Nghiên cứu về bản sắc cá nhân của giáo viên qua chia sẻ trên facebook với phương pháp nghiên cứu tường thuật

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
43  
NGHIÊN CỨU VỀ BẢN SẮC CÁ NHÂN CỦAGIÁO VIÊN  
QUACHIASẺ TRÊN FACEBOOK  
VỚI PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU TƯỜNG THUẬT  
Mai Ngọc Khôi*, Trần Thị Long  
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 03 tháng 02 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 29 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Bản sắc là kết quả của tính cách cá nhân, quá trình dưỡng dục, trải nghiệm  
học tập và công tác và nhiều yếu tố văn hoá xã hội khác, như tương tác xã hội, chuẩn mực và  
quy định về đạo đức, nghề nghiệp v.v… Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về bản sắc  
cá nhân của một giảng viên bộ môn tiếng Anh, công tác tại một trường đại học ở Việt Nam. Bài  
báo phân tích những dòng trạng thái chia sẻ về trải nghiệm trong cuộc sống trên mạng xã hội  
Facebook của đối tượng nghiên cứu. Phỏng vấn sâu được tiến hành trong thời gian hơn một  
năm theo quy trình phỏng vấn của nghiên cứu tường thuật. Nghiên cứu cho thấy sự phức tạp,  
đan xen của bốn bản sắc cũng như tiềm năng của Facebook như một nền tảng trực tuyến để lan  
toả những chiêm nghiệm cá nhân, qua đó cho phép người đọc tham gia vào quá trình kép gồm  
xác định (identification) và đàm phán các ý nghĩa (negotiation of meaning) trong quá trình hình  
thành bản sắc cá nhân dưới góc nhìn của học thuyết xã hội. Mạng xã hội như vậy có khả năng  
hạn chế sự cô lập trong phát triển chuyên môn của giáo viên cũng như có thể thúc đẩy sự hình  
thành và phát triển của cộng đồng chuyên môn.  
Từ khoá: bản sắc, mạng xã hội, học thuyết xã hội  
1. Giới thiệu1*  
Bản sắc của giáo viên là một đề tài  
bằng và hoà hợp giữa các bản sắc phụ (ví dụ:  
Beijaard, Meije & Verloop, 2004) hay quá  
trình hình thành bản sắc cá nhân xoay quanh  
sự xung đột liên tục giữa các bản sắc (ví dụ:  
MacLure, 1993; Samuel & Stephens, 2000).  
Hướng nghiên cứu phổ biến tiếp theo liên  
quan tới mối quan hệ giữa chiều cá nhân và  
xã hội của quá trình hình thành bản sắc. Phần  
lớn các nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan  
trọng của chiều cá nhân, tập trung vào quá  
trình chiêm nghiệm trả lời các câu hỏi: Tôi  
là ai, tôi muốn trở thành người như thế nào,  
và các kiến thức thực tiễn mang tính cá nhân  
quen thuộc trong lĩnh vực giáo dục nói chung  
và giảng dạy tiếng Anh nói riêng. Qua khảo  
sát các nghiên cứu liên quan tới chủ đề này  
được xuất bản trong các tạp chí chuyên  
ngành, chúng tôi nhận thấy có ba hướng  
nghiên cứu chính. Đầu tiên là các nghiên cứu  
về bản chất của bản sắc, là đa diện và đa  
chiều với nhiều tương tác lẫn nhau giữa các  
bản sắc phụ. Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về  
bản chất của các mối tương tác này, là cân  
* Tác giả liên hệ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
44  
của giáo viên (ví dụ: Antonek, McCormick  
& Donato, 1997). Cũng có những nghiên  
cứu tập trung nhiều hơn vào tầm quan trọng  
của bối cảnh công tác, như một phần của bối  
cảnh chính trị-xã hội, trong việc hình thành  
bản sắc của giáo viên (ví dụ: Duff & Uchida,  
1997; He, 2002c). Hướng nghiên cứu thứ ba  
tập trung vào mối liên hệ giữa nỗ lực cá nhân  
và việc chủ động sử dụng các nguồn lực sẵn  
có (agency) và cấu trúc cộng đồng, xã hội  
trong hình thành bản sắc. Coldron và Smith  
(1999) cho rằng lựa chọn của cá nhân sẽ  
quyết định bản sắc cá nhân, trong khi các nhà  
nghiên cứu như Moore, Edwards, Halpin và  
George (2002) lại cho rằng sự chủ động của  
cá nhân có thể bị kìm hãm nhiều bởi các  
chính sách và bối cảnh. Bài báo này trình bày  
kết quả nghiên cứu về bản sắc cá nhân của  
một giảng viên bộ môn tiếng Anh, công tác  
tại một trường đại học ở Việt Nam. Bài báo  
phân tích những dòng trạng thái chia sẻ về  
trải nghiệm trong cuộc sống trên mạng xã  
hội Facebook của đối tượng nghiên cứu.  
thái có sẵn, “bản sắc” có được ngay từ khi  
sinh ra), định danh vị trí (cùng với các quy  
định, quyền lợi và nghĩa vụ phải tuân theo  
khi ở “vai” này), định danh hoàn cảnh (đặc  
điểm cá nhân được tạo nên thông qua sự  
tương tác với người khác) và định danh thị  
hiếu (được tạo nên qua việc chia sẻ các trải  
nghiệm trong các nhóm có chung quan tâm,  
sở thích). Bốn góc độ này không tách biệt mà  
liên quan mật thiết với nhau.  
Khái niệm bản sắc trong nghiên cứu  
này được nhìn nhận dưới góc độ văn hoá xã  
hội, là sản phẩm của những tác động lên giáo  
viên và cũng là một tiến trình tương tác  
không ngừng trong quá trình phát triển của  
người giáo viên đó (Olsen, 2008; Sfard &  
Prusak, 2005).  
Bản sắc có thể được coi như một cái  
nhãn tập hợp các ảnh hưởng và tác  
động từ các tình huống hiện tại, sự  
hình thành nên con người của hiện tại  
từ trước đến nay, vị trí xã hội và các  
hệ thống mang ý nghĩa (bản thân mỗi  
người là một tập tác động linh hoạt  
và tất cả cùng tạo thành một cấu trúc  
không ngừng thay đổi). Tất cả hòa  
quyện vào nhau bên trong dòng hoạt  
động của người giáo viên khi họ phản  
ứng và “đàm phán” với các tình huống  
nhất định và với các mối quan hệ giữa  
con người với nhau tại những thời  
điểm nhất định (Olsen, 2008, tr. 139).  
2. Cơ sở lý luận  
Trong một vài thập kỷ vừa qua, số  
lượng các nghiên cứu về sự phát triển bản  
sắc giáo viên đã tăng lên đáng kể. Giáo viên  
phát triển bản sắc nghề nghiệp được xây  
dựng từ các bản sắc khác bao gồm bản sắc  
của một người học suốt đời, nhà chuyên  
môn, một học giả, một nhà nghiên cứu và  
một trí thức (Lankveld và cộng sự, 2016).  
