Giáo trình môn Công tác xã hội nhóm

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCĐCGNB ngày…….tháng….năm 2018  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2018  
1
MỤC LỤC  
Bài 1. Một số vấn đề chung về CTXH nhóm  
1. Khái niệm về công tác xã hội nhóm  
2. Mục đích của công tác xã hội nhóm  
Bài 2. Tiến trình CTXH nhóm  
2. Quan sát, nhận diện các vấn đề của nhóm  
3. Lên kế hoach can thiệp nhóm  
5. Lượng giá  
Bài 3. Hoạt động nhóm  
1.Hoạt động nhóm  
3. Thực hiện vai trò điều hành nhóm của nhân viên xã hội  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
2
LỜI NÓI ĐẦU  
Công tác xã hội nhóm là mô đun quan trọng của nghề Công tác xã hội. Mô  
đun sẽ cung cấp những kiến thức về công tác xã hội theo nhóm nhân vụ hay nhóm  
đối tượng.  
Những tiền đề lý luận và thực tiễn đều được vận dụng trên Công tác xã hội  
nhóm. Cụ thể như đặc trưng Công tác xã hội nhóm, tiến trình công tác xã hội nhóm,  
hoạt động nhóm…  
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo và sử dụng tài liệu của một  
số giảng viên, nhà nghiên cứu về Công tác xã hôi cá nhân và nhóm. Giáo trình này  
đã được Hội đồng thẩm định Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình xét duyệt.  
Là giáo trình được biên soạn lần đầu tại Trường, do đó không tránh khỏi  
những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng  
nghiệp và bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Nhóm biên soạn:  
Phạm Thanh Bằng  
Đỗ Thu Hằng  
Nguyễn Thị Lành  
Lê Hùng Cường  
3
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Công tác xã hội nhóm  
Mã mô đun: MĐ 20  
Vị trí tính chất của mô đun:  
- Vị trí: Công tác xã hội nhóm là mô đun chuyên môn nghề quan trọng trong  
chương trình đào tạo của nghề công tác xã hội. Mô đun này được học sau khi đã  
học các môn học, mô đun cơ sở.  
- Tính chất: Là mô đun chuyên môn nghề bắt buộc.  
Mục tiêu mô đun:  
- Về kiến thức  
+ Nêu được kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng điều phối nhóm.  
+ Nêu được những đặc điểm tâm lý nhóm.  
+ Trình bày và vận dụng các phương pháp nhóm trong thực tế.  
- Về kỹ năng:  
+ Vận dụng các kỹ năng cơ bản của công tác xã hội nhóm với các tình huống  
cụ thể.  
+ Thực hành tiến trình công tác xã hội nhóm vào các tình huống.  
+ Vận dụng tiến trình công tác xã hội nhóm vào các hoạt động trợ giúp đối tượng  
+ Vận dụng kỹ năng giải quyết các vấn đề nhóm vào thực tế.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Tôn trọng, chấp nhận, thấu cảm với hoàn cảnh và vấn đề của đối tượng.  
+ Quan tâm, chia sẻ, hợp tác thúc đẩy nhóm phát triển  
Nội dung môđun:  
BÀI 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM  
Mã bài: MĐ20-B01  
Mục tiêu của bài:  
- Kiến thức:  
Nêu được những kiến thức chung liên quan tới công các xã hội nhóm và  
phân biệt được các loại nhóm trong công tác xã hội.  
- Kỹ năng:  
+ Nhận diện được các dạng nhóm trong công tác xã hội  
4
+ Vận dụng linh hoạt các kỹ năng công tác xã hội nhóm với các nhóm trong  
công tác xã hội  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện sự tôn trọng, tận tâm khi làm  
việc với thân chủ  
Nội dung bài:  
1. Khái niệm về công tác xã hội nhóm  
1.1. Khái niệm  
- Khái niệm nhóm  
Nhóm là một vấn đề hết sức gần gũi trong đời sống con người. Để định nghĩa về nhóm thì có rất  
nhiều quan điểm khác nhau dựa trên nền tảng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau.  
*Theo quan điểm giải thích cổ điển: “Một nhóm được định nghĩa như là hai hay nhiều người có  
tương tác với một người khác nhau theo cách mỗi một người đều gây ảnh hưởng và chịu ảnh  
hưởng bời mỗi người khác” (Từ điển Xã hội học)  
* Dưới góc độ nhìn nhận của các nhà tâm lý học: nhóm được xem là chủ thể các hiện tượng tâm  
lý xã hội, ở đây các hiện tượng tâm lý xã hội hình thành, phát triển và diễn ra hết sức phức tạp.  
Trong giáo trình tâm lý học xã hội đưa ra hai khái niệm về nhóm: Nhóm lớn và nhóm nhỏ:  
Nhóm lớn là “Tập hợp đông người liên kết với nhau trong quá trình hoạt động sống, tạo ra  
những giá trị, chuẩn mực và đặc điểm tâm lý chung có khả năng điều chỉnh, định hướng và điều  
hòa tâm lý, hành vi của cá nhân”. Nhóm lớn được gắn với đặc trưng qua dấu hiệu định lượng  
(đông người và qua dấu hiệu xã hội như giai cấp, dân tộc, nghề nghiệp cùng với tính lịch sử  
khách quan của sự hình thành và tồn tại của nhóm trong quá trình phát triển xã hội.  
Nhóm nhỏ là: “Một tập hợp người nhất định có quan hệ qua lại trực tiếp với nhau thường xuyên,  
liên kết với nhau trong một hoạt động chung, tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian  
nhất định”. Nhóm nhỏ được xem là một nhóm xã hội/nhóm tâm lý ở môi trường nhóm nhỏ này  
con người hình thành nên các đặc trưng xã hội, các chuẩn mực ứng xử xã hội, các kiến thức và  
kinh nghiệm xã hội.  
-. Khái niệm nhóm xã hội  
Theo các nhà xã hội học: “Nhóm xã hội là một tập hợp của những cá nhân được gắn kết  
với nhau bởi những mục đích nhất định. Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên  
cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành viên” (Từ điển  
Xã hội học phương tây hiện đại, 1990).  
Theo tổng hợp quan điểm của các nhà tâm lý học, nhóm xã hội có ba dấu hiệu chung:  
+ Có một số lượng người nhất định  
5
+ Có một hoạt động chung, trong đó các thành viên có sự tương tác và ảnh hưởng qua lại  
lẫn nhau.  
+ Cơ sở tâm lý – xã hội của hành động nhóm là cùng chung hứng thú, nhu cầu, chung  
mục đích thống nhất hành động và nhóm có thể trở thành chủ hoạt động khi 3 yếu tố trên có sự  
thống nhất.  
Như vậy, theo cách hiểu đơn giản, Từ khái niệm nhóm, nhóm lớn, nhóm nhỏ hay nhóm xã  
hội, chúng ta có thể khẳng định công tác xã hội nhóm là nhóm nhỏ xã hội. Bởi đây là loại hình  
nhóm nhấn mạnh đến những tương tác và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về mặt tâm lý xã hội của  
các thành viên trong nhóm. Nhóm nhỏ xã hội cung cấp cho các thành viên trong nhóm môi  
trường hoạt động để các thành viên đạt được mục đích của mình và của nhóm.  
