Di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015
(70) 2021
ISSN 1859-2635
02
TỔNG BIÊN TẬP
TS. Hoàng Hồng Hiệp
PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. Đinh Như Hoài
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
PGS.TS. Bùi Đức Hùng (Chủ tịch)
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ
GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng
Bí thư BCH Trung ương Đảng
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
GS.TS. Nguyễn Chí Bền
Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
GS.TS. Trần Thọ Đạt
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
GS.TS. Phạm Văn Đức
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
TS. Hoàng Hồng Hiệp
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ
GS.TS. Nguyễn Xuân Kính
Viện Nghiên cứu Văn hóa
GS.TS. Eric lksoon lm
University of Hawaii – Hilo, Hoa Kỳ
GS.TS. Đỗ Hoài Nam
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
GS.TS. Vũ Băng Tâm
University of Hawaii - Hilo, Hoa Kỳ
GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
GS.TS. Trần Đăng Xuyền
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
BIÊN TẬP TRỊ SỰ
ThS. Châu Ngọc Hòe
ThS. Hoàng Thị Thu Hương
CN. Lê Thị Vân
CVRSS
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
ISSN 1859 – 2635
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
ISSN 1859 – 2635
Tạp chí ra 2 tháng 1 kỳ
Số 02 năm 2021
Năm thứ mười bốn
Mục lục
Quan điểm, mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá
chiến lược phát triển đất nước trong thời gian đến
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021)
3
8
Tội phạm xuyên quốc gia trên Biển Đông trong những năm gần đây
Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Xuân Cường
Xuất nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Nguyễn Thị Thoa
21
Năng lực lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp và kết quả hoạt động tại các công ty
lắp máy ở khu vực miền Trung
Bùi Thị Minh Thu, Nguyễn Hồ Phương Nhật, Phan Thị Yến Lai
30
Ảnh hưởng của rủi ro cảm nhận đến ý định hành vi giảm thiểu sử dụng đồ nhựa
của cộng đồng dân cư ven biển Nha Trang
Lê Chí Công, Hoàng Thị Thu Phương
43
53
Phát triển ngành khai thác thuỷ sản tỉnh Bình Định
Nguyễn Thị Kim Đoan
Hình ảnh con lợn trong tục ngữ tiếng Hàn, tiếng Việt (từ góc nhìn văn hóa
nông nghiệp)
Hoàng Thị Yến
62
74
Di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng
từ năm 1976 đến năm 2015
Nguyễn Thị Hà Giang
Giấy phép xuất bản số 104/GP – BTTTT cấp ngày 22 tháng 4 năm 2013
Chế bản điện tử tại Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ; In 250 cuốn khổ 19 x 27cm; Số 02 năm 2021.
In tại Công ty TNHH MTV In Tổng hợp Đà Nẵng
Số 2, Lý Thường Kiệt - P. Thạch Thang - Q. Hải Châu - TP. Đà Nẵng * ĐT: 0236.3821038; Nộp lưu chiểu tháng 04/2021
Central Vietnamese Review of Social Sciences
ISSN 1859 – 2635
Bimonthly Review
No. 02, 2021
The 14th Year
Contents
The Communist Party of Viet Nam’s stances, goals, orientations, key tasks,
and strategic breakthroughs for the coming years
The Communist Party of Viet Nam
3
8
Transnational crimes in the Bien Dong Sea in recent years
Nguyen Thanh Minh, Nguyen Xuan Cuong
Viet Nam’s international trade in the current context
Nguyen Thi Thoa
21
30
On management capacity, corporate culture, and performance outcomes
at machinery installation companies in the Central Viet Nam
Bui Thi Minh Thu, Nguyen Ho Phuong Nhat, Phan Thi Yen Lai
The impact of perceived risk to the local people’s behavioral intention
of reducing plastic consumption in Nha Trang
Le Chi Cong, Hoang Thi Thu Phuong
43
53
Promoting fisheries sector in Binh Dinh province
Nguyen Thi Kim Doan
The image of pigs in Korean and Vietnamese proverbs
(from an agricultural perspective)
Hoang Thi Yen
62
74
Free migration of ethnic minorities in the Northern mountains to Lam Dong
province from 1976 to 2015
Nguyen Thi Ha Giang
74
Nguyễn Thị Hà Giang
Di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc
đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015
Nguyễn Thị Hà Giang
Trường Đại học Đà Lạt
Email liên hệ: [email protected]
Tóm tắt: Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Lâm Đồng gắn với quá trình di cư của các
cộng đồng, tộc người khác nhau - trong đó có các tộc người thiểu số phía Bắc. Bài viết này đề
cập đến tình hình di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ
năm 1976 đến năm 2015. Thông qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi lý giải nguyên nhân thúc
đẩy luồng di dân tự do này gia nhập cộng đồng dân cư ở Lâm Đồng trong mỗi giai đoạn.
Từ khóa: dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc, di dân tự do, tỉnh Lâm Đồng
Free migration of ethnic minorities in the Northern mountains to Lam Dong province
from 1976 to 2015
Abstract: The history of Lam Dong’s formation and development is closely associated
with the migration of different communities and ethnic groups, including the groups in
the Northern mountains. This paper describes the free migration of ethnic minorities in the
Northern mountains to Lam Dong province from 1976 to 2015. Based on the research’s results,
the authors shed light on motivations for their migration to Lam Dong in each period.
Key words: ethnic minorities, Northern mountains, free migration, Lam Dong province
Ngày nhận bài: 27/02/2020
Ngày duyệt đăng: 01/04/2021
1. Đặt vấn đề
Nằm ở phía Nam Tây Nguyên, với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên Lâm Đồng là một địa
bàn thu hút nhiều cư dân từ mọi miền đất nước đến định cư và lập nghiệp. Vì vậy, lịch sử hình
thành các vùng dân cư và phát triển kinh tế ở Lâm Đồng là một quá trình di cư và tăng dân số
cơ học. Đặc biệt, từ sau năm 1975, với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã chủ trương khuyến khích người dân ở các tỉnh đồng bằng đông dân di cư vào Tây
Nguyên (Đặng Nguyên Anh, 2006; Nguyễn Duy Thụy, 2016).