Môi trường thể chế làm việc tác động mạnh  
đến bản sắc của giáo viên vì nó có thể bù đắp  
hoặc củng cố cho những tác động tiêu cực từ  
bối cảnh văn hóa xã hội rộng lớn hơn. Gee  
(2000, tr. 99) cho rằng bản sắc gợi ra một  
kiểu người trong một hoàn cảnh nhất định;  
mặc dù mỗi người đều có bản sắc cốt lõi, họ  
cũng thể hiện nhiều bản sắc khác nhau hay  
nhiều “vai” khác nhau ở các tình huống khác  
nhau. Mỗi người có nhiều bản sắc, mỗi bản  
sắc này không chỉ gắn với con người thực  
của họ mà còn được tiếp nhận bởi những  
người khác. Gee cũng nhóm các “vai” này  
dưới bốn góc độ: định danh tự nhiên (trạng  
Bài báo này ủng hộ quan điểm xem  
kể chuyện là một nhu cầu bản năng của con  
người và Facebook cung cấp một kênh giao  
tiếp mới qua đó cá nhân có thể chia sẻ các  
câu chuyện và trải nghiệm của mình. Bruner  
(1990) nêu quan điểm rằng qua kể chuyện,  
con người không chỉ đơn thuần kể lại, tiết lộ  
hay giải thích những gì đã xảy ra, mà qua quá  
trình đó họ còn lý giải, tìm hiểu ý nghĩa sự  
việc và sự thật. Với Bruner, cuộc sống của  
con người được hình thành bởi những câu  
chuyện chúng ta kể và tin tưởng, vì thế qua  
các câu chuyện con người không chỉ xây  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
45  
dựng hiện thực mà còn cả bản sắc cá nhân.  
Giddens (1991) nhấn mạnh cả tầm quan  
trọng của yếu tố cá nhân và xã hội trong quá  
trình kể chuyện, miêu tả nó như một phần  
thiết yếu của việc định hình chúng ta là ai,  
xây dựng bản sắc theo những cách nhất định  
cho chúng ta và mọi người. Nghiên cứu của  
Giddens cho thấy phương pháp nghiên cứu  
tường thuật cung cấp thông tin về cách mọi  
người nhìn thế giới và vị trí của họ trong đó,  
và bằng cách hiểu về câu chuyện của mọi  
người, chúng ta có thể hiểu về các ý nghĩa và  
chuẩn mực văn hoá xã hội.  
mạng xã hội, chúng ta càng cần hiểu rõ hơn  
những ảnh hưởng về văn hoá và xã hội của  
những hành động này. Hiện tại khi Facebook  
ở Việt Nam vẫn đang chủ yếu được coi như  
một nền tảng cung cấp thông tin, dịch vụ,  
giải trí, vai trò của các văn bản trên  
Facebook, ở trong bài báo này là các văn bản  
dưới dạng dòng trạng thái chia sẻ các mẩu  
chuyện, càng cần được thừa nhận có thể đóng  
vai trò quan trọng trong giáo dục, thay vì bị  
chặn và cấm sử dụng ở nhiều trường học.  
Các nghiên cứu về sử dụng các trang  
mạng xã hội như Facebook chủ yếu tập trung  
tìm hiểu việc học sinh sử dụng các trang  
mạng xã hội cho mục đích giáo dục (Ellison  
và cộng sự, 2007; Selwyn, 2009) hoặc việc  
giáo viên sử dụng chúng trong thực hành sư  
phạm, đặc biệt tập trung vào sự hiện diện của  
giáo viên và thể hiện bản thân (Mazer và  
cộng sự, 2007). Ngoài ra, ngày càng có nhiều  
công trình nghiên cứu liên quan đến phát  
triển chuyên môn dưới hình thức trực tuyến  
trên các trang mạng xã hội như việc các nhà  
giáo dục sử dụng Twitter để phát triển  
chuyên môn (Carpenter & Krutkab, 2014),  
cách giáo viên hỗ trợ nhau trong các nhóm  
trực tuyến trên Facebook (Kelly & Antonio,  
2016), các cơ chế thành viên của nhóm và  
động lực tham gia nhóm của giáo viên trong  
việc sử dụng Facebook cho chuyên môn  
(Ranieri và cộng sự, 2012), các cộng đồng  
mạng không chính thức - nơi phát triển  
chuyên môn của giáo viên (Marcia & Garcia,  
2016). Trong những nghiên cứu này, các  
trang mạng xã hội hoạt động như một nền  
tảng lưu trữ các cộng đồng chuyên môn.  
Cộng đồng chuyên môn ở đây là “nhóm  
những người có chung mối quan tâm hoặc  
niềm đam mê đối với việc họ làm và học hỏi  
cách làm việc tốt hơn khi họ giao lưu thường  
xuyên với nhau” (Wenger & Wenger, 2015).  
Việc sử dụng các trang mạng xã hội,  
đặc biệt là Facebook, đang gia tăng trong  
lĩnh vực giáo dục (Nie & Sundar, 2013).  
Facebook được phát hành ban đầu ở Mỹ vào  
năm 2004, trước hết là cho sinh viên  
Harvard, rồi mở rộng cho tất cả những ai hơn  
13 tuổi có địa chỉ hòm thư điện tử. Hiện nay  
Facebook gần như đã hiện diện khắp thế  
giới, dù có một vài nơi như Trung Quốc,  
không ủng hộ nền tảng mạng xã hội này. Là  
một hiện tượng mới nên đã và đang có sự gia  
tăng các nghiên cứu về tường thuật trên  
Facebook trong nhiều lĩnh vực bao gồm tâm  
lý, xã hội, ngôn ngữ, y tế, và giáo dục. Page  
(2012) đưa ra hai lý do để nghiên cứu các  
câu chuyện được chia sẻ trên mạng xã hội.  
Thứ nhất là việc kể chuyện vẫn là công cụ  
phổ biến nhất mà con người sử dụng để hiểu  
về bản thân và thế giới. Lý do thứ hai là do  
sự bùng nổ về thói quen chia sẻ thông tin,  
trải nghiệm hàng ngày trực tuyến và trên các  
nền tảng mạng xã hội ở thế kỉ 21. Công nghệ  
số mở rộng giới hạn chia sẻ thông tin, vượt  
ra khỏi những ràng buộc của thế giới hiện  
thực, kết nối với nhiều người hơn. Việc chia  
sẻ những câu chuyện với bạn bè và người lạ  
trên mạng xã hội là thú vị nhưng cũng cần  
thừa nhận rằng không thể dự đoán tất cả  
những phạm vi ý nghĩa văn bản có thể có khi  
được đọc, phân tích bởi những người khác,  
đặc biệt những người ở trong bối cảnh văn  
hoá, xã hội khác với chúng ta. Vì thế chúng  
tôi cho rằng, khi ngày càng nhiều người chủ  
động sáng tạo và chia sẻ các thông điệp trên  
Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam  
hiện tại, bất chấp những nỗ lực của chính phủ  
và Bộ Giáo dục và Đào tạo, vẫn còn thiếu  
một sân chơi “an toàn” để phát triển chuyên  
môn mà thông qua đó giáo viên có thể tự do  
chia sẻ kinh nghiệm và các mối quan tâm về  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
46  
việc giảng dạy và cuộc sống (Hashimoto &  
Van-Trao, 2018). Nhiều giáo viên đã sử  
dụng Facebook như một cộng đồng chuyên  
môn trực tuyến (Mai và cộng sự, 2020). Cho  
đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, nghiên  
cứu về bản sắc giáo viên và phát triển chuyên  
môn qua các trang mạng xã hội vẫn còn ít,  
đặc biệt là ở Việt Nam, nơi cơ hội phát triển  
chuyên môn và các cộng đồng chuyên môn  
còn hạn chế. Bài báo này sử dụng phương  
pháp nghiên cứu tường thuật để tìm hiểu về  
bản sắc của đối tượng nghiên cứu được chia  
sẻ qua các dòng trạng thái trên Facebook, và  
quá trình này ảnh hưởng đến sự phát triển  
bản sắc của các giáo viên đồng nghiệp khác  
như thế nào.  
