Giá trị của siêu âm trong phân loại nhân giảm âm tuyến giáp

VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
Original Article  
The Value of Ultrasound in Classification  
of Thyroid Hypoechoic Nodules  
Doan Van Ngoc1,2,*, Hoang Thi Huyen Trang1, Tran Cong Hoan2,  
Nguyen Van Sang2, Nguyen Minh Chau2  
1VNU University of Medicine and Pharmacy, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
2E Hospital, 87-89 Tran Cung, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 11 May 2021  
Revised 2 June 2021; Accepted 9 June 2021  
Abstract: This study evaluates the value of ultrasound in classifying hypoechoic nodules of thyroid  
of 70 patients at the Department of Diagnostic Imaging and Oncology of E Hospital from January  
2019 to December 2019. The study results show that the patients’ average age was 55.29 ± 13.7; the  
female/male ratio was approximately 6.5/1; patients with a history of radiotherapy to the neck area  
and chronic thyroid disease had a very high risk of developing cancer; homogeneous hypoechoic  
nodules had a higher risk of malignancy than the heterogeneous; the sign of height ≥ width had the  
diagnostic value of thyroid malignant nodule with Se = 57.8%, Sp = 89.6%, PPV = 88%, NPV =  
89.6%, Acc = 41.4%, OR = 10.03; the sign of border irregularity had the diagnostic value of thyroid  
malignant nodule with Se = 77.8%, Sp = 80%, PPV = 87.5%, NPV = 66.7%, Acc = 57.1%, OR =  
14; microcalcification has a diagnostic value of thyroid malignant nodule with Se = 71.1%, Sp =  
56%, PPV = 17.4%, NPV = 51.9%, Acc = 57.1%, OR = 3.1. TIRADS 4B, 5 actually had a higher  
risk of malignancy than TIRADS 4A. The study concludes that ultrasound has a great value in  
orienting malignant lesions of hypoechonic thyroid nodules.  
Keywords: thyroid nodule, thyroid hypoechoic nodule, TIRADS. *.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]m  
96  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
97  
Giá trị của siêu âm trong phân loại nhân giảm âm tuyến giáp  
Doãn Văn Ngọc1,2,*, Hoàng Thị Huyền Trang1, Trần Công Hoan2,  
Nguyễn Văn Sang2, Nguyễn Minh Châu2  
1Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội,144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2Bệnh viện E, 87-89 Trần Cung, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 11 tháng 5 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 2 tháng 6 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 9 tháng 6 năm 2021  
Tóm tắt: Đánh giá giá trị của siêu âm trong phân loại nhân giảm âm tuyến giáp với 70 bệnh nhân  
tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và Ung bướu bệnh viện E từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 12 năm  
2019. Kết quả: độ tuổi trung bình 55,29± 13,7, nữ hay gặp hơn nam, tỷ lệ nữ / nam xấp xỉ 6,5/1,  
bệnh nhân có tiền sử xạ trị vùng cổ và bệnh tuyến giáp mạn tính có nguy cơ mắc ung thư rất cao.  
Nhân giảm âm đồng nhất có nguy cơ ác tính cao hơn giảm âm không đồng nhất. Dấu hiệu cao ≥ rộng  
có giá trị chẩn đoán ác tính với Se = 57,8%, Sp = 89,6%, PPV = 88%, NPV = 89,6%, Acc = 41,4%,  
OR = 10,03. Dấu hiệu bờ viền không đều có giá trị chẩn đoán ác tính với Se = 77,8%, Sp = 80%, PPV  
= 87,5%, NPV = 66,7%, Acc = 57,1%, OR = 14. Vi vôi hóa có giá trị chẩn đoán ác tính với Se =  
71,1%, Sp = 56%, PPV = 17,4%, NPV = 51,9%, Acc = 57,1%, OR = 3,1. Phân loại TIRADS 4B, 5  
thực sự có nguy cơ ác tính cao hơn so với TIRADS 4A. Kết luận: siêu âm rất có giá trị trong định  
hướng tổn thương ác tính nhân giảm âm tuyến giáp.  
Từ khóa: Nhân giáp; nhân giảm âm tuyến giáp; TIRADS.  
1. Mở đầu*  
Ung thư tuyến giáp chiếm 3,1% trong các  
tuyến giáp lành tính và 5% với bướu cổ. Do vậy  
việc chẩn đoán sớm và theo dõi nhân tuyến giáp  
rất quan trọng.  
bệnh lý ung thư trên toàn thế giới, với 567.233  
ca mới mắc hằng năm đứng thứ 11 trong tổng số  
các ca ung thư ở cả hai giới, đứng thứ 5 trong số  
các loại ung thư ở nữ giới và thứ 15 trong các  
loại ung thư ở nam giới [1]. Tỷ lệ mắc ung thư  
tuyến giáp đã gia tăng trong vài thập kỷ qua tại  
một số quốc gia trong đó có Việt Nam. Tại Hà  
Nội tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp ở nam là  
0,8/100.000 dân và ở nữ là 3,5/100.000 dân. Tại  
thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc là 1,5/100.000  
dân đối với nam và 2,8/100.000 dân đối với nữ.  