Cộng đồng người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc như: Nùng, Tày, Thái, Mường,... đã
xuất hiện ở Lâm Đồng từ năm 1954 do chính sách di dân tập thể của chính quyền Việt Nam
cộng hòa (Nguyễn Duy Thụy, 2016). Từ năm 1979, do nhu cầu của cuộc sống, làn sóng di dân
tự do đến đây tăng mạnh; đặc biệt có sự xuất hiện của luồng di dân, như: Nùng, Tày, Thái, Dao,
Hmông... (Trần Sĩ Thứ, 1992, tr. 62-63). Tuy có cùng nguồn gốc từ các địa phương ở vùng trung
du, miền núi phía Bắc nhưng do chịu tác động của hoàn cảnh lịch sử, cộng đồng di dân sau
năm 1975 có động lực di cư đa dạng hơn so với trước năm 1975.
Chính vì các làn sóng di dân ồ ạt đã làm cho dân số ở Lâm Đồng tăng nhanh, kinh tế - xã
hội có những thay đổi, cơ cấu và thành phần dân tộc biến đổi nhanh. Việc di dân ồ ạt này đã
có những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và con
người ở Lâm Đồng. Hiện nay, quá trình di cư đến Lâm Đồng vẫn tiếp tục diễn ra. Vì vậy, nghiên
75
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
cứu quá trình di dân nhằm đưa ra những kiến nghị kịp thời và phù hợp để phát triển kinh tế -
xã hội bền vững ở Lâm Đồng nói riêng và Tây Nguyên nói chung là việc làm cần thiết.
Nghiên cứu này đã lựa chọn ngẫu nhiên để khảo sát và phỏng vấn sâu hộ gia đình ở
những vùng tập trung di dân bao gồm: 100 hộ người Hmông ở xã Rô Men, huyện Đam Rông;
85 hộ người Nùng, Tày, Thái ở xã Tân Văn, huyện Lâm Hà; 27 hộ người Dao ở xã Phi Liêng,
huyện Đam Rông. Bài viết này tập trung làm ro thực trạng di dân, các nguồn di dân; nguyên
nhân, mục đích của việc di dân; vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương thực hiện các
chính sách nhằm ổn định tình hình dân cư và phát triển kinh tế, xã hội ở Lâm Đồng.
2. Di dân tự do của các tộc người thiểu số vào Lâm Đồng (1976 - 2015) và các chính
sách ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội
2.1. Vài nét khái quát về địa bàn và vấn đề nghiên cứu
Cho đến trước ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Lâm Đồng
vẫn còn là vùng rừng núi rộng, mật độ dân cư thưa; nền kinh tế và phân bố lao động mất cân
đối nghiêm trọng (BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010, tr.14). Đến năm 1975, dân số của toàn
tỉnh là 341.000 người, chiếm 0,61% dân số cả nước; mật độ dân cư là 34 người/km2 (Uỷ ban
Khoa học xã hội Việt Nam, 1989, tr.27). Ơ Lâm Đồng tồn tại 2 nhóm địa bàn cư trú có trình độ
phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, gồm: đô thị, huyện lỵ và miền núi, nông thôn. Vùng đô
thị là những vùng có kinh tế - xã hội phát triển như: thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và các
huyện Di Linh, Đức Trọng, Đơn Dương,… cùng với vùng phụ cận đô thị và ven các đường giao
thông chính. Ơ những vùng này, cư dân chủ yếu là người Kinh di cư từ các địa phương thuộc
đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung đến trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau; ngành nghề
chủ yếu là thương nghiệp nên đóng vai trò động lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở
Lâm Đồng. Với vùng miền núi và nông thôn chiếm phần lớn diện tích tỉnh Lâm Đồng, đây là
địa bàn cư trú của các tộc người tại chỗ. Nền kinh tế của các khu vực miền núi và nông thôn là
tự cấp tự túc; canh tác theo phương thức hỏa canh, luân canh và phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện tự nhiên. Mặc dù đất đai rộng lớn nhưng mật độ dân cư thưa thớt và phân tán nên chưa
khai thác hết tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp.
Giai đoạn năm 1975 - 1985, Lâm Đồng thực hiện nhiệm vụ khôi phục sản xuất và ổn
định đời sống nhân dân đồng thời tiến hành công cuộc cải tạo mối quan hệ sản xuất. Nền kinh
tế được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp; tăng diện tích đất trồng cây
lương thực bằng các biện pháp khai hoang, phục hóa. Nông nghiệp được coi là ngành kinh
tế mũi nhọn, phát triển theo hướng chú trọng sản xuất lương thực – thực phẩm và đẩy mạnh
việc trồng, phục hồi các cây công nghiệp dài ngày, thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa ở
vùng nông thôn. Vì vậy, lực lượng lao động di dân vào Lâm Đồng giai đoạn này đã góp phần
bổ sung nguồn nhân lực cho chủ trương phát triển kinh tế của địa phương.
Từ sau năm 1986, những đổi mới trong chính sách kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã tạo ra
sự thay đổi căn bản, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tự do phát triển kinh tế, di chuyển
qua lại giữa các vùng trên cả nước. Ngay từ cuối năm 1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã
có chỉ thị về vấn đề di cư và phân bổ nguồn lao động giữa các địa phương. Tiếp theo những
năm 1992, 1994, Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhiều lần có ý kiến chỉ đạo các địa phương, các
Bộ ngành liên quan xử lý, điều chỉnh hoạt động di dân phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của các nước, của từng vùng lãnh thổ, của từng địa phương; ổn định đời
sống dân cư và khắc phục những hạn chế còn tồn đọng (Thủ tướng Chính phủ, 1995). Ơ Lâm
Đồng, giai đoạn 1986 – 1996 cũng đã thu hút được nguồn lao động di cư dồi dào và có những
đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của
76
Nguyễn Thị Hà Giang
cây cà phê ở những năm 1990 đã tạo nên sức hút lượng lao động từ khắp các vùng trên cả
nước di cư đến (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1995).