tính. Sau đó, chúng được mã hóa theo nội  
dung của các bài đăng, và được phân tích  
theo chủ đề. Chúng tôi cũng phỏng vấn giáo  
viên trong suốt cả năm theo quy trình phỏng  
vấn tường thuật. Phỏng vấn tường thuật  
được phân loại là phương pháp nghiên cứu  
định tính dưới hình thức phỏng vấn không  
cấu trúc, chuyên sâu vào các đặc điểm cụ thể  
(Riesman, 1993; Flick, 1998). Người phỏng  
vấn tránh kiểu phỏng vấn được cấu trúc  
trước bằng cách sử dụng kiểu giao tiếp hàng  
ngày trong khi phỏng vấn, đó là kể chuyện  
và lắng nghe. Tiền giả định là quan điểm của  
người được phỏng vấn bộc lộ rõ nhất khi họ  
sử dụng ngôn ngữ tự phát trong khi tường  
thuật các sự kiện, theo một lược đồ tự tạo chứ  
không phải theo cấu trúc do người phỏng vấn  
áp đặt. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực  
hiện các cuộc phỏng vấn liên quan đến các  
bài đăng khác nhau của giáo viên. Có bốn  
giai đoạn cơ bản của phỏng vấn tường thuật  
theo Jovchelovitch và Bauer (2000, tr. 4) như  
được trình bày tóm tắt trong sơ đồ dưới đây.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này thu thập hai loại dữ  
liệu. Các bài đăng của giáo viên trên  
Facebook trong một năm (2019-2020) được  
thu thập dưới dạng ảnh chụp màn hình máy  
Mở đầu  
Tường thuật chính  
Hỏi  
Kết thúc trò chuyện  
•Dừng ghi âm  
•Cho phép các câu hỏi tại sao  
•Ghi lại sau phỏng vấn  
•Thiết lập chủ đề đầu tiên cho •Không ngắt lời  
•Chỉ hỏi điều gì xảy ra lúc đó  
•Không hỏi về ý kiến và thái  
câu chuyện  
•Chỉ dùng cử chỉ để khích lệ  
người tham gia tiếp tục câu  
chuyện  
• Sử dụng hình ảnh minh họa  
(các bài đăng Facebook)  
độ  
•Không hỏi tại sao  
•Xem xét các câu hỏi nội tại  
•Chờ đoạn kết thúc  
Theo Clandinin và Connelly (2000),  
khung phân tích tường thuật bao gồm ba  
chiều của không gian tìm hiểu tường thuật.  
Chiều đầu tiên là “thời gian”, tập trung vào  
việc tìm hiểu các trải nghiệm trước đây của  
giáo viên, các trải nghiệm hiện tại và kế  
hoạch tương lai với tư cách là giáo viên.  
Chiều hướng này cũng tương đồng với các  
thuộc tính linh hoạt của bản sắc (Gee, 2001).  
Chiều thứ hai là chiều tương tác, được kết  
hợp vào để tìm hiểu các bản sắc của đối  
tượng nghiên cứu xuất hiện và thay đổi liên  
quan đến cảm xúc bên trong và tương tác bên  
ngoài như thế nào. Do môi trường văn hóa  
xã hội và thể chế mà đối tượng nghiên cứu  
đang sống, chiều cuối cùng được tìm hiểu là  
các yếu tố thuộc về bối cảnh ảnh hưởng đến  
sự định hình bản sắc.  
Nghiên cứu này cũng sử dụng khung  
lý thuyết về quá trình hình thành bản sắc của  
giáo viên như một quá trình kép gồm xác  
định (identification) và đàm phán các ý  
nghĩa (negotiation of meaning) dưới góc  
nhìn của học thuyết xã hội Wenger (1998) và  
được áp dụng trong nghiên cứu của Tsui  
(2007) về bản sắc của giáo viên tiếng Anh.  
4. Đối tượng nghiên cứu, bối cảnh làm  
việc, câu chuyện, và người đọc  
Đối tượng được nghiên cứu là An  
(tên thật và giới tính của đối tượng đã được  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
47  
thay đổi). An là giáo viên dạy tiếng Anh cho  
người nói ngôn ngữ khác (TESOL), chuyên  
dạy tiếng Anh học thuật cho sinh viên năm  
thứ nhất tại một khoa sư phạm của trường đại  
học. An đã có bằng thạc sỹ về giảng dạy  
tiếng Anh và có kinh nghiệm giảng dạy hơn  
10 năm. Có thể nói đây là một giáo viên có  
trình độ và kinh nghiệm. An cũng là đồng  
nghiệp cũ của chúng tôi. Điều này giúp cho  
việc chia sẻ các câu chuyện cá nhân thông  
qua tiến trình của phỏng vấn tường thuật  
thuận lợi hơn. Sự tin tưởng lẫn nhau giúp cho  
đối tượng nghiên cứu dễ mở lòng qua các  
câu chuyện. Mặt khác, chính mối quan hệ  
đồng nghiệp giữa người nghiên cứu và  
nghiệm thể cũng đem lại tác động nhất định  
đến quá trình phân tích, diễn dịch dữ liệu. Ví  
dụ như những định kiến chủ quan về nghiệm  
thể có thể được hình thành trước khi chúng  
tôi tiếp xúc với dữ liệu nghiên cứu này. Tuy  
nhiên, điều này không phải là không thể  
tránh khỏi. Trên thực tế, thuận lợi của việc  
thẳng thắn nhìn nhận tính chủ quan trong  
nghiên cứu định tính là khả năng chiêm  
nghiệm về những ảnh hưởng của nó với quá  
trình nghiên cứu, từ đó người nghiên cứu có  
những điều chỉnh phù hợp.  
gian và cơ hội gặp gỡ đồng nghiệp. Trong  
tuần, họ gặp nhau một đến hai lần trong  
khoảng 20 phút trong giờ giải lao tại phòng  
giáo viên. Do đó, ngày càng có nhiều giáo viên,  
bao gồm cả An, sử dụng Facebook như là nơi  
chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, các nguồn học  
liệu và là nơi giao lưu với đồng nghiệp.  
Các bài đăng trên Facebook của An  
được mã hóa theo chủ đề và phân tích tường  
thuật. Qua phân tích, những bài đăng này  
được nhóm thành ba loại, phản ánh bốn bản  
sắc chính của đối tượng. Các bài đăng được  
nhóm lại theo thứ tự dưới đây, sắp xếp theo  
mức độ phổ biến cao đến thấp:  
• Bài đăng liên quan đến sở thích cá nhân  
(ví dụ: xem phim, bình luận về các bài  
đăng trên Internet như video hoặc bài  
hát trên Youtube);  
• Các bài viết liên quan đến giảng dạy (ví  
dụ: chia sẻ ý kiến về các vấn đề giáo  
dục, chia sẻ cảm xúc những điều đã xảy  
ra trong quá trình giảng dạy; giới thiệu  
đặc điểm các lớp dạy học của đối  
tượng);  
• Các bài viết liên quan đến các vấn đề  
thời sự (ví dụ: đại dịch Covid, bầu cử  
tổng thống Hoa Kỳ; tin tức quốc gia).  