Nhóm nhỏ xã hội trong công tác xã hội nhóm là nhóm thân chủ bao gồm tập hợp từ hai cá  
nhân thân chủ, những người dễ bị tổn thương cần sự giúp đỡ chuyên nghiệp của công tác xã hội  
trở lên. Bên cạnh đó, nhóm công tác xã hội cần được xác định là nhóm nhân viên xã hội, tình  
nguyện viên, các nhà chuyên môn...thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ thân chủ.  
-Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm  
Các tác giả Toseland và Rivas (1998)đã đưa ra một định nghĩa bao quát được bản chất của  
công tác xã hội nhóm “Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ  
và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ. Hoạt động này  
hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống  
cung cấp dịch vụ”.  
*Trong Từ điển Công tác xã hội của Barker (1995), công tác xã hội nhóm được định nghĩa là:  
“Một định hướng và phương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ  
những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt  
động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục  
tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý, tình cảm mà còn là  
trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và  
làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiểu quả. Các kỹ thuật can  
thiệp đều được đưa vào quá trình công tác xã hội nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những  
trao đổi về trị liệu”.  
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị liệu tâm lý nhóm ở  
việc “phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi định hướng giá trị và làm chuyển biến  
hành vi chống lại xã hội”. Để kiểm chứng cho những khác biệt trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm  
về trị liệu tâm lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý nhóm. Từ điển Công tác xã hội (Barker,  
1991) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động tương tác đặc biệt và chính thức giữa một nhân viên  
xã hội hay các nhà chuyên môn về sức khỏe tâm thần khác với thân chủ (cá nhân, hai người, gia  
6
đình hay nhóm) ở đó mối quan hệ trị liệu được thiết lập để giúp giải quyết những biểu hiện của  
rối nhiễu tâm thần, căng thẳng tâm lý xã hội, các vấn đề về quan hệ và những khó khăn gặp phải  
trong môi trường xã hội”. Như vậy, có thể thấy sự khác biệt lớn của trị liệu tâm lý nhóm và công  
tác xã hội nhóm là ở những hoạt động mang tính chuyên sâu hơn và thường đưa các nhà tâm lý  
học hay tâm thần học sử dụng trong quá trình hỗ trợ, trị liệu thân chủ có những tổn thương sức  
khỏe tâm thần và rối nhiễu tâm lý nghiêm trọng hơn.  
Tuy nhiên, thuật ngữ “Trị liệu nhóm” (Group therapy) cũng thường được nhắc đến trong  
chuyên môn công tác xã hội. Theo Reid (1997) “Trị liệu nhóm là một chiến lược can thiệp giúp  
đỡ cá nhân có những rối nhiễu t́nh cảm và những vấn đề xã hội không điều chỉnh được bằng việc  
nhóm hai hay nhiều cá nhân lại dưới sự chỉ dẫn của nhân viên xã hội hay các nhà trị liệu chuyên  
nghiệp khác. Cá nhân được chia sẻ vấn đề của mình với các thành viên khác trong nhóm, thảo  
luận cách thức giải quyết vấn đề, trao đổi thông tin và xem xét nguồn lực, kỹ thuật giải quyết vấn  
đề và chia sẻ những trải nghiệm cảm xúc trong một môi trường được kiểm soát nhằm giúp cho  
các cá nhân vượt qua được những khó khăn”.  
Như vậy, từ các khái niệm trên cho thấy, trị liệu nhóm nhấn mạnh nhiều hơn vào cách  
thức thực hiện trị liệu, độ chuyên sâu của các hình thức trị liệu, còn công tác xã hội nhóm đề cập  
đến phương pháp tiếp cận ở mức tổng thể. Và cũng theo nhiều tài liệu khác, thuật ngữ công tác  
xã hội nhóm và trị liệu nhóm nhiều lần được sử dụng thay thế cho nhau, đặc biệt là trong các  
trung tâm, cơ sở cung cấp các dịch vụ tham vấn. Ngay cả trong quá trình phát triển của công tác  
xã hội nhóm, cũng có giai đoạn trị liệu nhóm thường được nhắc đến như là thuật ngữ thay thế.  
Mặc dù vậy, cũng đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Thị Oanh, nhiều tác giả đề cập đến điểm  
khác biệt lớn nhất của hai thuật ngữ trên chính là mức độ chuyên sâu của các kỹ thuật trị liệu hay  
của các bài trắc nghiệm hỗ trợ quá trình chẩn đoán những rối nhiễu của các thành viên. Những kỹ  
thuật hay các bài trắc nghiệm này được sử dụng nhiều trong ngành tâm lý học.  
Nói tóm lại, dù được định nghĩa trên phương diện nào thì công tác xã hội nhóm trước hết  
phải được coi là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp  
mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương  
tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động  
nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của  
các nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một  
nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có  
thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của  
nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm).  
1.2 Đặc trưng và tầm quan trọng của công tác xã hội nhóm  
1.2.1. Đặc trưng của công tác xã hội nhóm  
7
- Đối tượng tác động của phương pháp này là toàn nhóm. Khác với công tác xã hội cá nhân, công  
tác xã hội nhóm tác động đến toàn bộ các thành viên trong nhóm. Công tác xã hội nhóm đi theo  
cách tiếp cận như một tổng thể tác động không phải chỉ là phép cộng đơn thuần của từng thành  
viên. Điều này có thể được hiểu qua các hoạt động thực tiễn của công tác xã hội nhóm hướng đến  
toàn thể các thành viên trong nhóm. Nhóm và ảnh hưởng của nhóm được dùng để giải quyết vấn  
đề của các nhân và của nhóm.  
- Công cụ tác động của nhóm chính là mối quan hệ, sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm.  
Công tác xã hội nhóm nhấn mạnh vào sự tác động qua lại, tương tác giữa các thành viên trong  
nhóm để xây dựng và củng cố nhân cách của các thành viên trong nhóm. Đặc trưng này khác biệt  
với phương pháp công tác xã hội cá nhân khi công cụ tác động thay đổi cá nhân là quá trình trợ  
giúp của người nhân viên xã hội.  
- Vai trò của nhân viên xã hội trong tiến trình giúp đỡ nhóm thân chủ. Khác với cách tiếp cận trực  
tiếp của nhân viên xã hội trong phương pháp công tác xã hội cá nhân trong phương pháp này,  
nhân viên xã hội chủ yếu đóng vai trò tổ chức, điều phối, hướng dẫn, định hướng sinh hoạt  
của nhóm. Ảnh hưởng của nhân viên xã hội trong hoạt động nhóm chủ yếu mang tính gián tiếp  
thông qua việc tạo môi trường lành mạnh thúc đẩy các tương tác nhóm hướng đến sự thay đổi và  
hỗ trợ trưởng nhóm điều hành nhóm. Vai trò nhân viên xã hội giảm dần và tương đối gián tiếp để  
các thành viên trong nhóm có ảnh hưởng tích cực lên nhau. Tuy nhiên, ở những nhóm điều trị,  
khi yêu cầu trị liệu sâu hơn, cần nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn hơn thì vai trò của nhân  
viên xã hội trực tiếp hơn.  