Giai đoạn 1996 - 2000, cùng với chủ trương xây dựng và phát triển đất nước theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ở Lâm Đồng, kinh tế nông nghiệp và nông thôn phát triển theo
hướng mở rộng vùng chuyên canh, khai thác thế mạnh của từng vùng sinh thái, bước đầu đã
có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2001, tr. 180-181). Theo kế hoạch đó,
Lâm Đồng đã nghiên cứu đánh giá về thực trạng di dân (gồm cả di dân theo kế hoạch và tự
do), kế hoạch phân bổ nguồn lao động, sắp xếp và ổn định di dân tự do, xây dựng các vùng
kinh tế mới và giải quyết các tồn tại, hạn chế của hoạt động di dân để hướng đến mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1995; 1996a; 1996b; 1997a-f;
1998; 1999). Từ năm 2000, một trong những hướng phát triển kinh tế chính của địa phương
là chú trọng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào nông nghiệp từ quá trình
sản xuất đến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2004; 2005;
BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010). Giai đoạn 2010 – 2015, nền kinh tế Lâm Đồng đã ổn định
và tăng trưởng; những kết quả tích cực của sự phát triển kinh tế chính là động lực cho sự phát
triển xã hội (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2015). Đây cũng chính là một nhân tố thúc đẩy xã hội phát
triển và trở thành sức hút đối với các luồng dân di dân tự do.
2.2. Thực trạng hoạt động di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đến
Lâm Đồng (giai đoạn 1976 – 2015)
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), di dân tự do của các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng là một hiện tượng xã hội
cần phải nghiên cứu. Dựa trên đặc điểm, quy mô di dân qua từng giai đoạn gắn với tình hình
chính trị, kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước và địa phương, bài viết khái lược quá trình di dân
thành 3 giai đoạn: 1976 – 1985, 1986 – 1995, 1996 – 2015.
Những người dân tộc thiểu số di dân tự do đến Lâm Đồng gồm: NgườiTày, Nùng, Mường,
Thái, Dao, Hmông,… Địa bàn xuất cư là ở các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu,
Yên Bái, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Lào Cai, Hòa Bình, Hà Giang,... Họ di cư vào Lâm Đồng thường đi
theo gia đình, dòng họ; là những người thuộc gia đình đông con, thiếu đất sản xuất nên phải
di cư để tìm cơ hội cải thiện cuộc sống; trước khi xuất cư, cuộc sống của họ thường thiếu đói
triền miên (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1995).
2.2.1. Giai đoạn 1976 – 1985
Sau năm 1976, Lâm Đồng là một trong những địa bàn chiến lược trong kế hoạch điều
chỉnh lao động, dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Vì vậy,
hàng năm tỉnh Lâm Đồng đã tiếp nhận một số lượng lớn người di cư (cả theo kế hoạch và tự
do) tới xây dựng vùng kinh tế mới trên địa bàn toàn tỉnh (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997f). Giai
đoạn 1976 - 1978, dân di cư đến Lâm Đồng theo kế hoạch của Nhà nước phân bố ở 16 điểm là
vùng kinh tế mới thuộc các huyện Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Teh, Cát Tiên. Trong
các vùng kinh tế trên đã được xây dựng 2 nông trường quốc doanh là Đạ Teh và Hà Lâm (Đạ
Huoai), 13 hợp tác xã, 14 tập đoàn sản xuất (Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam và Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lâm Đồng, 1989, tr. 211).
Từ năm 1979 - 1985, với mục tiêu tiếp nhận và phân bố lại lao động theo mục tiêu kinh
tế có trọng điểm, dân nhập cư vào Lâm Đồng phân bố chủ yếu ở các vùng chuyên canh. Theo
số liệu thống kê, giai đoạn từ năm 1976 – 1985, có 1.100 hộ với 5.700 nhân khẩu di cư tự do
sống xen ghep vào các thôn, xã trong địa bàn tỉnh (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997a). Trong số
người di cư tự do đó có các nhóm dân tộc thiểu số như: Nùng, Tày, Thái,... số lượng khá khiêm
tốn so với những người di dân theo kế hoạch của nhà nước; họ phân bố chủ yếu ở địa bàn
77
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
huyện Đức Trọng, một số nơi ở Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc (Mạc Đường, 1983, tr. 35–36), và
các xã ven quốc lộ 20 và 21. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi cho nhóm cư dân nhập cư
giai đoạn này. Vì rằng, những địa bàn trên là các vùng kinh tế - xã hội đang phát triển; là địa
bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số di cư trong giai đoạn 1954 - 1975. Các nhóm tộc người
này đã có trình độ phát triển khá cao về sản xuất nông nghiệp; đặc biệt là làm rẫy, làm ruộng
và một số nghề thủ công truyền thống khác. Bên cạnh đó, do có sự tiếp xúc thường xuyên với
người Kinh trong suốt một thời gian dài nên họ quen với việc sản xuất, buôn bán hàng hóa -
tiêu biểu như người Nùng.
Trong thời kỳ này, ở Lâm Đồng chú trọng tổ chức sản xuất theo hình thức quốc doanh
và tập thể (mô hình hợp tác xã, tập đoàn sản xuất) mà chưa chú trọng nhiều đến kinh tế hộ gia
đình, kinh tế tư nhân. Những người dân tộc thiểu số di cư đến đây chủ yếu sống xen kẽ ở các
vùng chuyên canh được tổ chức thành hợp tác xã hoặc nông trường quốc doanh. Cuộc sống
của những người di cư tự do lúc này khá khó khăn do thiếu việc làm, thiếu đất sản xuất và phải
tự túc lương thực. Vì vậy, hoạt động sinh nhai là làm thuê, buôn bán, khai thác lâm sản hoặc
di chuyển trong địa bàn nhỏ để tìm đất trồng lúa; tương trợ lẫn nhau thông qua mối quan hệ
thân thích hoặc láng giềng ở quê cũ.