Kể từ khi tốt nghiệp, An làm việc tại  
một khoa sư phạm của một trường đại học ở  
Hà Nội. Là giáo viên có kinh nghiệm tại  
khoa, An không cần phải tham gia các  
chương trình bồi dưỡng chuyên môn dành  
cho giảng viên trẻ vừa tốt nghiệp hoặc vừa  
được tuyển dụng. Bồi dưỡng chuyên môn tại  
trường đại học này bao gồm các tọa đàm nửa  
ngày hoặc một ngày và hội thảo. Trong năm  
2019, trường đã tổ chức bốn tọa đàm, một  
hội thảo quốc gia và hai hội thảo quốc tế. Là  
giảng viên của trường, An được yêu cầu thực  
hiện nghiên cứu khoa học và trình bày báo  
cáo tại các hội thảo này. Nhà trường cũng đã  
có nhiều nỗ lực để xây dựng các nhóm cũng  
như mạng lưới nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn  
còn thiếu các cộng đồng chuyên môn không  
chính thức, ở cả hình thức truyền thống cũng  
như trực tuyến. Trên thực tế, do tính chất  
giảng dạy tại trường đại học, An có rất ít thời  
Trong bài báo này, chúng tôi tập  
trung vào các câu chuyện An chia sẻ trên  
mạng về việc giảng dạy. Bamberg và  
Georgakopoulou (2008) định nghĩa, đây là  
những câu chuyện nhỏ chia sẻ về những sự  
kiện xảy ra rất gần (ví dụ: sáng nay, tối qua),  
hoặc những sự kiện còn đang diễn biến.  
Những câu chuyện này mang tính rời rạc,  
nhưng cung cấp những mảnh ghép nhỏ về  
câu chuyện lớn về cuộc đời và sự nghiệp của  
đối tượng nghiên cứu. Những câu chuyện  
nhỏ đòi hỏi người phân tích phải đặt chúng  
vào bối cảnh không gian, thời gian tương  
ứng. Chúng được viết và chia sẻ với những  
người đọc tưởng tượng. An chia sẻ trong  
phỏng vấn rằng khi viết các dòng trạng thái,  
anh thường tưởng tượng những người đọc  
chính là những người anh thường xuyên  
tương tác trên trang mạng xã hội. Trên thực  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
48  
tế, người đọc những chia sẻ này bao gồm cả  
những đối tượng trong danh sách bạn bè mà  
An không tương tác thường xuyên và cả  
những người mà chia sẻ của An hiện lên trong  
bảng tin của họ khi cả hai có bạn chung.  
nhiều trăn trở về những khó khăn trong công  
việc, và bản sắc của một người học suốt đời.  
An thể hiện mình là một giáo viên  
nghiêm khắc, người thường xuyên thẳng  
thắn chỉ trích những học sinh không nghiêm  
túc và không chuyên cần trong các lớp học  
của mình như ví dụ một bài đăng dưới đây.  
Ngoài việc liên kết với nhau bởi nội  
dung, liên quan đến hoạt động giảng dạy,  
những câu chuyện này còn được liên kết với  
nhau bởi yếu tố người đọc. Facebook cho  
phép người dùng thể hiện tương tác và tham  
gia vào trao đổi qua tính năng “like” mà  
chúng tôi hiểu là một kênh phản hồi  
(backchannel) theo mô hình của Goffman  
(1981). Nhận xét (comment), là một hình  
thức tham gia tích cực hơn của người đọc, và  
có thể dẫn đến một loạt trao đổi và phản hồi  
(reply) về chủ đề của chia sẻ. Cả hai hình  
thức phản hồi đều rất phổ biến trên nền tảng  
Facebook (87% các chia sẻ của An trên  
Facebook nhận được một hoặc cả hai hình  
thức tương tác trên). Có lẽ tỉ lệ phản hồi cao  
như vậy cũng là một lý do để An lựa chọn sử  
dụng nền tảng mạng xã hội này. Như  
Bamberg (2007) đã nhấn mạnh, “...điều tồi  
tệ nhất có thể xảy đến với một câu chuyện là  
không nhận được sự phản hồi nào” (tr. 167).  
Cũng giống như các chia sẻ trực tiếp off-line,  
đa số thời gian là dành cho người kể chuyện  
còn người nghe thì phản hồi để thể hiện mình  
đang lắng nghe, các chia sẻ của An nhận  
được nhiều lần người nghe nhấn “like” hơn  
là nhận xét. Tuy nhiên, gần 50% các chia sẻ  
của An nhận được phản hồi trong giai đoạn  
từ tháng 10-12/2020. Chủ yếu các phản hồi  
mang tính chia sẻ, đồng tình, hoặc đặt thêm  
câu hỏi để hiểu rõ hơn về nội dung An chia sẻ.  
Nghịch lý trong dạy làm văn: Giáo  
viên luôn là người cẩn thận khi viết  
lời phê hoặc sửa lỗi cho học sinh.  
Trong khi đó, học sinh luôn viết bất  
cứ điều gì xuất hiện trong đầu mà  
không cố gắng nhớ lại những gì giáo  
viên đã liên tục cảnh báo. Những  
người lẽ ra không cần phải theo dõi  
cẩn thận ngôn ngữ của họ vẫn cần  
mẫn làm như vậy, trong khi những  
người đáng lẽ phải làm việc chăm  
chỉ, cứ mắc lỗi lặp đi lặp lại... Giáo  
viên không thông minh hơn học sinh.  
Họ chỉ đơn thuần là siêng năng và  
cẩn thận hơn, vậy thôi. Nó đơn giản  
như vậy nhưng nhiều người không  
chịu hiểu nó, và tiếp tục thiếu hiểu  
biết. (05/07/2019)  
Khi được phỏng vấn về triết lý giảng  
dạy của mình, An mô tả mình là một giáo  
viên khắt khe, coi trọng sự chăm chỉ và yêu  
cầu học sinh của mình phải năng động, tự  
giác và có sẵn động lực cao. An không sợ bị  
coi là một giáo viên nghiêm khắc, và sẵn  
sàng nói những lời khó nghe hay la mắng học  
sinh vì sự lười biếng. An tin rằng “thương  
cho roi cho vọt”. Ví dụ như trong bài đăng  
sau. Bài đăng bằng tiếng Anh, tiếng Việt  
được chúng tôi dịch lại ở phía dưới.  
5. Bản sắc của đối tượng nghiên cứu thể  
hiện qua các chia sẻ trên Facebook  
Bản thân là một giáo viên, tôi cũng  
nhận ra rằng mình đã lãng phí quá  
nhiều thời gian cho những việc đáng  
lẽ phải được nói thẳng ra và tiết kiệm  
rất nhiều thời gian. Không phải tôi  
đánh giá thấp việc giao tiếp khéo léo  
hoặc lợi ích tâm lý của phản hồi tích  
cực mang tính xây dựng trong giảng  
Quá trình phân tích các chia sẻ của  
đối tượng nghiên cứu về nội dung giảng dạy  
cho thấy có bốn bản sắc nổi trội thường  
xuyên được thể hiện trên nền tảng Facebook,  
bao gồm bản sắc của một giáo viên nghiêm  
khắc, một giáo viên sẵn sàng chia sẻ kinh  
nghiệm với đồng nghiệp, một giáo viên  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
49  
dạy, nhưng không nhiều học sinh  
hiểu và thực sự hưởng lợi từ những  
lời ngọt ngào chỉ để nhằm che đậy  
những ý kiến thẳng thắn gây tổn  
thương về năng lực và thái độ của họ.  