Điều đáng quan tâm là các nhân tuyến giáp lành  
tính có liên quan đến nguy cơ mắc ung thư tuyến  
giáp, nguy cơ tương đối là 30% với bướu nhân  
Siêu âm là phương pháp thăm khám không  
xâm lấn, được sử dụng rộng rãi, ít tốn kém và có  
khả năng phát hiện các tổn thương khu trú kích  
thước nhỏ ở tuyến giáp mà thăm khám lâm sàng  
khó phát hiện. Siêu âm có khả năng đánh giá các  
dấu hiệu gợi ý nhân giáp ác tính như giảm âm,  
tăng sinh mạch, vi vôi hóa, bờ viền đều hay  
không đều [2]. Hiện nay có một số nghiên cứu  
về giá trị của phương pháp siêu âm cũng như ứng  
dụng siêu âm trong phân loại và theo dõi các  
nhân tuyến giáp. Tuy nhiên, các nghiên cứu về  
siêu âm tuyến giáp chưa tập trung cụ thể vào giá  
trị của dấu hiệu siêu âm nhân giảm âm đối với  
bệnh lý bướu nhân tuyến giáp, chúng tôi thực  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
98  
hiện đề tài này với mục tiêu: đánh giá giá trị  
của siêu âm trong phân loại nhân giảm âm  
tuyến giáp theo TIRADS G. Russ (2013).  
60  
55,6  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
31,1  
28  
2,2  
0
11,1 12  
i) Tiêu chuẩn lựa chọn  
- Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ  
nhân tuyến giáp;  
- Được tiến hành siêu âm tuyến giáp tại khoa  
Chẩn đoán hình ảnh, có kết quả hình ảnh nhân  
giảm âm tuyến giáp;  
< 25  
25 - 50  
Ác tính  
50 - 70  
> 70  
Lành tính  
Biểu đồ 1. Phân bố tuổi nhóm lành tính và ác tính.  
- Được phẫu thuật, có kết quả giải phẫu bệnh  
sau mổ;  
3.1.2. Giới  
- Có hồ sơ bệnh án đầy đủ;  
ii) Tiêu chuẩn loại trừ  
Không đủ tiêu chuẩn lựa chọn.  
80  
LÀNH TÍNH  
20  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
86,7  
ÁC TÍNH  
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.  
- Cỡ mẫu: chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả  
các bệnh nhân có kết quả siêu âm nhân giảm âm  
tuyến giáp có đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn, không  
có tiêu chuẩn loại trừ tại Khoa Ung bướu Bệnh  
viện E từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019.  
13,3  
0
20  
40  
60  
80  
100  
Nữ Nam  
Biểu đồ 2. Phân bố giới tính của nhóm lành tính  
2.3. Xử lý số liệu  
và ác tính.  
Số liệu được mã hóa, nhập và xử lý bằng  
phần mềm SPSS 22.0  
Nhận xét: 86,7% ung thư tuyến giáp trong  
nhóm nghiên cứu là nữ, tỷ lệ nữ/nam 6,51/1;  
khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1.3. Tiền sử  
Nghiên cứu 70 bệnh nhân trong đó 45 có kết  
quả GPB ung thư tuyến giáp (64,3%) và 25 có  
kết quả GPB bướu giáp lành (35,7%).  
Bảng 1. Mối tương quan giữa tiền sử với kết quả giải  
phẫu bệnh  
Bệnh TG  
mạn tính  
Xạ trị  
Khỏe mạnh  
Tiền sử  
GPB  
3.1. Đặc điểm chung  
n
%
n
3
%
n
%
3.1.1. Tuổi  
Ác tính  
7
46,7  
100 35  
17  
100 52  
67,3  
Nhận xét: tuổi trung bình 55,84 ± 12,64; cả  
nhóm ác tính và lành tính tỷ lệ mắc cao nhất đều  
ở độ tuổi từ 50 đến 70 (Biểu đồ 1).  
Lành  
tính  
8
53,3  
100  
0
3
0
32,7  
100  
Tổng  
15  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
99  
Nhận xét: 67,3% BN có kết quả GPB ác tính có  
tiền sử khỏe mạnh, tỉ lệ này ở BN lành tính 32,7%,  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê p > 0,05.  
38,6%  
3.2. Giá trị của siêu âm trong phân loại nhân  
giảm âm tuyến giáp  
32,9%  
3.2.1. Đặc điểm hình ảnh nhân giảm âm  
tuyến giáp  
21,4%  
Bảng 2. Đặc điểm cấu trúc âm  
Giảm âm không  
7,1%  
Giảm âm đều  
Đặc điểm  
GPB  
đều  
n
%
n
3
%
20  
Thùy phải Thùy trái  
Eo giáp  
Cả 2 thùy  
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
42  
13  
55  
76,4  
23,6  
100  
12  
15  
80  
100  
Biểu đồ 3. Phân bố vị trí nhân giáp  
Nhận xét: nhân ở cả 2 thùy giáp chiếm tỷ lệ  
cao nhất 38,6%, thấp nhất tại eo giáp 7,1%.  