2.2.2. Giai đoạn 1986 – 1995
Giai đoạn này, ở Lâm Đồng đã kết thúc chính sách xây dựng vùng kinh tế mới và chấm
dứt quá trình di dân có tổ chức. Tuy vậy, làn sóng di dân tự phát vẫn tiếp diễn, đặc biệt mạnh
mẽ trong giai đoạn 1990 – 1995 (bảng 1). Thống kê cho thấy, từ tháng 1/1990 đến tháng
30/6/1995, có 9.744 hộ với 49.242 người là dân di cư người dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm
Đồng (chiếm 30,9% trên tổng số hộ di cư tự do). Trong đó, chiếm số lượng đông nhất là người
Tày (32.215 người), sau đó đến người Nùng (7.834 người), người Dao (3.965 người), người
Mường (565 người) và các dân tộc khác (4.663 người) (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997e).
Bảng 1. Di cư tự do đến tỉnh Lâm Đồng theo các dân tộc
Dân số
Hộ Khẩu
Quê quán
TT
1 Tày
Dân tộc
6.361 32.215 Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên,…
1.516 7.834 Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên,…
Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn,
2 Nùng
3 Dao
766
94
3.965
Thái Nguyên
565 Sơn La, Yên Bái,…
4 Mường
Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn,
5 Dân tộc thiểu số khác 1.007 4.663
Thái Nguyên,…
(Nguồn: UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997e)
Hoạt động di dân tự do đến Lâm Đồng giai đoạn 1990 – 1995 diễn ra với quy mô lớn, số
lượng nhiều có thể được lý giải là: Một mặt, người nhập cư đến từ những vùng có điều kiện tự
nhiên không thuận lợi cho sản xuất, diện tích đất đai nhỏ hẹp,... buộc họ phải tìm kiếm vùng
đất mới để tìm cơ hội có cuộc sống tốt hơn; Mặt khác, đây là giai đoạn kinh tế - xã hội tỉnh Lâm
Đồng có bước phát triển vượt bậc; quỹ đất phong phú, điều kiện đất đai màu mỡ, khí hậu ôn
hòa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao; thành phần kinh tế hộ gia đình
và cá thể được khuyến khích phát triển theo chính sách định canh định cư đã thu hút mạnh
mẽ luồng di dân tự do.
78
Nguyễn Thị Hà Giang
Khi đến Lâm Đồng, các nhóm dân tộc thiểu số này cư trú ở các địa bàn chủ yếu như: Cát
Tiên, ĐạTeh, Đạ Huoai, Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương (Bảng 2). Trong
đó, người Tày và người Nùng là hai tộc người có số lượng dân di cư tự do đông nhất; họ sống
tập trung ở địa bàn, như: xã Phước Cát I (Cát Tiên), thị trấn Đạ Teh, xã An Nhơn (Đạ Teh), xã Tân
Thượng (Di Linh), xã Tân Văn (Lâm Hà). Đây là những vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp
lúa nước, điều kiện trên phù hợp với tập quán canh tác của người Tày và người Nùng.
Bảng 2. Dân số và địa bàn phân bố của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc
di cư tự do vào tỉnh Lâm Đồng (1990 - 1995)
Tổng cộng
Hộ Khẩu
Dân tộc
Mường
Các huyện
Tày
Nùng
Dao
Dân tộc khác
Hộ Khẩu
Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu
Tổng số
Cát Tiên
Đạ Teh
Đạ Huoai
Bảo Lâm
Bảo Lộc
Di Linh
9744 49242 6361 32215 1516 7834 94 565 766 3.965 1.007 4.663
2396 11759 2396 11759
2334 11008 935 4287 824 4353
214 1.197
1024 5064 857 4263 167 801
791 5299 476 3512 38 197
649 3336 518 2695 131 641
215 1131
360 1237
120 632
94 565
277 1590
250 1204
Đức Trọng 1214 6045 613 3026 351 1815
Lâm Hà 916 4429 365 1595
Lạc Dương 206 1105 201 1078
(Nguồn: UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997e)
551 2834
5
27
Hoạt động kinh tế của dân di cư tự do đến Lâm Đồng là theo mô hình hộ gia đình. Việc
lựa chọn địa bàn nhập cư của họ là dựa theo kinh nghiệm và tập quán quản lý sản xuất nông,
lâm nghiệp truyền thống - là những địa bàn bằng phẳng có quỹ đất sản xuất lúa nước như
huyện Đạ Teh, Cát Tiên, Đức Trọng; hoặc địa bàn có rừng để lấy gỗ, lấy đất làm nương rẫy và
có nhiều thú rừng để săn bắt; hay những địa bàn vùng sâu để tránh phát hiện, kiểm soát của
chính quyền.
Tuy nhiên, do địa bàn rộng lớn khó kiểm soát, dân di cư tự do số lượng lớn, mức độ tăng
đột biến đã ảnh hưởng tiêu cực đến quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Lâm Đồng. Bên cạnh đó, sự di cư tự do đã dẫn đến tình trạng tranh chấp mua bán đất đai trái
phep, làm tăng nạn phá rừng, xâm chiếm tài nguyên rừng, gây khó khăn đến công tác quản lý,
trật tự xã hội trên địa bàn như Chỉ thị 660/TTg đã đề cập (Thủ tướng Chính phủ, 1995).
2.2.3. Giai đoạn 1996 – 2015
Đến giai đoạn này, các luồng dân di cư tự do đến Lâm Đồng vẫn tiếp tục diễn ra. Bảng 3
cho thấy, trong năm 1996, số lượng người di cư tự do đến Lâm Đồng tăng đột biến; sang năm
1997, số lượng người di cư giảm đột ngột và giảm số lượng ở những năm tiếp theo (UBND tỉnh
Lâm Đồng, 2005). Nguyên nhân chính là do chính sách quản lý chặt chẽ luồng di dân tự do
đến khu vực Tây Nguyên trong giai đoạn này theo tinh thần Chỉ thị 660/TTg (Thủ tướng Chính
phủ, 1995). Và Lâm Đồng đã thực hiện chặt chẽ các chính sách phân bổ lao động, sắp xếp ổn
định dân di cư tự do (UBND tỉnh Lâm Đồng, 1997c).