Trên thực tế, việc đưa ra những lời  
nhận xét dễ chịu thậm chí có thể  
khiến những người thiếu kinh  
nghiệm và thiếu nhận biết về khuyết  
điểm của bản thân bị nhầm lẫn, tạo  
cho họ niềm tin sai lầm và tước đi cơ  
hội tiến bộ. (Chia sẻ được dịch từ  
tiếng Anh - 11/03/2019)  
gì tôi thấy cần thiết và không còn nói  
những điều không định trước chỉ để  
phù hợp với tâm trạng của cả lớp như  
tôi đã làm trước đây và giống như  
nhiều giáo viên khác, những người  
luôn phải vật lộn với những câu đùa  
ngẫu hứng hoặc phản ứng giả tạo chỉ  
để làm sôi động bầu không khí lớp  
học hoặc làm cho học sinh cảm thấy  
giải trí khi chúng trông buồn chán.  
Bên cạnh đó, tôi đã học được mẹo để  
trở nên hài hước mà không cần phải  
quá ồn ào, vì vậy việc tạo không khí  
cho học sinh, đối với tôi, giờ đây có  
thể được thực hiện một cách dễ dàng  
và tự nhiên. (Chia sẻ được dịch từ  
tiếng Anh - 18/01/2019)  
Tuy nhiên, qua các cuộc phỏng vấn  
An cho thấy mong muốn thấu hiểu học sinh  
của mình vì điều này sẽ dẫn đến sự hài lòng  
cho cả giáo viên và học sinh. Đạt được  
những điều này có thể coi là động lực để An  
tiếp tục công việc giảng dạy.  
Phân tích tường thuật cho thấy rằng  
do thiếu các hoạt động phát triển chuyên  
môn có ý nghĩa tại nơi làm việc và thiếu thời  
gian, cơ hội cũng như sân chơi cho các giáo  
viên, bao gồm An và đồng nghiệp, để được  
gặp gỡ, giao lưu và thảo luận về học sinh  
cũng như việc giảng dạy. Do đó, họ sử dụng  
Facebook như một công cụ giao tiếp để tiếp  
cận với đồng nghiệp và học sinh của mình.  
Bản sắc thứ hai của đối tượng nghiên  
cứu là của một giáo viên giàu kinh nghiệm,  
người sẵn sàng chia sẻ kiến thức và kỹ năng  
của mình. An sử dụng Facebook như một  
nền tảng để chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức  
của mình về việc giảng dạy cũng như những  
cảm xúc mà anh đã trải qua trong hoạt động  
giảng dạy hàng ngày của mình.  
Bản sắc thứ ba của An là của một  
giáo viên nhiều trăn trở với nghề, người  
không ngừng đấu tranh để vượt qua những  
thử thách của môi trường xung quanh. Sự bất  
bình của An đến từ các yếu tố khác nhau bao  
gồm học sinh và cả những yếu tố từ bối cảnh  
văn hóa xã hội và thể chế.  
Một số đồng nghiệp từng hỏi tôi làm  
cách nào để duy trì giọng nói như vậy  
sau nhiều năm làm công việc giảng  
dạy vốn dĩ phải nói nhiều và thậm chí  
có lúc phải la hét. Tôi nói với họ rằng  
ngoài khả năng có được giọng khỏe  
do bẩm sinh, tôi đã tự luyện cho mình  
cách nói với một giọng điệu cần ít lực  
nhưng tạo ra hiệu ứng giống như bất  
kỳ diễn giả đặc sắc nào. Cụ thể là,  
bây giờ tôi có thể nói với cả những  
lớp học lớn khoảng 30 người theo  
cách mà tôi thường nói trong các  
cuộc trò chuyện nhỏ hoặc bình  
thường với bạn bè, và hiếm khi lên  
tiếng vì bất kỳ lý do gì trước học  
sinh. Hơn nữa, tôi sẽ chỉ nói những  
Một trong những điều bất hạnh lớn  
nhất của việc giảng dạy là khi giáo  
viên coi lớp học như một “thánh  
đường” còn học sinh thì không. Sự  
không phù hợp và chênh lệch giữa  
niềm tin và mục tiêu của người dạy  
và của người học là lý do khiến cả hai  
bên đều cảm thấy nhức nhối và mệt  
mỏi. (Chia sẻ được dịch từ tiếng Anh  
- 22/09/2019)  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
50  
Qua phỏng vấn chúng tôi nhận thấy  
An đặt kỳ vọng cao ở học sinh. Điều này  
cũng giải thích thái độ nghiêm khắc thường  
xuyên của anh trong lớp học mà anh tin đó  
là cách chỉnh đốn sự lười biếng, thiếu động  
lực và các hành vi sai trái của học sinh.  
cũng cho thấy một số ví dụ về sự bất bình  
của An đối với hoạt động đào tạo, chương  
trình giảng dạy, v.v. Đối với hầu hết các yếu  
tố này, An không thể làm được gì nhiều để  
thay đổi nên đành chịu đựng tất cả căng  
thẳng. Ngoài ra, An đã hướng đến sự thành  
công trong công việc giảng dạy của mình  
như một phương tiện để vượt qua những cảm  
giác tiêu cực như trong bài đăng dưới đây.  
Tôi tin vào sự xấu hổ và sự xấu hổ  
giúp sửa đổi hành vi như thế nào. Vì  
vậy, ngoài việc thỉnh thoảng truyền  
cho học sinh tâm lý tự tin, tự hào,...  
tôi kiên quyết khiến những học sinh  
ngỗ ngược cảm thấy hối lỗi về hành  
vi sai trái của mình để các em kiểm  
điểm lại hành động của bản thân và  
có động lực sửa đổi để tốt hơn. Và  
điều quan trọng là bạn phải cảm thấy  
có lỗi. Ngay cả khi không có phương  
pháp thích hợp để kỷ luật học sinh,  
giáo viên ít nhất nên được trao quyền  
để giúp học sinh cảm thấy bản thân  
tệ và cảm thấy những điều chúng làm  
là sai, chẳng hạn như thông qua lời  
giáo viên nói với học sinh. Hoàn toàn  
bỏ qua lỗi của học sinh sẽ chỉ khiến  
chúng trở thành những người lớn vô  
trách nhiệm, thiếu hiểu biết, vô liêm  
sỉ, hèn nhát và đổ lỗi cho bất cứ ai  
ngoại trừ chúng. (12/4/2019)  
Mặc dù thỉnh thoảng có những lời  
phàn nàn, tôi vẫn rất thích việc giảng  
dạy và thậm chí đôi khi cảm thấy  
sung sướng với một số nhóm sinh  
viên mà tôi đã có rất nhiều kỷ niệm  
khó quên khi làm việc cùng. Vì vậy,  
tôi đã quyết định bí mật ghi âm một  
số bài học của mình với chúng để tôi  
có thể nghe riêng sau này và hồi  
tưởng lại tất cả những khoảnh khắc  
quý giá trong công việc của mình.  