Nhận xét: 76,4% trường hợp nhân giảm âm  
đều là ác tính, 80% nhân giảm âm không đều là  
lành tính, khác biệt có ý nghĩa thống kê với  
p < 0,05.  
Bảng 3. Số lượng nhân  
Đơn nhân  
Đa nhân  
Số nhân  
GPB  
n
%
n
%
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
29  
10  
39  
74,4  
25,6  
100  
16  
15  
31  
51,6  
48,4  
100  
Nhận xét: 74,4% trường hợp đơn nhân là ác  
tính, 51,6% trường hợp đa nhân là ác tính, khác  
biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.  
Hình 1. Hình ảnh nhân giảm âm thùy giáp phải xâm  
lấn cân cơ, kết quả giải phẫu bệnh ung thư tuyến  
giáp thể nhú (Cù Tiến T. 69t, mã bệnh án: 1925081).  
3.2.2. Giá trị của siêu âm trong phân loại  
nhân giảm âm tuyến giáp  
Bảng 4. Hình dạng nhân  
Cao ≥ rộng  
Rộng > cao  
Hình dạng  
GPB  
n
26  
3
%
n
%
45  
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
89,7  
10,3  
100  
19  
22  
41  
55  
29  
100  
Nhận xét: 89,7% nhóm cao ≥ rộng ác tính,  
55% nhóm rộng > cao lành tính, khác biệt có ý  
nghĩa thống kê p < 0,05.  
Hình 2. Hình ảnh nhân giảm âm không đồng nhất,  
kết quả giải phẫu bệnh lành tính (Đỗ Thị D. 72t, mã  
bệnh án: 1925352).  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
100  
Hình 3. Hình ảnh nhân giảm âm thùy giáp phải có chiều rộng > cao, giải phẫu bệnh lành tính  
(Trần Thị C. 61t, mã bệnh án 1926157).  
Hình 3. Hình ảnh nhân giảm âm thùy giáp trái có bờ viền không đều, kết quả giải phẫu bệnh ác tính  
(Cao Thị Q. 54t, mã bệnh án 1924348).  
Bảng 5. Giá trị của siêu âm trong đánh giá hình dạng  
cao > rộng của tổn thương  
Bảng 7. Giá trị của siêu âm trong đánh giá bờ viền  
tổn thương  
GPB  
Siêu âm  
GPB  
Lành  
tính  
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
Ác tính  
Tổng  
Siêu âm  
Cao > rộng  
Rộng > cao  
Tổng  
26  
19  
45  
3
22  
25  
29  
41  
70  
Đều  
Không đều  
Tổng  
35  
10  
45  
5
20  
25  
40  
30  
70`  
Nhận xét: giá trị chẩn đoán: Se= 77,8%;  
Sp = 80%; PPV= 87,5%; NPV = 66,7% ;  
Acc=57,1%; OR= 14.  
Nhận xét: giá trị chẩn đoán: Se = 57,8%;  
Sp = 88%; PPV = 89,6%; NPV = 53,6%;  
Acc = 41,4%; OR = 10,03.  
Bảng 8. Đặc điểm vôi hóa  
Bảng 6. Đặc điểm bờ viền và giải phẫu bệnh  
Vôi hóa  
lớn  
Vi vôi hóa  
Không  
Vôi hóa  
GPB  
Đều  
Không đều  
Bờ viền  
GPB  
n
%
n
35  
5
%
n
%
n
2
0
2
%
100  
0
n
%
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
10  
20  
30  
33,3  
66,7  
100  
87,5  
12,5  
100  
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
30 73,2  
11 26,8  
13 48,9  
14 59,1  
27 100  
40  
41  
100  
100  
Nhận xét: 87,5% bờ viền không đều là ác  
tính, 66,7% bờ viền đều là lành tính, khác biệt có  
ý nghĩa thống kê p < 0,05.  
Nhận xét: 73,2% nhân có vi vôi hóa là ác  
tính, 59,1% không vi vôi hóa là lành tính, khác  
biệt không có ý nghĩa thống kê p > 0,05.  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
101  
Bảng 9. Giá trị của siêu âm trong đánh giá vi vôi hóa  
nhất 23. Tuổi hay gặp nhất ở cả nhóm lành và ác  
tính đều từ 50 đến 70 (Biểu đồ 1).  
GPB  
Siêu âm  
Lành  
tính  
Theo nghiên cứu của T. T. Hồng, tuổi trung  
bình của bệnh nhân bướu giáp nhân là 48,7 ±  
18,4 [3], V. T. Giao cho rằng tuổi mắc ung thư  
tuyến giáp trung bình là 44,21± 13,3 [4], theo  
B. Y. Cho tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,8  
± 13,2 [5]. Nhìn chung, tỷ lệ mắc nhân tuyến  
giáp ác tính cũng như lành tính gặp nhiều ở lứa  
tuổi 50 đến 70. Độ tuổi là một trong những yếu  
tố quan trọng để tiên lượng bệnh. Một trong  
những hệ thống phân loại các yếu tố tiên lượng  
đối với bệnh nhân ung thư tuyến giáp bên cạnh  
TNM là hệ thống MACIS dựa trên các yếu tố: di  
căn (M-metastase), tuổi (Age - A), phẫu thuật cắt  
bỏ được hoàn toàn tuyến giáp (completeness of  
resection - C), thâm nhiễm tổ chức lân cận  
(invasion - I) và kích thước u (tumor size - S).  