Nhìn chung, mặc dù có giảm nhưng số lượng dân di cư tự do vào Lâm Đồng giai đoạn
1996 – 2004 vẫn chiếm số lượng đáng kể (Bảng 3). Hoạt động di dân vẫn diễn ra vì đây là thời
kỳ kinh tế Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng, chuẩn bị cho chặng đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Số lượng người di cư tự do đến Tây Nguyên nói chung và Lâm
79
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
Đồng nói riêng tăng là do vùng này có sự phát triển vượt bậc về kinh tế nông nghiệp, đặc biệt
là xuất khẩu cà phê. Hiệu quả kinh tế cao của cây công nghiệp dài ngày đã thúc đẩy mạnh mẽ
phong trào lập vườn trồng cây cà phê, che,… đã thu hút lượng dân di cư tự do (UBND tỉnh
Lâm Đồng, 2005).
Bảng 3. Số lượng dân di cư tự do đến Lâm Đồng giai đoạn 1996 - 2004
Năm
Hộ
Khẩu
1996
9.459
1997
2.951
1998
1.100
1999
2.796
2000
2.298
2001
1.330
5.207
2002
1.622
7.509
2003
1.202
4.808
2004
931
3.971
40.057 12.170 5.500 13.980 8.594
(Nguồn: UBND tỉnh Lâm Đồng, 2005)
Đến giai đoạn 2005 - 2015, các tộc người thiểu số phía Bắc di cư tự do đến Lâm Đồng
vẫn là người Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Hmông (Bảng 4). Nơi xuất cư của các tộc người này
là từ các tỉnh Hòa Bình, Lai Châu, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn. Tuy nhiên, đến giai đoạn
này địa bàn nhập cư là khác so với các giai đoạn trước; chủ yếu là ở những địa bàn vùng sâu,
vùng xa thuộc các huyện như Đạ Teh, Đam Rông, Lâm Hà. Đáng chú ý, trong dòng di dân tự
do giai đoạn này là sự gia tăng của luồng dân nhập cư người Hmông đến huyện Đam Rông(1)
(Bảng 4).
Bảng 4. Số lượng và thành phần dân tộc di cư tự do đến tỉnh Lâm Đồng
từ năm 2005 đến 2015 (Đơn vị tính: người)
Thời gian
đến
Phân theo thành phần dân tộc
TT
Tày
202
29
374
361
139
38
59
8
25
0
Dao
0
Nùng
88
16
92
44
16
132
64
0
Thái
0
0
10
0
0
24
0
Mường
Hmông
341
307
240
91
1
2
3
4
5
6
7
8
9
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
0
0
0
0
165
47
0
40
0
22
48
0
0
18
0
0
53
0
144
10
24
6
0
35
0
0
0
24
0
0
0
10
11
38
48
0
0
0
Tổng cộng
1.235
128
476
7/ 34
277
1.272
(Nguồn: Công an tỉnh Lâm Đồng, 2016)
Nghiên cứu điền dã ghi nhận, người Hmông đã di cư đến địa bàn Đam Đông từ năm
2001 – 2002, sinh sống trong rừng sâu hoặc những khu vực giáp ranh, có địa hình hiểm trở,
đi lại rất khó khăn như Tây Sơn, tiểu khu 179, 181, 176, 178 thuộc – xã Liêng Srônh và xã Phi
Liêng và tập trung ở những khu vực được quy hoạch để ổn định dân di cư tự do như thôn 4,
5 thuộc xã Rô Men, tiểu khu 212 thuộc xã Phi Liêng (Nguyễn Thị Hà Giang, 2018). Ban đầu, có
khoảng 100 hộ Hmông sinh sống tập trung tại khu vực suối Tây Sơn, điểm cuối cùng của xã
Phi Liêng và xã Liêng Srônh – vùng giáp ranh với Đắk Lắk và Đắk Nông. Ngày 2/3/2003, sau khi
được chính quyền địa phương (lúc bấy giờ là huyện Lâm Hà) vận động, đã có khoảng 50 hộ
rời khu vực xã Phi Liêng về định cư tại thôn Bốn và thôn Năm của xã Rô Men. Thời gian từ năm
80
Nguyễn Thị Hà Giang
2000 - 2006 là giai đoạn người Hmông di dân đến Đam Rông nhiều nhất và giảm dần trong
giai đoạn 2007 – 2016 (UBND huyện Đam Rông, 2017). Theo số liệu thống kê của Công an tỉnh
Lâm Đồng, tính đến ngày 16/9/2019, dân tộc Hmông ở Lâm Đồng có 885 hộ với 5.213 người,
phân bố ở các địa bàn khác nhau trong tỉnh, bao gồm: Đam Rông (4.367 người), Bảo Lâm (613
người), Cát Tiên (218 người), Lâm Hà (11 người), Bảo Lộc (3 người) và Lạc Dương (01 người)
(Công an tỉnh Lâm Đồng, 2019). Hiện tượng di cư ồ ạt đến địa bàn Đam Rông xuất hiện ở giai
đoạn này vì đây là huyện mới thành lập, có mật độ dân số thưa, đất đai rộng, khí hậu tương
đối thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
3. Những nguyên nhân tác động đến quá trình di cư tự do của các dân tộc thiểu số
ở miền núi phía Bắc đến tỉnh Lâm Đồng
Thông qua kết quả khảo sát các nguồn tư liệu có sẵn và kết quả thực hiện điền dã cho
thấy, nguyên nhân di cư của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm
1975 – 2015 có thể chia thành hai nhóm: (1) nhóm nguyên nhân liên quan đến điều kiện sống
(bao gồm thu nhập, việc làm, môi trường, điều kiện tự nhiên); và (2) nhóm nguyên nhân liên
quan đến tập quán cư trú, hôn nhân, chính sách, tôn giáo,…
Theo nhận định của tác giả, điều kiện sống là nhóm nguyên nhân chính tác động đến
vấn đề di cư của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên nói chung. Ơ các
tỉnh miền núi phía Bắc, là nơi tập trung sinh sống của các tộc người thiểu số, tuy đất rừng còn
nhiều nhưng ruộng, đất trồng lúa, trồng lương thực thực phẩm ít và đang dần bị thu hẹp, chất
lượng đất càng ngày càng xấu đi. Ngoài ra, các tỉnh ở miền núi phía Bắc như Tuyên Quang,
Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Hòa Bình có địa hình hiểm trở. Đây là
vùng địa hình chủ yếu là các dãy núi trung bình và núi cao, là nơi có địa hình cao nhất, bị chia
cắt nhất và hiểm trở nhất Việt Nam. Với địa hình chủ yếu là đồi núi, đất dốc, ruộng và đất đai
ở các tỉnh miền núi phía Bắc ít màu mỡ do không được phù sa của các sông lớn bồi đắp, diện
tích đất trống đồi trọc chiếm tỷ lệ lớn. Đặc biệt trong mùa khô, nạn thiếu nước sinh hoạt và
nước sản xuất trở nên trầm trọng, có vùng người dân phải đi xa hàng chục km để lấy nước ăn
như khu vực Đồng Văn tỉnh Hà Giang, Bắc Hà tỉnh Lào Cai, Lục Khu tỉnh Cao Bằng. Nguyễn Duy
Thụy (2016, tr.131) cũng nhận định, điều kiện tự nhiên khó khăn ở miền núi phía Bắc như: địa
hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, thiếu nước sinh hoạt và nước sản xuất,... là những nhân tố thúc
đẩy người di cư đi tìm vùng đất mới.
Trong khi đó, địa hình Lâm Đồng không cao và dốc như một số tỉnh vùng núi phía Bắc
mà thoai thoải. Cùng với đó, đất đai của Lâm Đồng chủ yếu là nhóm đất vàng đỏ thích hợp
với nhiều loại cây công nghiệp như cà phê, che. Đây là loại cây trồng thương phẩm chủ lực
của nông nghiệp Lâm Đồng có giá trị cao, mang lại thu nhập đáng kể cho người canh tác. Hơn
nữa, vào những năm đầu thập niên 90, do giá cả của các loại sản phẩm cây công nghiệp dài
ngày tăng cao, đặc biệt là cây cà phê nên thu hút lực lượng lớn dân di cư tự do đến đây, trong
đó, chủ yếu là người dân tộc thiểu số từ miền núi phía Bắc.
Nhìn chung, tình trạng thiếu đất sản xuất lương thực tại chỗ của người dân tộc thiểu
số cũng diễn ra khá gay gắt, dẫn đến không sản xuất đủ lương thực phục vụ cho cuộc sống
thường nhật (Nguyễn Thị Hà Giang, 2018). Chính vì thiếu đất sản xuất lương thực ở nhiều địa
phương đã dẫn đến tình trạng di cư đến các vùng đất mới có điều kiện tốt hơn. Với những
cư dân nông nghiệp như người Hmông, Dao, Tày, Nùng,… thì đất canh tác là tư liệu sản xuất
mang tính quyết định cho đời sống; đất đai trở thành nhu cầu bức thiết để sản xuất lương
thực, thiếu đất canh tác (do điều kiện tự nhiên và địa hình không thuận lợi là một khó khăn
mang tính lâu dài) khiến người dân buộc phải ra đi tìm nơi có nhiều đất hơn. Hơn nữa, cơn sốt
81
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
của cây công nghiệp cũng là nhân tố thu hút di dân đến Lâm Đồng. Do đó, khi tới Lâm Đồng,
ngoài hoạt động kinh tế trồng cây lương thực, người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc còn
trồng cây công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao.
Để minh chứng cho nhận định trên, nghiên cứu điền dã của tác giả trên địa bàn huyện
Đam Rông cho thấy, có tới 32% hộ người Hmông ở xã Rô Men trước khi di cư tới đây là không
có ruộng hoặc ít ruộng, đất canh tác (Biểu đồ 1); 74% hộ người Dao (tập trung chủ yếu ở xã Phi
Liêng) cũng cho rằng nguyên nhân di cư chủ yếu là do thiếu đất sản xuất (Biểu đồ 2) (Nguyễn
Thị Hà Giang, 2020).
Biểu đồ 1: Nguyên nhân di cư
của người Hmông
Biểu đồ 2: Nguyên nhân di cư
của người Dao
Thiếu đất sản xuất
3%
7%
Cơ sở hạ tầng và môi
trường
26%
32%
Đời sống kinh tế khó
khăn
13%
20%
Thiếu đất sản xuất
Do thiên tai
Đi theo gia đình
74%
Ảnh hưởng của chính
sách
25%
Theo Đạo
(Nguồn: Nguyễn Thị Hà Giang, 2020)
Ngoài thiếu đất sản xuất, việc không đáp ứng đủ lương thực, thiếu việc làm, thiếu vốn
làm ăn,… đã khiến đời sống kinh tế nhiều hộ người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc gặp
khó khăn. Khi được hỏi, có 20% người Hmông di cư đến Đam Rông (Biểu đồ 1) và 12% người
Nùng, Tày, Thái (Biểu đồ 3) ở xã Tân Văn, huyện Lâm Hà trả lời di cư là để tìm cơ hội thuận lợi
hơn về việc làm và thu nhập nhằm cải thiện kinh tế của gia đình (Nguyễn Thị Hà Giang, 2020)
Biểu đồ 3: Nguyên nhân di cư của người Nùng, Tày, Thái
Tìm việc làm hoặc
thu nhập cao hơn
6%
Cơ sở hạ tầng và
môi trường
12%
13%
Gần người
thân, đoàn tụ gia
đình
Kết hôn
16%
34%
Ảnh hưởng của
chính sách
19%
(Nguồn: Nguyễn Thị Hà Giang, 2020)
Cơ sở hạ tầng đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống cũng là nguyên nhân trong nhóm di cư
vì điều kiện sống. Trong nghiên cứu về di cư tự do đến Tây Nguyên, Nguyễn Duy Thụy (2016,
tr.131) cũng cho rằng điều kiện dịch vụ xã hội kem và không đồng bộ ở các tỉnh miền núi phía
82
Nguyễn Thị Hà Giang
Bắc cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc di cư tự do của người dân tộc thiểu
số. Chất lượng những dịch vụ xã hội thiết yếu cho cuộc sống như: cơ sở khám chữa bệnh,
trường học, điện nước sinh hoạt, đường giao thông, trao đổi hàng hóa,… chưa đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của người dân.