Những đặc trưng này có thể sử dụng trong công tác xã hội nhóm, đó là những vấn đề liên quan  
đến việc giải quyết nhu cầu tương đối giống nhau của nhiều người. Ví dụ như sử dụng công tác  
xã hội nhóm cho những trẻ em lang thang dạy các em kỹ năng sống và cách tránh xa những tệ  
nạn xã hội tại thành phố nơi các em đến kiếm sống. Hầu hết các trẻ em lang thang này ở nông  
thôn do những hoàn cảnh khác nhau phải bỏ nhà tìm đến thành phố kiếm việc làm gửi tiền về hỗ  
trợ cho gia đình. Các em lúc bỏ nhà đi còn nhỏ lại đến một môi trường thành thị vốn có rất nhiều  
khó khăn và cạm bẫy, nên các em có nhu cầu bổ sung nhiều kiến thức và kỹ năng sống, đặc biệt  
là nhu cầu cần bảo vệ mình tránh xa khỏi các tệ nạn xã hội. Vì vậy, công tác xã hội nhóm là cách  
tốt nhất để hỗ trợ các em đáp ứng các nhu cầu chung về kỹ năng sống và cách bảo vệ bản thân.  
Hay những người phụ nữ bị bạo hành thì cần tạo cho họ môi trường nhóm để họ chia sẻ cảm xúc,  
nỗi buồn, giúp lấy lại nghị lực và cùng học nhau các biện pháp ứng phó thích hợp trong cách đối  
phó với người chồng gây ra bạo hành.  
Bên cạnh đó, công tác xã hội nhóm cũng có thể được sử dụng trong việc xử lý những vấn đề nảy  
sinh trong mối tương quan giữa hai hay nhiều người. Đơn cử như việc cải thiện các mối quan hệ  
giao tiếp trong các thành viên trong nhóm thân chủ tại trung tâm/các cơ sở nuôi dưỡng tập trung.  
Công tác xã hội nhóm được sử dụng đáp ứng nhu cầu chung nào đó của một số thân chủ ví dụ  
8
như đáp ứng nhu cầu giải trí, nhu cầu nâng cao nhận thức về các quyền, sinh sản vị thành  
niên...Công tác xã hội nhóm còn được sử dụng khi xuất hiện yêu cầu công việc hỗ trợ một cách  
gián tiếp thân chủ như yêu cầu vận động chính sách (biện hộ) và tổ chức các dịch vụ.  
1.2.2. Tầm quan trọng của công tác xã hội nhóm  
Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp can thiệp chính của nghề công  
tác xã hội chuyên nghiệp trên thế giới. Nhân viên xã hội hiểu được những tác động tích cực và có  
hiệu quả của tiến trình nhóm giúp cá nhân nâng cao chức năng xã hội. Công tác xã hội nhóm ra  
đời dựa trên niềm tin hoạt động nhóm là một biện pháp tích cực xây dựng tính cách và thúc đẩy  
sự phát triển của con người, đặc biệt là những con người yếu thế, có những rối nhiễu chức năng  
xã hội. Trong những con người yếu thế, có những người dễ bị tổn thương, phương pháp làm việc  
với nhóm có những tác động quan trọng đến việc hỗ trợ những thân chủ giải quyết vấn đề.  
Những hoạt động nhóm sẽ giúp từng cá nhân nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ giảm bớt  
những sự căng thẳng, lo âu và nhận ra giá trị bản thân mình từ đó giúp thân chủ nâng cao khả  
năng giải quyết vấn đề và ngăn ngừa nảy sinh ra những vấn đề xã hội nghiêm trọng khác.  
Công tác xã hội nhóm có nhiều lợi ích, có thể đưa ra bốn lợi ích lớn như sau:  
- Công tác xã hội nhóm tạo ra cảm giác được thuộc về nhóm cho các thân chủ. Đây là một nhu  
cầu cơ bản bậc 3 của con người được nhà tâm lý học Abraham H.Maslow đưa ra trong 5 bậc  
thang nhu cầu của con người. Được tham gia vào sinh hoạt nhóm, thân chủ có những trải nghiệm  
được thuộc về nhóm. Những trải nghiệm này thể hiện ở chính sự chấp nhận và được tôn trọng  
của các thành viên trong nhóm đem lại cho mỗi cá nhân có được cảm nhận mình là một phần của  
nhóm. Quan trọng hơn, quá trình trải nghiệm nhóm, thông qua các tương tác giúp thân chủ sẽ  
thấy mình cũng quan trọng và có giá trị.  
- Công tác xã hội nhóm tạo ra cơ hội để thử nghiệm thực tế. Trong nhóm các thành viên sẽ có cơ  
hội thực hành thay đổi hành vi trước khi thực hiện những hành vi đó trong các tình huống thực  
tiễn. Ðể từ ðó, thân chủ có ðýợc ý niệm những hành vi mới thay đổi này sẽ được chấp nhận ở  
ngoài nhóm như thế nào.  
- Công tác xã hội nhóm tạo ra sự hỗ trợ qua lại lẫn nhau. Trong quá trình sinh hoạt nhóm, qua  
quá trình tương tác qua lại giữa các thành viên, các thành viên tạo ra sự gắn bó với nhau và với  
nhóm. Mỗi thành viên có cơ hội được giúp và giúp đỡ người khác từ đó học cảm nhận về trách  
nhiệm với người khác và với chính mình.  
- Công tác xã hội nhóm tạo ra sức mạnh và nghị lực cho thân chủ. Trong nhiều trường hợp khi cá  
nhân thân chủ đến với nhóm anh/chị ấy có cảm giác bất lực và vô vọng đối với vấn đề của mình,  
với các hoạt động trong nhóm bày tỏ và chia sẻ những kinh nghiệm...dưới sự điều phối của nhân  
viên xã hội giúp các thành viên nhận ra những điểm mạnh và lấy lại sức mạnh và nghị lực vươn  
lên.  
9
Tóm lại, công tác xã hội nhóm có vai trò quan trọng trong quá trình hỗ trợ thân chủ yếu thế có  
những khó khăn trong xã hội. Vai trò quan trọng của công tác xã hội nhóm thể hiện ở những tác  
động về mặt tâm lý tình cảm mang lại cho các cá nhân có khó khăn trong cuộc sống như giải tỏa  
tâm tư, tình cảm, giúp họ lấy lại sự lạc quan, giá trị bản thân. Bên cạnh đó, công tác xã hội nhóm  
còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân về mặt xã hội, giúp họ tự tin trong quản lý  
cuộc sống của bản thân, của gia đình và hòa nhập hơn với cuộc sống xã hội.  
2. Mục đích của công tác xã hội nhóm  
Thông qua sinh hoạt nhóm giúp các cá nhân thỏa mãn các nhu cầu tình cảm công nhận thuộc về  
một nhóm xã hội, được quan tâm chăm sóc, được gắn bó, yêu thương…Đồng thời trong quá trình  
tương tác trong nhóm, cá nhân còn được học hỏi. Phát triển các kỹ năng và hoàn thiện nhân cách.  
Đó chính là mục đích của công tác xã hội nhóm.  
- Công tác xã hội nhóm giúp các cá nhân thay đổi thái độ, hành vi tiêu cực để tăng cường  
khả năng thích nghi.  