Ác tính  
Tổng  
Vi vôi hóa  
Không vôi hóa  
Tổng  
32  
13  
45  
11  
14  
25  
43  
27  
70  
Nhận xét: giá trị chẩn đoán: Se = 71,1%;  
Sp = 56%; PPV = 74,4%; NPV = 51,9%;  
Acc = 57,1% ; OR= 3,1.  
Bảng 10. Đặc điểm hạch cổ  
Có cấu  
trúc rốn  
hạch  
Mất cấu  
trúc rốn  
hạch  
Hạch cổ  
GPB  
Không  
n
%
100  
0
n
%
100  
0
n
%
59  
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
8
0
8
1
0
1
36  
25  
61  
41  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ung thư  
tuyến giáp hay gặp ở nữ, tỷ lệ nữ/nam ~ 6,5/1  
(Biểu đồ 2).  
100  
100  
100  
Nhận xét: 9 bệnh nhân có hạch cổ đều là ác  
tính. Trong số bệnh nhân không có hạch, tỷ lệ ác  
tính 59%, khác biệt không có ý nghĩa thống kê  
p > 0,05.  
Theo V. T. Giao tỷ lệ mắc bệnh nữ/nam ~  
5,08/1 [4]. T. T. Hồng cho rằng tỷ lệ nữ/nam ~  
3,5/1 [3], nghiên cứu của B. Y. Cho lại cho rằng  
tỷ lệ mắc bệnh nữ/nam ~ 4,8/1 [5].  
Bảng 11. Phân loại TIRADS  
Mặc dù có sự khác nhau song các nghiên cứu  
đều chỉ ra rằng tỷ lệ ung thư tuyến giáp ở nữ cao  
hơn ở nam, cho tới nay vẫn chưa có giả thuyết  
nào giải thích được sự khác nhau này.  
4A  
4B  
5
TIRADS  
GPB  
n
%
n
%
n
9
0
9
%
100  
0
Ác tính  
Lành tính  
Tổng  
17 44,7 19 82,6  
Lý do vào viện hay gặp nhất là sờ thấy u  
vùng cổ với tỷ lệ 45,7% tiếp đến do khám sức  
khỏe tình cờ phát hiện nhân giảm âm qua siêu  
âm có tỷ lệ 40%, gầy sút cân chiếm tỷ lệ thấp  
nhất (1,4%). Một số nghiên cứu khác cũng cho  
rằng bướu giáp phát hiện tình cờ qua khám sức  
khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân tự phát hiện chiếm  
tỉ lệ cao nhất.  
21 55,3  
38 100 23  
4
17,4  
100  
100  
Nhận xét: TIRADS 4A có tỷ lệ ác tính là  
44,7%, TIRADS 4B có tỷ lệ ác tính 82,6%,  
TIRADS 5 có 9 bệnh nhân 100% là ác tính, khác  
biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.  
Nhóm bệnh nhân tiền sử xạ trị vùng cổ có  
nguy cơ mắc ung thư rất cao, nhóm có tiền sử  
bệnh tuyến giáp mạn tính cũng tăng nguy cơ mắc  
ung thư tuyến giáp (bảng 1).  
4. Bàn luận  
4.1. Đặc điểm chung  
Nghiên cứu của C. M. Oh cũng chỉ ra nguy  
cơ ung thư hóa của nhóm bệnh nhân viêm tuyến  
giáp mạn tính [6].  
Với nhóm lành tính, tuổi trung bình là 56,84  
± 10,6 cao nhất 76, thấp nhất 30. Với nhóm ác  
tính, tuổi trung 55,29 ± 13,7 cao nhất 79, thấp  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
102  
4.2. Đặc điểm hình ảnh siêu âm nhân giảm âm  
tuyến giáp  
ác tính, giảm số lượng sinh thiết được đề xuất mà  
không làm giảm đáng kể hiệu suất chẩn đoán  
tổng thể của chúng [7], điều đó cũng có nghĩa là  
chiều cao càng lớn hơn chiều rộng thì độ đặc hiệu  
của dấu hiệu này càng lớn.  
4.2.1. Tính chất nhân giảm âm  
Trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả các  
nhân đều là giảm âm, không có nhân rất giảm  
âm. Trong số 55 bệnh nhân có nhân giảm âm đều  
(78,6%) tỷ lệ ác tính là 76,4% và lành tính là  
23,6%. 15 bệnh nhân giảm âm không đều (giảm  
âm xen lẫn tăng âm, đồng âm) chiếm 21,4%  
trong đó tỷ lệ ác tính chếm 20% và lành tính  
chiếm 80%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
kê với p < 0,05 (bảng 2). Như vậy trong nghiên  
cứu này nhóm bệnh nhân có nhân giảm âm  
đều có nguy cơ ác tính cao hơn nhóm giảm âm  
không đều.  