Ơ Lâm Đồng, các dịch vụ xã hội có phần thuận lợi hơn so với nơi xuất cư ở phía Bắc. Có
tới 25% người Hmông ở xã Rô Men, huyện Đam Rông (trong tổng số 100 hộ được hỏi) và 34%
người Nùng, Tày, Thái ở xã Tân Văn, huyện Lâm Hà di cư tới đây là do điều kiện cơ sở hạ tầng
(Nguyễn Thị Hà Giang, 2020). Các dịch vụ xã hội ở Lâm Đồng cũng có phần thuận lợi hơn so
với nơi xuất cư ở phía Bắc. Chẳng hạn, có 6% người Nùng, Tày, Thái đến xã Tân Văn, huyện Lâm
Hà cho rằng, chuyển cư đến đây là để thuận lợi hơn trong việc học tập của con em. Ngoài ra,
người Hmông, Tày, Nùng, Thái,… di cư đến Lâm Đồng còn do môi trường tự nhiên. Ví như, có
26% người Dao di cư đến vì điều kiện tự nhiên ở quê cũ không thuận lợi cho sản xuất và sinh
hoạt (Biểu đồ 2) đã thúc đẩy họ ra đi tìm vùng đất mới (Nguyễn Thị Hà Giang, 2020). Nhóm
nguyên nhân thứ hai như: tập quán cư trú, hôn nhân, chính sách, tôn giáo,… cũng có tác động
đáng kể đến quyết định xuất cư của các tộc người thiểu số phía Bắc vào Tây Nguyên. Trong đó,
di cư theo người thân là một trong những nguyên nhân phổ biến của người Tày, Nùng, Thái,
Hmông. Như đã trình bày ở trên, từ năm 1954 đã có bộ phận người dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc di cư vào Lâm Đồng và hình thành một số vùng cư trú tập trung như ở Đức Trọng.
Những người này đã trở thành nhân tố thúc đẩy các đợt di dân tự do rải rác trong nhiều năm
sau đó. Sau khi chuẩn bị cơ sở vật chất, đất đai để sản xuất, ổn định cuộc sống, họ trở về đưa
toàn bộ gia đình vào và sau đó là keo theo anh em, họ hàng. Theo khảo sát, có tới 13% dân di
cư người Hmông vào xã Rô Men, huyện Đam Rông là để được sống gần gia đình, làng xóm,
tạo thành một cộng đồng thân thích; có 19% người Nùng, Tày, Thái di cư vào xã Tân Văn, Lâm
Hà là để được gần người thân và đoàn tụ gia đình; 16% người Nùng, Tày, Thái di cư đến xã Tân
Văn là do kết hôn (Nguyễn Thị Hà Giang, 2020). Đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến hiện tượng di cư cả làng ở các tộc người thiểu số phía Bắc vào Lâm Đồng, góp phần hình
thành mạng lưới xã hội vững chắc cho cộng đồng người di cư.
Một nguyên nhân khác tác động đến quyết định di cư của người dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc đến Lâm Đồng có liên quan đến tôn giáo. Tuy nhiên, nguyên nhân này chỉ xảy ra
với những người theo đạo Tin Lành, đặc biệt là nhóm Hmông di cư tự do đến Đam Rông. Khi
đến địa phương này, người Hmông tập trung sinh sống tại xã Rô Men và 100% (207 hộ) đều
theo đạo Tin Lành. Theo số liệu điều tra, tuy không nhiều nhưng cũng có khoảng 3% người
Hmông ở xã Rô Men, Đam Rông mong muốn di cư vào Tây Nguyên để dễ dàng hơn trong việc
thực hành tôn giáo (Nguyễn Thị Hà Giang, 2020).
4. Kết luận
Trong lịch sử phát triển, Lâm Đồng là nơi thu hút mạnh mẽ các luồng dân di cư từ các nơi
trong cả nước. Đặc biệt, từ sau năm 1975, với mục tiêu bố trí lại dân cư trong cả nước, ở Lâm
Đồng đã chứng kiến những đợt di cư với số lượng lớn bao gồm cả di cư có kế hoạch và di cư
tự phát. Sau khi chính sách xây dựng vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng kết thúc (1987), di dân tự
do trở thành dòng di dân chủ đạo trong giai đoạn sau. Trong dòng người di cư tự do đến Lâm
Đồng, chiếm số lượng đáng kể là di dân của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, bao gồm
các dân tộc chính là Tày, Nùng, Mường, Hmông, Dao,…
Nhìn chung, di dân tự do đã bổ sung đáng kể nguồn nhân lực, giải quyết nguồn lao
động thiếu hụt trong những lúc thời vụ như thu hoạch, sơ chế cà phê, rau màu, hoa,…; thúc
đẩy việc khai thác tài nguyên đất (đặc biệt tiềm năng đất đai ở những địa bàn vùng sâu, vùng
83
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 02 (70) - 2021
xa khó khai thác); làm đa dạng cơ cấu lao động;… Nói cách khác, di dân tự do đã đóng góp
đáng kể cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, việc di dân tự do cũng đã
phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực cần giải quyết. Để ổn định dân cư hướng đến phát triển kinh
tế - xã hội bền vững, tỉnh Lâm Đồng cần có những chính sách phù hợp nhằm tăng cường công
tác quản lý nhà nước về vấn đề di dân nhằm phát huy triệt để mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực của di dân tự do.