Theo các nhà giáo dục học, giáo dục ở mọi cấp và trong mọi lĩnh vực phải nhằm 3 mục tiêu, đó là  
sự thay đổi về:  
Nhận thức: Thu nhận thêm kiến thức mới  
Thái độ: Cảm xúc, cách nhìn, đánh giá công việc  
Kỹ năng: Tăng cường khả năng giải quyết vấn đề  
Các nhà giáo dục học hiện đại đã có nhiều nghiên cứu và thấy vai trò quan trọng của giáo dục đối  
với quá trình đi tới ba mục tiêu trên là giáo dục theo chiều ngang, nghĩa là học ở bạn. Cha ông ta  
cũng đã từng dạy: Học thày không tày học bạn. Lúc sinh thời Hồ Chủ Tịch cũng đã từng dạy  
chúng ta: Học ở trường, học ở sách vở, học ở bạn, học ở nhân dân. Chính những điều trên cho  
thấy vai trò công tác xã hội nhóm rất quan trọng. Bằng áp lực của nhóm giúp con người gọt dũa  
những hành vi, thái độ tiêu cực để hoà đồng, thích nghi với nhóm. Một người lề mề, chậm trễ vào  
một nhóm có kỷ cương nề nếp sẽ giúp anh ta bớt lề mề, chậm chạp. Một anh chàng say rượu, bê  
tha, sống giữa những người nghiêm túc sẽ buộc anh ta phải “gọt dũa” để hoà đồng với nhóm. Với  
kinh nghiệm của cha ông ta và chứng minh của các nhà giáo dục học, chúng ta có thể áp dụng  
tính tích cực của “Áp lưc nhóm” vào giáo dục để thay đổi hành vi của các đối tượng có hành vi  
tiêu cực, lệch lạc.  
Con người chỉ thay đổi hành vi tiêu cực, thay đổi nhận thức khi họ được “mắt thấy, tai nghe”. Bởi  
vậy chúng ta hãy để họ được chứng kiến, chia sẻ ngay từ những người bạn, người trong nhóm  
của họ. Chẳng hạn, khi các nhà giáo dôc tuyªn truyÒn về kế hoạch hoá của gia đình về tác dụng  
của “Vòng tránh thai”, sẽ có tác dụng hơn nếu ta để chính những người đã áp dụng phương pháp  
này tự nói lên, tự chia sẻ với những người trong nhóm. Vì được “mắt thấy, tai nghe”, được thấy  
những người bạn vẫn an toàn, nên họ sẽ tự giác làm theo. Trong giáo dục cộng đồng, muốn  
10  
thuyết phục một nhóm về một hướng phát triển nào đó, tốt nhất là đưa vấn đề đó ra cho họ thảo  
luận và đi đến kết luận hoặc đưa họ đi tham quan mô hình thực tiễn. Khi họ đã thảo luận, bàn  
bạc, thống nhất quan điểm thì họ sẽ dễ “thay đổi hành vi” để đi theo cái mới.  
Dùng áp lực nhóm giáo dục thay đổi hành vi đặc biệt có tác dụng đối với các nhóm giáo  
dục đồng đẳng của những người nghiện ma túy, gái mại dâ. Vì là những người đã trải nghiệm đã  
có quá trình vật vã, đau đớn họ dễ đồng cảm với nhau hơn.  
Họ cũng dễ dàng phát hiện các dấu hiệu tái nghiện hoặc " phá ngang" của các thành viên.  
Dùng những người đã cai nghiện thành công hoặc gái mại dâm đã hoàn lương sẽ rất hiệu quả.  
Bởi vì cùng trong hoàn cảnh như nhau, họ sẽ giúp đưa ra những biện pháp mà người chưa từng  
mắc phải chưa chắc đã hình dung được. Mặt khác chính những tấm gương của những người bạn  
đó đã khích lệ, động viên giúp các thành viên trong nhóm có quyết tâm hơn.  
Những ứng dụng, tác dụng của nhóm cần phải có sự định hướng. Cần có nhân viên công tác xã  
hội để sớm phát hiện sự “chệch hướng”, sự lôi cuốn các thành viên trong nhóm đi theo hướng  
“xấu”, hướng “tiêu cực”  
- Thông qua sinh hoạt nhóm, giúp các cá nhân tăng cường khả năng xã hội hoá, ý thức được các  
chuẩn mực đạo đức, xã hội, tăng cường khả năng hội nhập, khả năng giao tiếp, tăng lòng tin vào  
người khác và chính bản thân mình để từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội của mỗi cá nhân  
trong cộng đồng. Chúng ta không nên hiểu khái niệm: xã hội hoá theo ý nghĩa thông thường,  
nghĩa là lôi cuốn xã hội tham gia vào một hoạt động xã hội nào đó như xã hội hoá y tế, xã hội hoá  
giáo dục. Trái lại, khả năng xã hội hoá theo ý nghĩa chuyên môn ở đây là một quá trình trên cơ sở  
tương tác với gia đình hay các nhóm xã hội cơ bản khác nhau, mỗi con người sẽ nhập tâm, tuân  
thủ các quy chuẩn bằng lời hoặc không bằng lời, tuân thủ các giá trị xã hội cao để trở thành một  
công dân tốt. Cá nhân trở thành người tốt nếu biết học và làm theo điều hay lẽ phải, là nhờ khả  
năng “thích nghi”, khả năng “tự điều chỉnh” để được nhóm tiếp nhận, để được gia đình thương  
yêu, bạn bè yêu mến. Một em bé lớn lên trong một gia đình được quan tâm, thương yêu chăm sóc  
lẫn nhau sẽ là nền tảng để hình thành nhân cách tốt. Lớn lên em sẽ biết chia sẻ đồ chơi với bạn  
bè, biết nhường nhịn, quan tâm tới người khác. Đó chính là quá trình xã hội hoá, là nơi hình  
thành, hoàn thiện và phát triển nhân cách. Nhân cách con người càng lành mạnh, càng tốt khi  
kinh nghiệm tương tác trong nhóm càng trở nên tích cực và mở rộng.  
Trong Công tác xã hội nhóm với trẻ em, chúng ta thường thành lập các nhóm với mục đích vui  
chơi, giải trí, sinh hoạt văn nghệ, dã ngoại, nhóm thi đấu thể thao… Điều quan trọng ở đây không  
chỉ là nội dung sinh hoạt chuyên môn mà nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến tính chất  
của mối tương tác giữa các trẻ vì qua những biểu hiện của các cá nhân để uốn nắn những hành vi  
“lệch lạc”, định hướng thay đổi thái độ, hành vi theo chuẩn mực chung. Công tác xã hội nhóm  
cũng nhằm giáo dục, tái xã hội hoá những trẻ đã trải qua những kinh nghiệm hoặc hành vi tiêu  
cực như quậy phá, trộm cắp… Thông qua các hoạt động vui chơi giải trí với sự hỗ trợ của nhóm  
11  
nhân viên xã hội, trẻ tập tôn trọng luật chơi, tập hợp tác với nhau để tạo nên sự thành công của  
một nhóm, trẻ phải đề cao tinh thần đồng đội “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Tính ích  
kỷ, đề cao cá nhân sẽ dần được thay thế bằng tinh thần đồng đội, tinh thần và thái độ dân chủ.  
Nhân viên xã hội, thông qua sinh hoạt nhóm sẽ phát hiện những người có tính ích kỷ, cá nhân và  
sẽ sử dụng tương tác trong nhóm, dùng áp lực nhóm để gọt dũa, thay đổi những hành vi này để  
nó có thể phát triển theo chiều hướng tích cực. Nhân viên xã hội có thể giúp các em tự xây dựng,  
hình thành các quy tắc của nhóm như không nói tục, chửi thề, không đánh nhau, không gây mất trật tự ở  
nơi công cộng, giữ gìn vệ sinh… Sự thay đổi hành vi dưới tác động của tập thể sẽ dễ dàng hơn khi có sự  
tác động của nhân viên xã hội, khi nhân viên xã hội biết tác động thúc đẩy nhóm đồng thời chú ý tính “cá  
biệt” của mỗi thành viên. Sự phát triển của mỗi cá nhân hài hoà với mục đích phát triển chung của nhóm  
là yếu tố để nhóm trưởng thành, bền vững.  