Trong các nghiên cứu khác, theo T. T. Hồng,  
dấu hiệu nhân giảm âm có độ nhạy 78,6% trong  
chẩn đoán các nhân ác tính [3], V. T. Giao thấy  
dấu hiệu nhân giảm âm có giá trị chẩn đoán ác  
tính với độ nhạy 80,82%, độ đặc hiệu 59,01%,  
giá trị dự báo dương tính 64,13%; giá trị dự báo âm  
tính 77,24%, OR = 6,07 [4], dấu hiệu này có độ  
nhạy khá cao tuy nhiên độ đặc hiệu thấp.  
Trong nghiên cứu này, hình dạng nhân giáp  
chia thành nhóm cao ≥ rộng có 29 bệnh nhân  
trong đó tỷ lệ ác tính là 89,7% và lành tính là  
10,3%. Nhóm rộng > cao có 41 bệnh nhân với tỷ  
lệ ác tính là 45% và lành tính là 55%. Sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05 (Bảng 4).  
Dấu hiệu chiều cao ≥ chiều rộng trong nghiên  
cứu của chúng tôi có giá trị chẩn đoán là: độ nhạy  
57,8%, độ đặc hiệu 89,6%, giá trị dự báo dương  
tính 88%, giá trị dự báo âm tính 89,6%; độ chính  
xác 41,4%, tính toán tỷ suất chênh (OR) cho thấy  
nhân tuyến giáp có đặc điểm chiều cao ≥ chiều  
rộng có khả năng ác tính cao gấp 10,03 lần so với  
nhân có chiều rộng > chiều cao (Bảng 5), chúng  
tôi thấy dấu hiệu này có độ đặc hiệu cao, giá trị  
dự báo dương tính cao, giá trị dự báo âm tính  
cao, tỷ suất chênh cao, Theo V. T. Giao độ nhạy  
69,86%, độ đặc hiệu 94,41%, giá trị dự báo  
dương tính 91,89%, giá trị dự báo âm tính  
77,55%; độ chính xác 82,74%, tính toán tỷ suất  
chênh (OR) 39,5 [4]. Nghiên của chúng tôi có độ  
chính xác và tỷ suất chênh thấp hơn có thể do cỡ  
mẫu nghiên cứu chúng tôi nhỏ hơn.  
4.2.2. Vị trí nhân giáp  
Nghiên cứu của chúng tôi nhân giảm âm ờ  
thùy phải chiếm 32,9%, thùy trái chiếm 21,4% ,  
cả hai bên chiếm 38,6%, eo chiếm 7,1%, sự khác  
biệt không có ý nghĩa thống kê (Biểu đồ 3).  
Nghiên cứu của T. T. Hồng cho thấy không có  
sự khác biệt về bên tổn thương ở bệnh nhân ung  
thư tuyến giáp [3]. Nhiều nghiên cứu khác cũng  
cho kết quả không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc  
ung thư tuyến giáp thùy phải hay trái. Vị trí tổn  
thương nhân tuyến giáp ở thùy phải, trái hoặc eo  
tuyến không có ý nghĩa tiên lượng bệnh.  
Như vậy dấu hiệu chiều cao > chiều rộng  
trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp có độ đặc  
hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm  
tính cao, tuy nhiên độ nhạy khá thấp. Khuyến cáo  
này giành cho các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và  
lâm sàng trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp.  
4.2.4. Bờ viền nhân giáp  
Bờ viền là một trong những đặc điểm quan  
trọng nhất để phân biệt nhân giáp lành tính với  
ác tính, đây cũng là một đặc điểm có giá trị chẩn  
đoán cao trong ung thư tuyến vú, siêu âm với đầu  
dò tần số cao cho độ phân giải hình ảnh cao, rất  
tốt khi bộc lộ đặc điểm này. Bờ viền rõ khi nhân  
có hình tròn hay elip, có sự chuyển tiếp đột ngột  
giữa vùng u và vùng mô tuyến lành, bờ viền  
không rõ biểu hiện dưới dạng bờ đa cung, có  
nhiều thùy con, góc cạnh hoặc tua gai, đi kèm  
với ranh giới không rõ biểu hiện bởi không có sự  
chuyển tiếp giữa vùng u và mô tuyến lành.  