Tôi tưởng tượng rằng một số tệp  
thậm chí có thể được giới thiệu trong  
các lớp học trong tương lai của tôi  
như là những ví dụ điển hình về sự  
năng động lý tưởng của một lớp học  
và sự chủ động của cá nhân để hướng  
dẫn những học sinh kém năng động  
về cách học sao cho hiệu quả trong  
một lớp học tiếng Anh (tôi là người  
nói ít nhất ở đó). Nghe có vẻ hữu ích  
hơn rất nhiều cho một giáo viên so  
với việc tham dự các hội thảo khoa  
học chỉ để có giờ nghiên cứu, đúng  
không nào? (Chia sẻ được dịch từ  
tiếng Anh - 23/03/2019)  
Trong khi tích cực và mạnh mẽ áp  
dụng giải pháp trên cho các vấn đề liên quan  
đến học sinh, An vẫn phải vật lộn để đối phó  
với những thách thức từ môi trường làm việc  
của mình và môi trường văn hóa xã hội. Đôi  
khi các bài đăng chỉ đơn giản là để mỉa mai.  
Để minh họa cho điểm này, chúng ta cùng  
xem bài đăng sau đây: An đăng lại một tiêu  
đề từ một tờ báo trực tuyến. Tiêu đề trích dẫn  
một nghị định vừa được Bộ Giáo dục và Đào  
tạo thông qua nhưng gây tranh cãi: “Từ ngày  
1 tháng 11, giáo viên không được phép phê  
bình học sinh trong lớp của mình”. Để phản  
ứng với tin này, anh đã đăng dòng trạng thái  
sau: “Vậy thì đừng làm gì cả và tốt nhất là  
mọi người hãy về nhà thôi” và kết thúc bằng  
một khuôn mặt cười. Phân tích tường thuật  
Bản sắc cuối cùng, nhưng không kém  
phần quan trọng của An là một giáo viên  
luôn nêu gương người học ngoại ngữ suốt  
đời. Có thể thấy điều này qua tập hợp các bài  
đăng về những bộ phim yêu thích. Tại thời  
điểm kết thúc thu thập dữ liệu, có tổng cộng  
491 bài đăng về chủ đề này. Các bài đăng  
đều được viết bằng tiếng Anh. Trong mỗi bài  
đăng, đối tượng viết một đánh giá ngắn về  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
51  
bộ phim mà không tiết lộ cốt truyện. Mục  
đích của những bài viết này là để An có cơ  
hội sử dụng tiếng Anh. Ngoài ra, hoạt động  
này cho phép An thể hiện cho người học của  
mình thấy cách sử dụng ngôn ngữ. An đã  
chọn lựa từ ngữ cẩn thận, bao gồm từ vựng  
đã dạy trên lớp. Điều này cũng khiến cho học  
sinh của An quan tâm đến những bài đăng  
này hơn. Bản sắc người học ngôn ngữ suốt  
đời còn được thể hiện qua việc lựa chọn  
ngôn ngữ sử dụng trên mạng xã hội, gần 95%  
số chia sẻ An đăng trên Facebook trong giai  
đoạn thu thập dữ liệu được viết bằng tiếng  
Anh. Điều này là phù hợp với chia sẻ của An  
trong phỏng vấn.  
hình thức này không tồn tại riêng biệt, mà  
cần được xem trong mối quan hệ tương tác  
hỗ trợ. Trong hình thức đầu tiên, sự dấn thân  
(engagement), chúng ta đầu tư vào các hoạt  
động cũng như các mối quan hệ với các  
thành viên khác của cộng đồng. Qua cách  
liên hệ bản thân với người khác, chúng ta  
hiểu được mình là ai. Qua dấn thân, chúng ta  
tìm ra cách để tham gia vào các hoạt động và  
các kĩ năng cần thiết. Hình thức thuộc về thứ  
hai là tưởng tượng (imagination), qua quá  
trình này, chúng ta liên hệ bản thân rộng hơn  
với thế giới, bối cảnh bên ngoài cộng đồng  
chuyên nghiệp. Wenger định nghĩa hình thức  
này như sự hình thành các hình ảnh về bản  
thân và thế giới vượt qua mức gắn kết. Hình  
thức thứ ba là liên hệ đối chiếu (alignment),  
mà qua quá trình này các thành viên của  
cộng đồng được kết nối bằng cách đối chiếu  
liên hệ hành động của mình với văn hoá của  
tổ chức, cộng đồng. Qua các hoạt động này  
mà bản sắc của cộng đồng, ví dụ như tổ chức  
nơi công tác, trở thành bản sắc cá nhân.  
Wenger chỉ ra rằng việc liên hệ và đối chiếu  
này nếu bị áp buộc thì không chỉ ảnh hưởng  
đến bản sắc cá nhân mà còn có thể dẫn tới sự  
không hoà hợp trong tổ chức, thậm chí có thể  
là xa lánh.  
6. Quá trình kép trong hình thành bản sắc  
Theo Wenger (1998), bản sắc của cá  
nhân không chỉ phụ thuộc cách một người  
nghĩ và nói về bản thân, hay chỉ về cách  
những người khác nói và suy nghĩ về họ, mà  
còn ở cách mà bản sắc cá nhân được thể hiện  
mỗi ngày. Theo Wenger, bản sắc được hình  
thành trong xung đột giữa những đầu tư  
(investment) của chúng ta vào các hình thức  
thuộc về, trong các hội nhóm, cộng đồng và  
cách chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của những sự  
việc, hiện tượng có ý nghĩa trong những bối  
cảnh đó. Vì thế, quá trình hình thành bản sắc  
cá nhân là một quá trình kép bao gồm xác  
định (identification) và đàm phán các ý  
nghĩa, gồm cả giá trị, hình ảnh, quan điểm, ý  
kiến v.v (negotiation of meanings).  
Về quá trình đàm phán các ý nghĩa  
trong xây dựng bản sắc, trong cộng đồng  
thực hành (community of practice), các ý  
nghĩa mới, được hình thành qua trải nghiệm  
hàng ngày, được đàm phán (tức là được mở  
rộng, diễn giải lại, sửa đổi, xác nhận hoặc  
loại bỏ). Quá trình này linh hoạt và mang  
tính tương tác liên tục, cũng như phụ thuộc  
vào thời gian và bối cảnh. Quá trình đàm  
phán các ý nghĩa, theo Wenger, quyết định  
mức độ mà một cá nhân có thể đóng góp và  
quyết định các ý nghĩa mà họ đầu tư, vì thế  
nó đóng vai trò cơ bản trong việc hình thành  
bản sắc cá nhân. Quá trình đàm phán ý nghĩa  
bao gồm hai quá trình: tham gia  
(participation) và hữu hình hoá (reification)  
các ý nghĩa. Việc tham gia vào quá trình đàm  
phán các ý nghĩa bao gồm cả việc hình thành  
và chấp nhận các ý nghĩa, và hai quá trình  
Quá trình xác định (identification)  
theo Wenger (1998) là quá trình mỗi cá nhân  
xây dựng các mối quan hệ cũng như sự tách  
biệt trong cộng đồng. Quá trình này mang  
tính tương tác: Mỗi cá nhân tự xác định bản  
thân, hoặc được liên hệ bởi người khác, là  
thuộc về những nhóm, vai trò trong xã hội.  