Công tác xã hội nhóm tạo ảnh hưởng, kiểm soát nhóm tới hành vi cá nhân qua giám sát thái độ,  
hành vi của các thành viên trong nhóm. Kỷ luật do nhóm đặt ra, mỗi cá nhân phải tuân theo và  
rèn luyện tính kỷ luật của nhóm để được cả nhóm chấp thuận. Ngược lại, nếu cá nhân nào không  
chịu “gọt dũa” không tuân theo quy luật của nhóm sẽ bị “đào thải”  
- Công tác xã hội nhóm còn giúp các cá nhân tạo mối liên kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau:  
"Một cây làm chẳng lên non,  
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao".  
Câu ca dao xưa đã đúc kết kinh nghiệm dân gian rằng nếu các cá nhân sống “đơn thương độc mã”  
sẽ chẳng làm nên điều gì có ý nghĩa. Muốn làm nên việc lớn, con người cần phải biết liên kết lại.  
Nếu có sức mạnh đoàn kết, con người có thể “dời non lấp biển”. Mỗi con người đều có mặt mạnh  
và mặt yếu, nhưng nếu có sự hợp tác trong nhóm thì sức mạnh đó sẽ nhân lên và những mặt yếu  
sẽ được bù trừ bởi thế mạnh của người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, có nhiều công việc,  
nhiều hoạt động mà một cá nhân không thể một mình làm được như chống chọi lại kẻ thù, đối  
phó với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, hoặc đơn giản chỉ là một hoạt động thể dục thể thao. Nếu  
một người độc diễn sẽ khiến khán giả thấy “nhàm chán”. Vì vậy, thông qua sinh hoạt nhóm sẽ  
giúp cá nhân tạo nên mối liên kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh để chiến thắng  
hoàn cảnh. Điều này càng quan trọng hơn với các nhóm “yếu thế”, các nhóm trẻ “thiệt thòi”.  
Khi thực hiện hoạt động công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội cần thực hiện các hoạt  
động giúp đỡ đều hướng đến những giá trị nhân văn cao cả. Tuy nhiên, có một số giá trị cần được  
nhấn mạnh và xem là kim chỉ nam cho hoạt động hỗ trợ thân chủ. Theo Toseland và Rivas (1997)  
trình bày và phân tích 5 giá trị, đánh giá là tối quan trọng trong quá trình hỗ trợ công tác xã hội  
nhóm:  
(1) Sự tham gia và tạo lập mối quan hệ tích cực giữa những người khác không phân biệt tuổi, giới  
tính, chủng tộc và tầng lớp xã hội. Giá trị này thể hiện quan điểm nâng cao năng lực giúp đỡ lẫn  
12  
nhau của các thành viên. Thông qua mối quan hệ giữa các thành viên giúp cho thành viên phát  
triển, giúp họ hàn gắn tổn thương, đáp ứng nhu cầu giao tiếp, kết nối, và cảm nhận sự quan trọng  
không thể thiếu của nhóm và cộng đồng.  
(2) Sự hợp tác và cùng ra quyết định được đưa vào trong các nguyên tắc dân chủ. Giá trị này giúp  
cho thân chủ được tiếp thêm sức mạnh và tăng cường năng lực. Thân chủ cảm thấy hài lòng với  
bản thân và tin vào năng lực có thể thay đổi cuộc sống của họ. Đây là giá trị hết sức quan trọng  
đối với các thân chủ của công tác xã hội, vì họ vốn có những tổn thương và thường có suy nghĩ  
thiếu tích cực về bản thân.  
(3) Khuyến khích những sáng kiến của cá nhân trong nhóm. Giá trị này tạo sự tôn trọng và đánh  
giá đúng đóng góp của các thành viên sẽ làm gắn kết hơn các thành viên.  
(4) Quyền tự do tham gia, bao gồm cả việc bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc về vấn đề quan tâm với cá  
nhân thành viên hay nhóm có quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định của nhóm.  
(5) Cá biệt hóa cá nhân trong nhóm để những lo lắng của mỗi cá nhân trong nhóm được quan tâm  
giải quyết.  
Để thực hiện tốt công việc của mình, nhân viên xã hội bắt buộc phải tuân thủ tất cả những giá trị  
đạo đức quy định trong nghề nghiệp. Nhân viên xã hội đôi khi thực hiện công tác xã hội nhóm  
cần luôn luôn chú ý đến quy điều đạo đức chung. Các tác giả Corey và Corey (1997) đã cụ thể  
hóa các quy điều đạo đức trong thực hành công tác xã hội nhóm ở ba khía cạnh sau:  
+ Tinh thần thống nhất được thông báo trước: Điều này có nghĩa là các thành viên trong nhóm  
ngay từ trước khi tham gia sinh hoạt nhóm có quyền được thông báo về mục tiêu, các hoạt động  
và cả những khó khăn, thách thức có thể xảy ra trong quá trình sinh hoạt nhóm. Sự tham gia của  
các thành viên phải xuất phát trên tinh thần tự nguyện dựa trên việc cung cấp đầu đủ thông tin về  
sinh hoạt nhóm.  
+ Năng lực lãnh đạo và trình độ đào tạo: Đây là quy điều quy định nhân viên xã hội cần có năng  
lực quản lý, điều phối, lãnh đạo. Và quan trọng hơn họ phải là người được đào tạo, được trang bị  
đầy đủ kiến thức, kỹ năng tác nghiệp.  
+ Ứng xử phù hợp trong các cuộc họp nhóm: Quỳ điều này nhằm nói đến những nguyên tắc đạo  
đức khi tiến hành các cuộc họp nhóm. Trước hết là việc xem xét tiến trình lựa chọn các thành  
viên phù hợp. Tiếp đố đến việc người nhân viên hỗ trợ các thành viên trong nhóm xác định mục  
tiêu, mục đích trị liệu của nhóm. Những vấn đề liên quan đến sự an toàn cả về thể chất và tinh  
thần củ các thành viên trong nhóm. Các thành viên cần được đối xử công bằng và bình đẳng với  
nhau. Nhân viên xã hội không được lợi dụng thân chủ ở bất cứ trường hợp nào đem lại lợi ích cá  
nhân. Nhân viên xã hội cần nhận thức được khi nào cần chuyển giao một hoặc một số thân chủ  
đến nơi trị liệu phù hợp hơn. Và sự cam kết gắn bó, hỗ trợ của nhân viên xã hội đến toàn bộ tiến  
trình công tác xã hội nhóm.  
Như vậy, để thực hiện tốt công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội phải hết sức lưu ý và ghi tâm  
những giá trị đặc thù nhóm mang lại cho quá trình giải quyết vấn đề của thân chủ. Quan trọng  
13  
hơn, họ phải là người tuân thủ nghiêm ngặt quy điều đạo đức xuất phát từ việc đáp ứng nguyên  
tắc đem lại lợi ích tốt nhất cho thân chủ.  