4.2.3. Hình dạng nhân giáp  
Sự phát triển của nhân giáp lành tính bị hạn  
chế do cân nông phía trước tuyến giáp rất dai, do  
đó sự phát triển thường song song với mặt da,  
trong khi đó nhân ác tính có xu hướng phát triển  
không song song với mặt da. Dấu hiệu này được  
nói đến trong nhiều nghiên cứu về nhân tuyến  
giáp cũng như tuyến vú. Theo G. Grani và cs so  
với tỉ lệ cao/rộng ≥ 1, tỉ lệ cao/rộng ≥ 1,2 sẽ cải  
thiện tính đặc hiệu của dấu hiệu này đối với bệnh  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
103  
Trong nghiên cứu này đặc điểm bờ viền chia  
thành bờ viền đều và không đều trong đó bờ viền  
đều có 30 bệnh nhân với tỷ lệ lành tính chiếm  
66,7% và ác tính chiếm 33,3%. Bờ viền không  
đều có 40 bệnh nhân với tỷ lệ ác tính là 87,5%  
và lành tính là 12,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê p < 0,05 (Bảng 6).  
Dấu hiệu bờ viền không đều trong nghiên cứu  
của chúng tôi có giá trị chẩn đoán ác tính với độ  
nhạy 77,8%; độ đặc hiệu 80%; giá trị dự báo  
dương tính 87,5%; giá trị dự báo âm tính 66,7%;  
độ chính xác 57,1%, OR = 14 (Bảng 7), nhân có  
dấu hiệu bờ viền không đều có khả năng ác tính  
cao gấp 14 lần so với nhân có bờ viền đều.  
Nghiên cứu V. T. Giao cho thấy độ nhạy  
77,4%; độ đặc hiệu 92,55%; giá trị dự báo dương  
tính 90,4%; giá trị dự báo âm tính 81,87%; độ  
chính xác 85,34%, OR = 42,52, nhân có dấu hiệu  
bờ viền không đều có khả năng ác tính cao gấp  
42,52 lần so với nhân có bờ viền đều [4]. Theo  
B. Moifo dấu hiệu này có độ nhạy 34,78%, độ  
đặc hiệu 99,51%, OR = 108 [8].  
Nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy, độ đặc  
hiệu và giá trị dự báo dương tính khá tương đồng  
với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.  
Như vậy dựa vào dấu hiệu bờ viền không đều  
để chẩn đoán ung thư tuyến giáp có độ đặc hiệu  
và giá trị dự báo dương tính cao, độ chính xác,  
giá trị dự báo âm tính tương đối cao nhưng độ  
đặc hiệu không cao, khuyến cáo này giành cho  
các bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Ung thư trong  
chẩn đoán ung thư tuyến giáp.  
17,4%; giá trị dự báo âm tính 51,9%; độ chính  
xác 57,1%, OR = 3,1 (Bảng 9). Theo V. T. Giao  
dấu hiệu này có giá trị chẩn đoán với độ nhạy  
64,38%; độ đặc hiệu 93,17%; giá trị dự báo  
dương tính 89,52%; giá trị dự báo âm tính  
74,26%; độ chính xác 79,48%, OR = 88,09 [4].  
Theo nghiên cứu của Moon và cs, dấu hiệu này  
có độ nhạy 22,68%, độ đặc hiệu 95,58% [9].  
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thấp hơn  
với các tác giả nói trên có thể do cỡ mẫu nghiên  
cứu chưa đủ lớn.  
Như vậy dựa vào đặc điểm vi vôi hóa để  
chẩn đoán ung thư tuyến giáp có độ nhạy tương  
đối cao, độ đặc hiệu, giá trị dự báo âm tính và  
độ chính xác không cao, giá trị dự báo dương  
tính thấp, khuyến cáo này giành cho các bác sĩ  
CĐHA và Ung thư trong chẩn đoán ung thư  
tuyến giáp.  
4.2.6. Đặc điểm hạch cổ  
Dấu hiệu hạch cổ có ở 9 bệnh nhân trong đó  
8 bệnh nhân có hạch với tỷ lệ ác tính 100% và 1  
bệnh nhân có đặc điểm mất cấu trúc xoang hạch  
với tỷ lệ ác tính 100%, 61 bệnh nhân không có  
hạch trong đó tỷ lệ ác tính 59% và lành tính 41%.  
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p > 0,05  
(Bảng 10).  
Theo V. T. Giao 24% bệnh nhân ung thư  
tuyến giáp có di căn hạch cổ, chủ yếu ở nhóm III  
(32,4%) và IV (40%). Hạch ác tính có đặc điểm  
phá vỡ cấu trúc rốn hạch kèm thâm nhiễm u  
(85,71%), có thành phần tạo nang (17,14%), vi vôi  
hóa (42,86%), chiều dài/ngắn < 2 (45,71%) [4].  
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nguy cơ  
ác tính cao ở những trường hợp có nhân giảm âm  
kèm hạch mất cấu trúc rốn hạch.  
4.2.5. Đặc điểm vi vôi hóa  
Vi vôi hóa hay vôi hóa nhỏ là dấu hiệu có giá  
trị chẩn đoán rất cao đối với ung thư tuyến vú,  
ung thư tuyến giáp được công bố trong nhiều  
nghiên cứu.  