Quá trình này cũng mang tính trải nghiệm:  
trải nghiệm sống của mỗi cá nhân trong các  
hình thức thuộc về sẽ hình thành và quyết  
định chúng ta là ai. Wenger (1998) phân loại  
ba hình thức thuộc về như là nguồn gốc của  
quá trình phát hiện ý nghĩa của bản sắc. Ba  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
này xảy ra đồng thời. Việc tham gia vào quá  
52  
Có thể thấy trong chia sẻ này, An  
trình đàm phán các ý nghĩa là quá trình cá  
nhân và xã hội (trong cộng đồng), nó xác  
định trình độ cá nhân (cũng như các thiếu  
sót) và giúp định hình cộng đồng, và cách  
cộng đồng định hình các cá nhân. Khái niệm  
hữu hình hoá (reification) chỉ cả quá trình và  
sản phẩm - hình thức của trải nghiệm. Polin  
(2008) miêu tả quá trình hữu hình hoá này là  
sự đóng băng kiến thức trong hình thức vật  
phẩm cụ thể bao gồm các công cụ, biểu  
tượng, câu chuyện và khái niệm.  
không chỉ đưa ví dụ về cách dùng trạng từ,  
mà còn thể hiện quan điểm của mình về việc  
học của các học sinh trong lớp. Không chỉ  
các học sinh mà An đang giảng dạy mà cả  
những người đọc Facebook của An đều được  
chứng kiến quá trình mà anh hình thành, chia  
sẻ các ý nghĩa mà anh tin tưởng về việc dạy  
và học, cũng như được chứng kiến những tạo  
tác mà bản sắc của An được hữu hình hoá  
(reification), chính là các chia sẻ trên  
Facebook như ảnh chụp về bảng viết ở trên  
chính là một tuyên ngôn về quan điểm dạy  
học. Như vậy, qua việc tham gia đọc, thảo  
luận và chia sẻ về các chia sẻ của An, người  
đọc bao gồm cả đồng nghiệp, phụ huynh học  
sinh, học sinh, và bạn bè, được tham gia vào  
quá trình xác định các ý nghĩa, mà qua đó họ  
được gắn kết, tưởng tượng và đối chiếu với các  
ý nghĩa mà An đang tin tưởng và quảng bá.  
Khung lý thuyết của Wenger đã được  
áp dụng trong nhiều nghiên cứu, phù hợp với  
việc phân tích những phức tạp trong quá  
trình hình thành của bản sắc của giáo viên  
tiếng Anh (Tsui, 2007). Ví dụ dưới đây minh  
hoạ cho sự lan toả trong quá trình hình thành  
bản sắc của An, cho phép người đọc tham gia  
vào quá trình kép, xác định và đàm phán ý  
nghĩa. Một trong những bản sắc của An, như  
đã nêu ở phần trước, được thể hiện qua các  
chia sẻ trên Facebook là của một giáo viên  
nghiêm khắc, thẳng thắn chỉ trích học sinh  
chưa chăm chỉ và chú tâm vào học tập. Như  
vậy, người đọc, qua việc đọc các chia sẻ của  
An, có thể xác định và đối chiếu với các ý  
nghĩa của họ như một người giáo viên hay  
như một người sử dụng và học tiếng Anh. Họ  
có thể đồng tình, chia sẻ hoặc phản bác dưới  
hình thức nhận xét (comment) hoặc biểu tượng  
tình cảm thể hiện qua nút bấm Thích (Like).  
Bản sắc của An được hữu hình hoá qua các chia  
sẻ trên Facebook. Ví dụ khi An dạy học sinh về  
cách dùng trạngtừ, anh đăng trên Facebook ảnh  
chụp bảng viết (28/11/2020) với dòng chú  
thích: Học cách dùng trạng từ với thầy An.  
7. Kết luận  
Sự hình thành bản sắc là một khía  
cạnh quan trọng để phát triển và trưởng  
thành với tư cách là một thành viên trong  
cộng đồng (Pennington & Richards, 2016).  
Bài báo này trình bày những phát hiện sơ bộ  
về cách hình thành và thể hiện bản sắc của  
một giáo viên trên Facebook. Bài báo cũng  
minh họa ưu thế của phỏng vấn tường thuật  
trong việc kết nối những trải nghiệm trong  
quá khứ và hiện tại của đối tượng nghiên  
cứu, nhằm cung cấp sự thấu hiểu về thế giới  
của họ. Có thể thấy rằng đối tượng nghiên  
cứu ở đây đã thể hiện các bản sắc khác nhau  
thông qua các bài đăng trên Facebook. Đó là  
bản sắc của một người sử dụng ngôn ngữ  
thành công, một giáo viên ngôn ngữ nghiêm  
khắc, một chuyên gia giảng dạy giàu kinh  
nghiệm và sẵn sàng chia sẻ, và một giảng  
viên đang gặp khó khăn tại nơi làm việc. Đối  
tượng nghiên cứu luân chuyển qua các bản  
sắc đan xen này khi chúng định hình cách  
anh ta nhìn thế giới và tương tác với học  
sinh, đồng nghiệp, và những người đọc khác  
trên Facebook và trong cuộc sống thực.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
53  
Beijaard, D., Meijer, P. C., & Verloop, N. (2004).  
Reconsidering research on teachers’  
professional identity. Teaching and Teacher  
Education, 20, 107-128.  
Một hàm ý quan trọng của nghiên  
cứu này là các trang mạng xã hội như  
Facebook có thể hoạt động như một cộng  
đồng chuyên môn. Internet cung cấp không  
gian cho mọi người có thể kết nối với những  
người chung quan tâm, sở thích. Những  
không gian như vậy khác với không gian  
truyền thống bị giới hạn bởi hệ thống cấp bậc  
và bộ máy hành chính, đồng thời có khả năng  
khích lệ những người có trình độ hiểu biết  
khác nhau đóng góp ý kiến và tham vấn lẫn  
nhau (Gee, 2004). Ở bối cảnh Việt Nam, khi  
các cơ hội học tập và phát triển chuyên môn  
còn chưa nhiều, các trang mạng xã hội mang  
lại cơ hội để giáo viên thực sự là tác nhân  
của những thay đổi. Tuy nhiên, trước tiên  
cần phải loại bỏ những giả định cho rằng  
cộng đồng chuyên môn chỉ luôn tồn tại trong  
thế giới thực và đi cùng với các hệ thống thể  
chế. Giáo viên ngày nay có thể chủ động  
hình thành cộng đồng chuyên môn của riêng  
họ, nâng cao tiếng nói của họ và được lắng  
nghe chỉ bằng một cú nhấp chuột.  
Boyd, D. (2008). Why youth (heart) social network  
sites: The role of networked publics in  
teenage social life. In D. Buckingham (Ed.),  
Youth, Identity, and Digital Media (pp. 119-  
142). MIT Press.  
Bruner, J. (1990). Acts of Meaning. Harvard  
University Press.  
Buffardi, L. E., & Campbell, K. W. (2008).  
Narcissism and social networking web sites.  
Personality and Social Psychology Bulletin,  
34(10), 1303-1314.  
Carpenter, J. P., & Krutkab, D. G. (2015).  
Engagement  
through  
microblogging:  
Educator professional development via  
Twitter. Professional Development in  
Education, 41(4), 707-728.  
Clandinin, D. J., & Connelly, F. M. (2000). Narrative  
inquiry: Experience and story in qualitative  
research. Jossey-Bass Inc.  
Coldron, J., & Smith, R. (1999). Active location in  
teachers’ construction of their professional  
identities. Journal of Curriculum Studies,  
31(6), 711–726.  
Duff, P., & Uchida, Y. (1997). The negotiation of  
teachers’ sociocultural identities and  
practices in postsecondary EFL classrooms.  
TESOL Quarterly, 31(3), 451–486.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được hoàn thành với  
sự hỗ trợ của Trường Đại học Ngoại ngữ,  
Đại học Quốc gia Hà Nội trong đề tài mã số  
N.18.02.  