BÀI 2: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XàHỘI NHÓM  
Mã bài: MĐ20-B02  
Mục tiêu của bài  
- Kiến thức :  
Trình bày được việc thành lập, các giai đoạn phát triển của một nhóm cùng  
những hiện tượng tâm lý thường xảy ra trong quá trình nhóm phát triển và vận  
động.  
- Kỹ năng: Phát hiện và xử lý những hiện tượng nảy sinh trong nhóm  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện sự phối hợp, tin cậy để thúc đẩy  
sự phát triển của nhóm, tôn trọng, công bằng trong hoạt động nhóm.  
Nội dung của bài:  
1. Thành lập nhóm  
1.1. Các loại nhóm và các dạng nhóm trong công tác xã hội  
1.1.1. Các loại nhóm  
- Nhóm tự nhiên  
Mỗi con người được sinh ra, được nuôi dưỡng để lớn lên, học được điều hay lẽ phải là  
nhờ tương tác với cha, mẹ, anh chị em, ông bà… Đó là gia đình, nhóm cơ bản nhất mà không có  
nó thì trẻ không thành người được.  
Quá trình tương tác giữa con người với con người là quá trình giúp con người hình thành  
và hoàn thiện nhân cách.  
Người ta gọi gia đình, nhóm bạn là nhóm cơ bản, đầu tiên có ảnh hưởng quan trọng  
mang tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân.  
Quá trình xã hội hoá diễn ra đầu tiên ở môi trường xã hội nhỏ trong gia đình (là nơi hình  
thành gốc nhân cách của đứa trẻ) dần dần mở rộng ra cả môi trường xã hội. Con người càng  
tương tác với nhiều người, nhiều nhóm xã hội, tiếp xúc với nhiều thông tin phong phú, đa dạng,  
nhân cách con người qua đó càng được phát triển và hoàn thiện.  
Thực chất, suốt cuộc đời mỗi con người luôn tìm cách thoả mãn các nhu cầu từ vật chất  
đến tinh thần, thông qua các nhóm như gia đình, nhóm bạn thân ở trường học, cơ quan, khu phố,  
14  
 
thân tộc cùng với gia đình, nhóm bạn đồng niên, đồng môn… Đây là nhóm tự nhiên có ảnh  
hưởng tác động mang tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách của con người.  
- Nhóm được thành lập  
Nhóm được thành lập là nhóm được tạo bởi sự quy định bằng văn bản hành chính, có tổ  
chức như tổ học tập, lớp học chi đoàn, phòng ban chuyên môn, tổ lao động sản xuất, nhóm bạn  
giúp bạn…  
Trong số này có những nhóm đã có sẵn mà chúng ta được chỉ định gia nhập vào như  
nhóm tín dụng tiết kiệm hoặc các câu lạc bộ. Tuy nhiên nhân viên xã hội và các đối tượng có thể  
cùng nhau thành lập nhóm như nhóm bạn giúp bạn hay nhóm quỹ tín dụng phụ nữ…  
Thông qua các nhóm này, con người thoả mãn các nhu cầu cá nhân bằng các hoạt động  
học tập, lao động sản xuất, hoạt động văn hoá…  
.1.1.2. Các dạng nhóm công tác xã hội  
Trong cuộc sống, con người tham gia vào rất nhiều nhóm khác nhau. Trong xã hội chúng ta cũng  
thấy có rất nhiều loại nhóm khác nhau. Người ta có thể chia ra các dạng nhóm Công tác xã hội  
như sau:  
- Nhóm hỗ trợ  
Là loại hình hoạt động nhóm đặt trọng tâm vào việc xây dựng môi trường hỗ trợ, tương hỗ lẫn  
nhau giữa các thành viên trong nhóm.  
+ Đây là loại hình nhóm được đánh giá là đem lại thành công cho quá trình giải quyết những vấn  
đề của nhóm thân chủ, đặc biệt là để giải quyết những vấn đề liên quan đến giải tỏa tâm tư tình  
cảm, hỗ trợ phát triển.  
+ Nhóm hỗ trợ là nhóm sử dụng các chiến lược can thiệp hỗ trợ nhằm giúp các thành viên đối  
phó được với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống và để nâng cao khả năng ứng phó của thân  
chủ. Vì vậy, những thân chủ này sau khi tham gia nhóm có thể điều chỉnh một cách có hiệu quả  
với các sự kiện căng thẳng có thể gặp phải trong tương lai.  
Ví dụ như nhóm các trẻ em trong gia đình ly hôn gặp gỡ sinh hoạt để thảo luận về những ảnh  
hưởng của sự ly hôn đến cuộc sống của các em. Hay nhóm những người nhiễm HIV/AIDS sinh  
hoạt hỗ trợ nhau vượt qua những kỳ thị của người bình thường để tiếp tục sống và sống có ích.  
+Hình thức sinh hoạt nhóm chủ yếu là giúp các thành viên chia sẻ, cảm thông và trao đổi những  
kinh nghiệm ứng phó với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống. Thông thường các hoạt động  
của nhóm là nói về những sự kiện gây căng thẳng, chia sẻ những cảm xúc, trao đổi những cố  
gắng ứng phó đã giúp họ vượt qua sự sợ hãi, cô đơn hay bị tách ra khỏi cuộc sống. Vai trò của  
nhân viên xã hội là điều phối để nhóm chia sẻ những hy vọng và có động lực để hình thành kỹ  
năng ứng phó.  
15  
- Nhóm giáo dục  
Nhóm giáo dục là loại hình nhóm áp dụng trong công tác xã hội với mục tiêu cung cấp những  
thông tin, nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng về những chủ đề liên quan đến  
những vấn đề của thân chủ.  
+ Nhóm giáo dục có thể được sử dụng ở nhiều môi trường khác nhau như trong trung tâm bảo  
trợ, cộng đồng, trường học, bệnh viện....  
Những loại hình nhóm giáo dục có thể lấy ví dụ như nhóm giáo dục về kỹ năng sống; nhóm vị  
thành niên với sinh hoạt về sức khỏe sinh sản vị thành niên; hay nhóm giáo dục về kỹ năng làm  
cha, mẹ cho các ông bố bà mẹ có khó khăn trong việc nuôi dạy con cái trong lứa tuổi vị thành  
niên, nhóm cung cấp thông tin và cách hỗ trợ trẻ em bị tự kỷ cho các bà mẹ có con bị tự kỷ...  
Nói tóm lại, tất cả các nhóm giáo dục đều nhằm tới mục tiêu tăng cường kiến thức và kỹ năng cho  
các thành viên. Trong quá trình sinh hoạt nhóm, nhóm có thể mời các chuyên gia chuyên sâu đến  
trình bày và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm. Nhóm giáo dục đánh giá cao sự trao đổi thảo luận  
chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm xã hội giữa các thành viên trong nhóm.  
- Nhóm giải trí  
Nhóm giải trí là nhóm quy tụ những người có động cơ và mục đích sở thích giống nhau. Hoạt  
động của nhóm tập trung vào mục đích vui chơi , giải trí.  
+ Hoạt động của nhóm nhằm cung cấp những hoạt động vui chơi, giải trí có mục đích cho các  
thành viên. Mục tiêu của loại hình nhóm này là để giúp các thành viên trong nhóm đáp ứng được  
các nhu cầu cá nhân.  
+ Nhóm giải trí là loại nhóm rất hữu hiệu cho quá trình làm việc với nhóm trẻ em, trẻ vị thành  
niên và những người già. Vì các hoạt động vui chơi giải trí đem lại cho các thành viên sự thoải  
mái nên nhóm có thể lôi kéo được sự tham gia của các thành viên khó tính, hay quậy phá...  
