tự điển. Nxb Thanh niên  
7. Viện Ngôn ngữ học (2003). Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng  
357  
pdf 12 trang baolam 20840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy - học yếu tố Hán Việt, từ Hán Việt trong chương trình Ngữ văn THCS - thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfday_hoc_yeu_to_han_viet_tu_han_viet_trong_chuong_trinh_ngu_v.pdf