4.2.7. Phân loại TIRADS  
Nghiên cứu của E. Horvath tiến hành năm  
2009 là nghiên cứu đầu tiên đưa ra bảng phân  
loại TIRADS [10]. Năm 2013, G. Russ và cộng  
sự đã đưa ra một tiêu chuẩn ngắn gọn dựa trên sự  
hiện diện của các dấu hiệu: nhân giảm âm nhiều,  
chiều cao ≥ chiều rộng, bờ viền không đều, vi vôi  
hóa để đưa ra bảng phân loại đơn giản hơn, theo  
đó phân độ này đi sâu vào phân tích các tổn  
thương nghi ngờ ác tính: TIRADS 4A khi có  
nhân đặc giảm âm, không có dấu hiệu nghi ngờ  
Theo bảng 8: nhân giảm âm kèm vi vôi hóa  
có 43 bệnh nhân trong đó vi vôi hóa nhỏ là 41  
với tỷ lệ ác tính 73,2% và lành tính là 26,8%, vôi  
hóa lớn có 2 bệnh nhân và tỷ lệ 100% là ác tính.  
Không có dấu hiệu vi vối hóa là 27 bệnh nhân  
với tỷ lệ 38,6%. Sự khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê p > 0,05.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, vi vôi hóa  
có giá trị chẩn đoán ác tính với độ nhạy 71,1%;  
độ đặc hiệu 56%; giá trị dự báo dương tính  
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
104  
nào nói trên. TIRADS 4B khi có 1-2 dấu hiệu  
thực sự có nguy cơ ác tính cao hơn so với chẩn  
đoán TIRADS 4A].  
trên. TIRADS 5 khi có từ 3 dấu hiệu trên [11].  
Hiện nay trên thế giới còn có phân loại  
Korean TIRADS-2016 theo đó dựa trên các dấu  
hiệu nghi ngờ: vi vôi hóa, trực không song song,  
bờ không đều hoặc thùy múi, theo phân loại này  
K-TIRADS 2 lành tính (tỉ lệ ác tính dưới 3%),  
K-TIRADS 3 nghi ngờ ít (tỉ lệ ác tính 3-15%),  
K-TIRADS 4 nghi ngờ vừa (tỉ lệ ác tính  
15-50%), K-TIRADS 5 nghi ngờ nhiều (tỉ lệ ác  
tính >60%) [12]. Phân loại ACR TIRADs 2017  
dựa vào các tiêu chí đánh giá: thành phần, cấu  
trúc âm, hình dáng, đường bờ, các đốm tăng âm  
lấm tấm.  
Theo V. T. Giao nguy cơ ác tính theo phân  
loại TIRADS 2, 3, 4A, 4B và 5 tương ứng là 0%;  
0%; 5,77%; 84,54% và 96,83% [4]. N. T. T.  
Thảo và cộng sự cho rằng nguy cơ ác tính phân  
loại theo EU-TIRADS 2017 của TIRADS 3, 4 và  
5 lần lượt là: 9,1%, 47,4% và 83,6% [14]. Như  
vậy nguy cơ ác tính của nhân tuyến giáp tăng dần  
theo phân loại TIRADS G. Russ (2013) hay nói  
một cách khác phân loại TIRADS G. Russ  
(2013) nhân tuyến giáp có ý nghĩa định hướng  
phân biệt tổn thương lành tính và ác tính.  
ACR TIRADS 2017 cho điểm theo các tiêu  
chí: thành phần nang hoặc hầu như là nang, thoái  
hóa nang dạng bọt biển: 0 điểm, vừa nang vừa  
đặc: 1 điểm, nốt đặc hoặc gần như đặc: 2 điểm;  
cấu trúc âm: trống âm, tăng âm hoặc đồng âm: 0  
điểm, giảm âm 1 điểm, giảm âm mạnh: 2 điểm;  
hình dáng: rộng > cao: 0 điểm, cao > rộng 3  
điểm; đường bờ: nhẵn, không rõ: 0 điểm, bờ đa  
thùy không đều: 2 điểm, xâm lấn ra ngoài giáp:  
3 điểm; những đốm tăng âm: không có đuôi sau  
chổi lớn: 0 điểm, vôi hóa thô: 1 điểm, vôi hóa  
viền: 2 điểm, đốm tăng âm lấm tấm: 3 điểm.  
Cộng điểm từ 5 đặc tính trên để xác định mức độ  
TIRADs; nếu tổng điểm = 0, xếp loại TIRADS  
1: lành tính; nếu tổng điểm = 2 xếp loại TIRADS  
2: không nghi ngờ; nếu tổng điểm = 3 xếp loại  
TIRADS 3: nghi ngờ ít; nếu tổng điểm = 4-6 xếp  
loại TIRADS 4 nghi ngờ vừa; nếu tổng điểm từ  
7 trở lên, xếp loại TIRADS 5 nghi ngờ cao [13].  
Chúng tôi áp dụng bảng phân loại TIRADS  
của G. Russ do tính đơn giản, dễ áp dụng trong  
thực hành lâm sàng.  