Chú thích:
(1) Đây là một huyện mới được thành lập theo Nghị định số 189/2004/NĐ-CP ngày
17/11/2004 của Chính phủ trên cơ sở tách 05 xã phía Bắc của huyện Lâm Hà và 03 xã của
huyện Lạc Dương. Huyện có ranh giới giáp với huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk và huyện Đắk Glong,
tỉnh Đắk Nông và có quốc lộ 27 chạy qua kết nối với các tỉnh Tây Nguyên.
Tài liệu tham khảo
BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (2010). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005). Nxb
Chính trị quốc gia. Hà Nội.
Công an tỉnh Lâm Đồng (2016). Báo cáo tình hình di cư tự do trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
từ năm 2005 đến nay.
Đặng Nguyên Anh (2006). Chính sách di dân trong quá trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ơ các tỉnh miền núi. Nxb Thế giới. Hà Nội.
Mạc Đường (chủ biên) (1983). Vấn đề dân tộc ơ Lâm Đồng. SởVăn hóaThông tin tỉnh Lâm Đồng.
Nguyễn Thị Hà Giang (2018). Tư liệu điền dã: Quá trình di dân tự do của các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015. Khoa Lịch sử - Trường Đại học
Đà Lạt.
Nguyễn Thị Hà Giang (2020). Tư liệu điền dã: Quá trình di dân tự do của các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015. Khoa Lịch sử - Trường Đại học
Đà Lạt.
Nguyễn Duy Thụy (2016). Di cư của người dân tộc thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975
đến năm 2015. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội.
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế
hoạch năm 1997 - Phương hướng nhiệm vụ năm 1998 của Chi cục Di dân phát triển vùng kinh tế
mới tỉnh Lâm Đồng. Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng.
Thủ tướng Chính phủ (1995). Về việc giải quyết tình trạng di cư tự do đến Tây Nguyên và
một số tỉnh khác. Truy xuất từ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Chi-thi-
660-TTg-giai-quyet-tinh-trang-di-cu-tu-do-den-Tay-Nguyen-tinh-khac-41361.aspx
Trần Sỹ Thứ (1992). Một số vấn đề về dân số Lâm Đồng. Cục Thống kê Lâm Đồng.
Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (1989). Nhưng kết quả nghiên cứu kinh tế - xã hội Lâm
Đồng. Lâm Đồng.
UBND huyện Bảo Lâm (2004). Báo cáo về tình hình Dân di dân tự do và lập Kế hoạch xin bổ
sung vốn đầu tư cơ sơ hạ tầng để sắp xếp ổn định dân di dân tự do huyện Bảo Lâm.
UBND huyện Đam Rông (2017). Báo cáo tình hình dân di dân tự do trên địa bàn huyện
Đam Rông.
UBND huyện Đức Trọng (1976). Phương án di dân nhằm phát triển sản xuất ổn định đời
sống nhân dân.
84
Nguyễn Thị Hà Giang
UBND huyện Lạc Dương (2004). Báo cáo về dân di dân tự do.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1995). Báo cáo tình hình dân chuyển cư tự do đến Lâm Đồng từ năm
1990 đến 30/6/1995.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1996). Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch di dân phát triển vùng
KTM năm 1996 và nhiệm vụ kế hoạch di dân ổn định kinh tế xã hội năm 1997.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1996). Báo cáo thực hiện công tác di dân phát triển vùng KTM năm
1996 – Phương hướng nhiệm vụ năm 1997.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo đánh giá tình hình phân bố lao động dân cư xây
dựng vùng KTM 1975 – 1996 và sắp xếp ổn định dân di dân tự do tỉnh Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo Kết quả thực hiện công tác di dân phát triển vùng
KTM tỉnh Lâm Đồng 9 tháng đầu năm 1997 – Phương hướng nhiệm vụ 3 tháng cuối năm.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo tình hình dân di dân tự do các tỉnh đến Lâm Đồng và
triển khai chỉ thị 660/Ttg ổn định di dân tự do.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo tình hình phân bổ lao động dân cư xây dựng vùng
KTM và sắp xếp ổn định di dân tự do tỉnh Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo tình hình dân chuyển cư tự do đến Lâm Đồng và
nhưng biện pháp khắc phục ổn định dân cư.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1997). Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác phân bổ lao
động dân cư kinh tế mới tỉnh Lâm Đồng 1976 – 1996 và định hướng phân bố lao động 1997 – 2000.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1998). Báo cáo sơ kết thực hiện chỉ thị 660/Ttg về giải quyết tình
trạng dân di cư tự do (1996 – 1998) của tỉnh Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (1999). Báo cáo kế hoạch di dân phát triển vùng KTM tỉnh Lâm Đồng
năm 1999.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2001). Địa chí Lâm Đồng. Nxb Văn hóa dân tộc. Hà Nội.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2002). Báo cáo Về việc giải quyết tái định canh định cư cho đồng
bào dân tộc Mông từ các tỉnh di dân tự do vào Lâm Hà, Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2004). Kế hoạch định canh – định năm 2004.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2004). Tờ trình về việc xin bổ sung vốn năm 2004 đầu tư tái định
canh định cư, ổn định đời sống dân di dân tự do đến tỉnh Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2005). Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình di dân xây dựng
vùng KTM 1991 – 2005 tỉnh Lâm Đồng.
UBND tỉnh Lâm Đồng (2015). Báo cáo kết quả đề tài NCKH “Tác động của di dân tự phát
đến kinh tế - xã hội các cộng đồng bản địa tỉnh Lâm Đồng”.
Bạn đang xem tài liệu "Di cư tự do của các tộc người thiểu số miền núi phía Bắc đến Lâm Đồng từ năm 1976 đến năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
di_cu_tu_do_cua_cac_toc_nguoi_thieu_so_mien_nui_phia_bac_den.pdf