Thông qua các hoạt động vui chơi giải trí các thành viên trong nhóm học được các giá trị của  
cộng đồng và các loại hình hành vi được chấp nhận, phát triển các kỹ năng giao tiếp giữa các cá  
nhân và có cảm giác được thuộc về nhóm. Đồng thời nhóm thu hút các thành viên vào các hoạt  
động bổ ích, hạn chế nảy sinh các hành vi tiêu cực do “nhàn cư vi bất thiện”. Các hoạt động giải  
trí rất phong phú đa dạng: Văn nghệ, bóng đá, sinh hoạt hè, cắm trại, du lịch…Là cơ hội để mọi  
người thể hiện tài năng, giao lưu học hỏi làm phong phú đời sống tinh thần, rất cần cho cuộc  
sống.  
- Nhóm trị liệu  
Nhóm trị liệu là loại hình nhóm có các hoạt động giúp đỡ các thành viên thay đổi hành vi, vượt  
qua được những vấn đề gây tổn thương lớn đến bản thân thân chủ hoặc phục hồi sau những sang  
chấn về tâm lý, xã hội và tình cảm.  
16  
+ Nhóm trị liệu cũng giống như nhóm hỗ trợ nhấn mạnh đến yếu tố hỗ trợ các thành viên trong  
nhóm, tuy nhiên nhóm khác với nhóm hỗ trợ là tập trung nhiều vào việc trị liệu và phục hồi.  
Nếu vấn đề của nhóm không quá lớn thì trị liệu nhóm sẽ đạt hiệu quả nhanh vì những người đồng  
cảnh ngộ sẽ dễ cảm thông và hỗ trợ lẫn nhau.  
+ Nhóm trị liệu nhằm giúp các cá nhân chia sẻ cảm xúc, tình cảm với các thành viên khác, từ đó  
hiểu rõ vấn đề của mình và có chiến lược giải quyết.  
+ Công tác trị liệu nhóm thường dành cho những người được đào tạo chuyên môn. Họ được trang  
bị kiến thức về tâm lý, hành vi con người và sử dụng các kỹ thuật năng động nhóm, tư vấn nhóm  
để giúp đối tượng giải quyết những vấn đề của các thành viên trong nhóm.  
- Nhóm tự giúp  
Nhóm tự giúp là nhóm có tính chất tự nguyện với mục đích hỗ trợ lẫn nhau. Nhóm này thường  
được thành lập với những người có cùng cảnh ngộ, tập trung lại để giúp đỡ lẫn nhau, cùng đáp  
ứng những nhu cầu hay vượt qua những khó khăn, vươn lên hòa nhập cộng đồng.  
+ Việc giúp đỡ của những người cùng cảnh ngộ, cùng hoàn cảnh trong nhóm có giá trị  
như là một phần thưởng tâm lý, niềm an ủi, động viên họ. Qua việc giúp người khác, họ cảm  
nhận về hoàn cảnh của mình, ít bi quan hơn, nhìn nhận cuộc sống tích cực hơn, có giá trị hơn (ví  
dụ nhóm người khuyết tật, nhóm phụ nữ nghèo, nhóm phụ nữ cô đơn…)  
+ Người điều hành nhóm tự giúp thường là thành viên của nhóm. Nhân viên xã hội tạo điều kiện  
để họ tập hợp và hoạt động (hỗ trợ kỹ thuật).  
1.2. Trình tự thành lập nhóm  
- Quan sát để thành lập:  
Nhân viên xã hội cần nhập cuộc để tìm hiểu nhóm xem ai từng chơi, từng liên kết với ai, ai thân  
với ai, ai cùng quan điểm với ai để định hướng thành lập nhóm hướng tới mục tiêu đã định.  
- Lựa chọn hoặc thành lập nhóm:  
Dựa vào thực tế để lựa chọn ngay nhóm nếu nhóm đã có sẵn. Nếu chưa co nhóm thì thành lập  
nhóm. Thành lập dựa vào việc quan sát và phân loại đối tượng  
- Phân nhiệm vụ:  
Dựa vào tính chất công việc và năng lực cá nhân để phân nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.  
2.Quan sát, nhận diện các vấn đề của nhóm  
2.1. Một số hiện tượng tâm lý nhóm trong công tác xã hội  
- Mục đích cá nhân và mục đích nhóm  
17  
Mục đích là đích cuối cùng mà cá nhân hay nhóm thực hiện các hoạt động để đạt tới nó. Nó có  
thể là một ý tưởng hay một điều đã đîc cân nh¾c đề ra  
Tất cả các nhóm đều có mục đích hoạt động riêng của nhóm đó và mọi thành viên tham gia vào  
nhóm cũng có mục đích riêng của họ.  
+ Mục đích của nhóm là do các thành viên thống nhất đề ra cho cả nhóm. Còn mục đích cá nhân  
là đích do mỗi thành viên của nhóm đề ra cho bản thân họ  
+ Mục đích của toàn nhóm có thể là dài hạn hoặc ngắn hạn. Các mục đích ngắn hạn (mục tiêu cụ  
thể) sẽ là các bước, các điểm đạt được để tiến tới, đạt được các mục đích dài hạn (mục tiêu tổng  
quát)  
+ Việc bàn bạc thống nhất đưa ra mục đích cho nhóm là rất quan trọng và cần thiết. Vì nó định  
hướng các hoạt động của nhóm đi đúng hướng. Mục đích là kim chỉ nam cho hoạt động của cả  
nhóm và cá nhân trong nhóm.  
+ Hiệu quả hoạt động của nhóm được đo lường bằng các mục tiêu cụ thể.  
Sự bất đồng quan điểm của các thành viên thường được giải quyết dựa trên quan điểm nào phù  
hợp với mục tiêu chung của toàn nhóm (vì lợi ích chung).  
Như vậy, mục tiêu nhóm tạo ra động lực thúc đẩy sự hợp tác của các thành viên để đi đến đích  
nhất định.  
Để huy động sự tham gia tích cực của các thành viên trong hoạt động của nhóm, điều cần thiết là  
phải huy động mọi thành viên vào quá trình xây dựng, xác định mục tiêu hoạt động chung của  
nhóm. Khi các nhóm viên chấp nhận sự hợp tác và mục tiêu do họ xây dựng lên, họ sẽ tích cực,  
huy động khả năng và sức lực để đạt được mục tiêu đã đề ra.  
Việc thu hút các thành viên tham gia xây dựng mục tiêu của nhóm sẽ giúp họ:  
+ Có cơ hội để đồng hoá mục tiêu cá nhân với mục tiêu của cả nhóm  
+ Nhận thức về các cách thức và tầm quan trọng của việc thực hiện các mục tiêu đã được lựa  
chọn  
+ Có trách nhiệm trong việc phấn đấu đạt được mục tiêu của cả nhóm  
Mục tiêu của cả nhóm và mục tiêu của mỗi cá nhân cùng gắn bó, hài hoà, càng tạo ra sự đồng  
lòng, dốc sức thực hiện.  
Mục tiêu cá nhân có thể trùng với mục tiêu của nhóm nhưng cũng có thể khác mục tiêu chung.  
Nếu mục tiêu cá nhân càng trùng khớp với mục tiêu của nhóm thì cá nhân dễ có xu hướng nhất  
trí và hoạt động tích cực để đi đến mục tiêu chung.  