Ellison, N. B., Steinfield, C., & Lampe, C. (2011).  
Connection strategies: social capital  
implications  
of  
Facebook-enabled  
communication practices. New Media &  
Society, 13(6), 873-892.  
Tài liệu tham khảo  
Flick, U. (1998). An introduction to qualitative  
research. SAGE Publications.  
Antonek, J. L., McCormick, D. E., & Donato, R.  
(1997). The student teacher portfolio as  
autobiography: Developing a professional  
identity. Modern Language Journal, 81(1),  
15-27.  
Gee, J. P. (2001). Identity as an analytic lens for  
research in education. In W. G. Secada  
(Ed.), Review of research in education (Vol.  
25, pp. 99-125). SAGE Publications.  
Gee, J. P. (2004). Situated language and learning: A  
critique of traditional schooling. Routledge.  
Bamberg, M. (2007). Stories: big or small - Why do  
we care? In M. Bamberg (Ed.), Narrative -  
State of the Art (pp. 167-174). John  
Benjamins.  
Giddens, A. (1991). Modernity and self identity: self  
and society in the late modern age. Polity.  
Bamberg, M., & Georgakopoulou, A. (2008). Small  
stories as a new perspective in narrative and  
identity analysis. Text & Talk, 28(3), 377-  
396.  
Hashimoto, K., & Van-Trao, N. (2018). Professional  
development of English language teachers  
in Asia. Routledge.  
He, M. F. (2002c). A narrative inquiry of cross-  
cultural lives: Lives in the North American  
academy. Journal of Curriculum Studies,  
34(5), 513–533.  
Bates, T., Swennen, A., & Jones, K. (2011). In the  
professional development of teacher  
educators. Routledge.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
54  
Jovchelovitch, S., & Bauer, M. W. (2000). Narrative  
interviewing [online]. LSE Research  
Online.  
Pennington, M. C., & Richards, J. C. (2016). Teacher  
identity in language teaching: Integrating  
personal, contextual, and professional  
factors. RELC Journal, 47, 5–23.  
Kelly, N., & Antonio, A. (2016). Teacher peer  
support in social network sites. Teaching  
and Teacher Education, 56, 138-149.  
Polin, L. (2008). Graduate professional education  
from a community of practice perspective:  
The role of social and technical networking.  
In C. Kimble, P. M. Hildreth & I. Bourdon  
(Eds.), Communities of practice: Creating  
learning environments for educators (pp.  
163-178). Information Age Publishing.  
Lankveld, T. V., Schoonenboom, J., Volman, M.,  
Croiset, G., & Beishuizen, J. (2017).  
Developing a teacher identity in the  
university context: A systematic review of  
the literature. Higher Education Research &  
Development, 36(2), 325-342.  
Prestridge, S. (2019). Categorising teachers’ use of  
social media for their professional learning:  
MacLure, M. (1993). Arguing for yourself: Identity  
as an organizing principle in teachers’ jobs  
and lives. British Educational Research  
Journal, 19(4), 311–322.  
A
self-generating professional learning  
paradigm. Computers & Education, 129,  
143-158.  
Ranieri, M., Manca, S., & Fini, A. (2012). Why (and  
how) do teachers engage in social networks?  
An exploratory study of professional use of  
Facebook and its implications for lifelong  
learning. British Journal of Educational  
Technology, 43(5), 754-769.  
Mai, T. M., Nguyen, L. T., Tran, L. N., & Le, T. V.  
(2020). EFL teachers' Facebook groups as  
online communities of practice: Toward  
configurations for engagement and  
sustainability. Computer-Assisted Language  
Learning Electronic Journal, 21(3), 140-158.  
Riesman, C. K. (1993) Narrative Analysis. SAGE  
Marcia, M., & Garcia, I. (2016). Informal online  
communities and networks as a source of  
Publications.  
teacher professional development:  
review. Teaching and Teacher Education,  
55, 291-307.  
A
Rodgers, C. R., & Scott, K. H. (2008). The  
development of the personal self and  
professional identity in learning to teach.  
Handbook of Research on Teacher  
Education (732-755).  
Mazer, J. P., Murphy, R. E., & Simonds, C. J. (2007).  
I’ll see you on “Facebook”: the effects of  
computermediated teacher self-disclosure  
on student motivation, affective learning,  
and classroom climate. Communication  
Education, 56(1), 1-17.  
Sachs, J. (2005). Teacher education and the development  
of professional identity: Learning to be a  
teacher. In P. Denicolo & M. Kompf (Eds.),  
Connecting policy and practice: Challenges for  
teaching and learning in schools and  
universities (pp. 5-21). Routledge.  
Moore, A., Edwards, G., Halpin, D., & George, R.  
(2002).  
Compliance,  
resistance  
and  
pragmatism: The (re)construction of  
schoolteacher identities in a period of intensive  
educational reform. British Educational  
Research Journal, 28(4), 551-565.  
Samuel, M., & Stephens, D. (2000). Critical dialogues  
with self: Developing teacher identities and  
roles - a case study of South African student  
teachers.  
International  
Journal  
of  
Educational Research, 33, 475-491.  
Nie, J., & Sundar, S. S. (2013). Who would pay for  
facebook? Self esteem as a predictor of user  
behavior, identity construction and  
valuation of virtual possessions. In P. Kotzé,  
G. Marsden, G. Lindgaard, J. Wesson & M.  
Sfard, A., & Prusak, A. (2005). Telling identities: In  
search of an analytic tool for investigating  
learning as a culturally shaped activity.  
Educational Researcher, 34(4), 14-22.  
Winckler  
(Eds.),  
Human-Computer  
Tsui, B. M. A. (2007). Complexities of identity  
formation: A narrative inquiry of an EFL  
teacher. TESOL Quarterly, 41(4), 567-680.  
Interaction - INTERACT 2013: Lecture  
notes in computer science (Vol. 8119, pp.  
726-743). Springer.  
Wenger-Trayner, E., & Wenger-Trayner, B. (2015).  
Introduction to communities of practice. EB.  
communities-of-practice/  
Olsen, B. (2008). Teaching what they learn, learning  
what they live. Paradigm Publishers.  
Page, R. (2012). Stories and social media. Routledge.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
55  
USING NARRATIVE INQUIRYTO EXAMINE TEACHERS'  
IDENTITYVIAFACEBOOK NARRATIVES  
Mai Ngoc Khoi, Tran Thi Long  
VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: Identity is the result of one's personality, upbringing, learning and working  
experience. This article presents the results of a research on the personal identity of a lecturer teaching  
English at a university in Vietnam. The article analyzes the teacher's shared narratives on Facebook  
about his life and teaching experiences. In-depth interviews were conducted over a one-year period  
following narrative inquiry procedure. The paper shows the complexity of the participant's four  
intertwined identities as well as the potential of Facebook as an online platform to share and reflect on  
personal experiences, thereby allowing readers to engage in a dual process of identification and  
negotiation of meanings in identity formation. Social networks have the potential to mitigate the  
isolation of teachers in their pursuit of professional development activities and to promote the formation  
and development of professional communities.  
Keywords: identity, social network, socio-constructivism  
pdf 13 trang baolam 24760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu về bản sắc cá nhân của giáo viên qua chia sẻ trên facebook với phương pháp nghiên cứu tường thuật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ve_ban_sac_ca_nhan_cua_giao_vien_qua_chia_se_tren.pdf