18  
Nếu mục tiêu cá nhân khác xa với mục tiêu chung của nhóm mà không thể có sự bàn bạc, thương  
lượng được thì sẽ dẫn đến tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” và hoạt động của nhóm sẽ  
kém hiệu quả. Sự khác biệt càng nhiều thì nguy cơ tan rã càng lớn.  
- . Xung đột nhóm  
Va chạm và xung đột là hiện tượng xuất hiện trong nhóm, xuất phát từ mâu thuẫn, bất đồng ý  
kiến giữa các cá nhân về nhận thức, tình cảm, tính cách, quyền lợi vật chất.  
Va chạm, xung đột là quá trình có tính khách quan trong sự phát triển của nhóm. Điều cần quan  
tâm là những xung đột đó thể hiện ở mức độ nào và ảnh hưởng đến hoạt động nhóm ra sao. Cũng  
không nên xem xung đột như một sự tranh chấp mà xem nó như là biểu hiện của sự khác biệt về  
ý kiến và lợi ích.  
* Nguyên nhân của xung đột: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xung đột nhóm. Có thể kể ra  
một số nguyên nhân chính sau:  
+ Xung đột cá nhân: nguồn gốc của sự xung đột này có thể là do sự bất đồng về quan điểm, cá  
tính giữa các cá nhân trong nhóm. Mỗi cá nhân có một quan điểm, suy nghĩ riêng của mình.  
Chính điều này đã dẫn đến sự căng thẳng trong nhóm  
+ Xung đột do ràng buộc: Hai thành viên A và B tạo nên nhóm nhỏ trong một nhóm lớn. Những  
khó khăn của nhóm lớn này dẫn đến xung đột giữa A và B. Ví dụ trong gia đình, những khó khăn  
trong đời sống của bố mẹ chồng đã dẫn tới xung đột của cặp vợ chồng trẻ..  
+ Xung đột do các nguyên nhân từ xã hội: Các nguyên nhân như kinh tế, văn hoá, tôn giáo có thể  
dẫn tới sự khác biệt, dẫn tới xung đột và căng thẳng trong nhóm.  
Sự hình thành và phát triển xung đột: Bắt đầu từ sự khác biệt dẫn đến tranh luận. Nếu không giải  
quyết được sẽ dẫn đến bất đồng, mâu thuẫn, phạm vi tranh cãi mở rộng, tính chất phức tạp hơn,  
sâu hơn tạo ra hè ngăn cách và đi đến mâu thuẫn xung đột công khai. Hai bên không thống nhất,  
không chấp nhận nhau, thậm chí đối kháng nhau. Nếu không sớm phát hiện, không sớm giải toả  
sẽ dẫn đến tan rã nhóm.  
* Ý nghĩa của va chạm xung đột  
Vai trò của xung đột đối với nhóm được thể hiện ở hai khía cạnh:  
- Thứ nhất xung đột có vai trò động lực, thúc đẩy sự phát triển của nhóm. Nhiều người coi xung  
đột như ma sát - ma sát nhiều khi cũng có tác dụng. Ví dụ: ma sát của bánh xe giúp cho xe không  
bị trơn trượt. Sự bàn bạc, cọ xát về quan điểm, chính kiến làm con người hiểu nhau hơn. Trong  
một số chừng mực nhất định, xung đột làm cho nhóm phát triển tốt hơn. Qua những xung đột,  
giúp giải toả tinh thần, mọi người hiểu nhau hơn, thông cảm với nhau hơn, từ đó có sự hợp tác,  
gắn bó chặt chẽ với nhau.  
19  
- Thứ hai: Xung đột theo chiều hướng tiêu cực cho nhóm, cản trở sự phát triển của nhóm. Đối với  
những nhóm (đặc biệt là nhóm chính thức), xung đột liên miên, cao độ đã làm cho nội bộ của  
nhóm phân hoá, hoạt động của nhóm bị tê liệt dẫn tới lợi ích của cá nhân và nhóm không được  
bảo đảm: ở những nhóm này, bầu không khí căng thẳng, các thành viên không hợp tác và dẫn đến  
nhóm lỏng lẻo, tan rã.  
Như vậy, ở một mức độ nhất định và ở những trường hợp nhất định, xung đột đóng vài trò tích  
cực đối với nhóm, còn khi xung đột ở mức cao, diễn ra liên tục thì xung đột trở thành trở ngại  
cho sự phát triển của nhóm  
* Giải quyết mâu thuẫn và xung đột nhóm  
Mâu thuẫn xung đột là quá trình có tính khách quan trong sự phát triển của nhóm: Phép biện  
chứng duy vật của triết học Mác – Lênin đã chỉ rõ: mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật  
và hiện tương, trong suốt quá trình phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng. Không có sự vật, hiện  
tượng nào không có mâu thuẫn (Triết học Mác – Lênin – NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1990  
trg 97)  
Quan niệm đúng đắn về vấn đề mâu thuẫn trong tập thể (hay nhóm) là quan niệm mâu thuẫn như  
một sự khác biệt. Sự khác biệt ở đây là về quan điểm, nhận thức, lợi ích, kể cả những phương  
thức làm việc hay sở thích, lối sống….  
Trong hoạt động nhóm, sự cọ sát về ý kiến, quan điểm sẽ thu được ý kiến hợp lý hơn, đúng đắn  
hơn. Các mâu thuẫn này được xem là mâu thuẫn có tính xây dựng. Sẽ là không tốt khi nhóm bàn  
bạc một nhiệm vụ, một chương trình hành động mà tất cả đều im lặng, không có ý kiến nào tranh  
luận, cọ sát. Song mâu thuẫn có thể trở thành trở ngại cho hoạt động chung của nhóm, nếu nó  
phát triển ở mức độ cao và xảy ra thường xuyên. Hoạt động của nhóm sẽ không thực hiện được  
nếu ở đó luôn tồn tại các phe đối lập, luôn đấu tranh với nhau vì lợi ích riêng. Những mâu thuẫn  
đó là mâu thuẫn tiêu cực, làm nhóm hoạt động kém hiệu quả đôi khi sẽ dẫn đến tan rã.  
Trong quá trình hoạt động của nhóm chúng ta cần biết khi nào sử dụng mâu thuẫn và khi nào cần  
loại trừ nó để đảm bảo hoạt động chung của nhóm có hiệu quả.  
*Phương pháp giải quyết các xung đột - các mâu thuẫn trong nhóm. Đối với những mâu thuẫn  
gây cản trở cho sự phát triển của nhóm, người điều hành (lãnh đạo) nhóm cần tìm ra phương  
pháp giải quyết kịp thời và thích hợp, có thể giải quyết mâu thuẫn theo các cách sau:  
- Thứ nhất: Phương pháp áp chế hay cách tiếp cận “thắng thua”. Đây là phương pháp giành thắng  
lợi cho một phía. Phái đa số, dùng sức mạnh của mình để áp đảo phái thiểu số. Một số nhóm hoạt  
động không hiệu quả thường có khuynh hướng xử lý tranh cãi, va chạm theo hướng “bên thắng –  
bên thua”, người được, người mất. Đây là phương pháp dễ dàng nhất nhưng ít làm các thành viên  
nhóm thoả mãn, không “tâm phục, khẩu phục”.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 50 trang baolam 21540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội nhóm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_nhom.docx