70 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng  
tôi, TIRADS 4A có 38 bệnh nhân với tỷ lệ ác  
tính là 44,7% và lành tính là 55,3%, TIRADS 4B  
có 23 bệnh nhân với tỷ lệ ác tính 82,6% và lành  
tính 17,4%, TIRADS 5 có 9 bệnh nhân 100% là  
ác tính. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05  
(Bảng 11). Kiểm định sự khác nhau giữa phân  
loại TIRADS 4A và TIRADS 4B,5 khi đối chiếu  
với giải phẫu bệnh chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ác  
tính giữa hai nhóm là khác nhau có ý nghĩa thống  
kê (p < 0,05), do đó chẩn đoán TIRADS 4B, 5  
5. Kết luận  
i) Đặc điểm chung  
- Với nhóm ác tính, độ tuổi hay gặp nhất là  
từ 50 đến 70, trung bình 55,29 ± 13,7;  
- Ung thư tuyến giáp nữ hay gặp hơn nam,  
tỷ lệ nữ / nam xấp xỉ 6,5/1;  
- Bệnh nhân có tiền sử xạ trị vùng cổ và bệnh  
tuyến giáp mạn tính có nguy cơ mắc ung thư  
rất cao;  
ii) Giá trị của siêu âm trong phân loại nhân  
giảm âm tuyến giáp  
- Nhân giảm âm đồng nhất có nguy cơ ác tính  
cao hơn giảm âm không đồng nhất;  
- Dấu hiệu cao ≥ rộng có giá trị chẩn đoán  
nhân giáp ác tính với Se = 57,8%, Sp = 89,6%,  
PPV = 88%, NPV = 89,6%; ACC = 41,4%,  
OR = 10,03;  
- Dấu hiệu bờ viền không đều có giá trị chẩn  
đoán nhân giáp ác tính với Se = 77,8%;  
Sp = 80%; PPV = 87,5%; NPV = 66,7%;  
ACC = 57,1%, OR = 14;  
- Vi vôi hóa có giá trị chẩn đoán nhân giáp  
ác tính với Se = 71,1%; Sp = 56%; PPV = 17,4%;  
NPV = 51,9%; ACC = 57,1%, OR = 3,1;  
- Phân loại TIRADS 4B, 5 thực sự có nguy  
cơ ác tính cao hơn so với TIRADS 4A.  
Tài liệu tham khảo  
[1] F. Bray, J. Ferrlay, I. Soerjomataram et al., Global  
Cancer statistics 2018: GLOBOCAN Estimates of  
 
D. V. Ngoc et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 3 (2021) 96-105  
105  
Incidence and Mortality Worldwide for 36 Cancers  
in 185 Countries, CA: A Cancer Journal for  
Clinicians, Vol. 68, No. 6, 2018, pp. 394-424.  
from Malignant Thyroid Nodules, Open Journal of  
Radiology, Vol. 3 No. 3, 2013, pp. 103-107,  
[9] H. J. Moon, J. Y. Kwak, M. J. Kim et al, Can  
Vascularity at Power Doppler US Help Predict  
Thyroid Malignancy?, Radiology, Vol. 255, 2010,  
pp. 260-269,  
[2] E. Papini, R. Guglielmi, A. Bianchini, A. Crescenzi  
et al., Risk of Malignancy in Nonpalpable Thyroid  
Nodules: Predictive Value of Ultrasound and  
Color-Doppler Features, The Journal of Clinical  
Endocrinology & Metabolism, Vol. 87, No. 5,  
2002, pp. 1941-1946,  
[10] E. Horvath, S. Majlis, R. Rossi et al., An  
Ultrasonogram Reporting System for Thyroid  
Nodules Stratifying Cancer Risk for Clinical  
Management, J Clin Endocrinol Metab, Vol. 94  
[3] T. T. Hong, Image Characteristics and Value of  
Ultrasound in the Diagnosis of Localized Thyroid  
Lesions, Master of Medicine Thesis Majoring in  
Diagnostic Imaging of Hanoi Medical University,  
2013 (in Vietnamese).  
[4] V. T. Giao, Research on Ultrasound Values in  
TIRADS Classification of Localized Thyroid  
Lesions, Master of Medicine Thesis Majoring in  
Diagnostic Imaging, Hanoi Medical University,  
2015 (in Vietnamese).  
[5] B. Y. Cho, H. S. Choi, Y. J. Park, J. A. Lim,  
H. Y. Ahn et al., Changes in the  
Clinicopathological Characteristics and Outcomes  
of Thyroid Cancer in Korea Over the Past Four  
Decades, Thyroid, Vol. 23, No. 7, 2013,  
pp. 797-804,  
No.  
5,  
2009,  
pp.  
1748-1751,  
[11] G. Russ, B. Royer, C. Bigorgne et al., Prospective  
Evaluation of Thyroid Imaging Reporting and Data  
System on 4550 Nodules With and Without  
Elastography, Eur J Endocrinol, Vol. 168, No. 5,  
12-0936.  
[12] J. H. Shin, J. H. Baek, J. Chung et al.,  
Ultrasonography Diagnosis and Imaging-Based  
Management of Thyroid Nodules: Revised Korean  
Society of Thyroid Radiology Consensus  
Statement and Recommendations, Korean J.  
Radiol., Vol. 17, No. 3, 2016, pp. 370-395,  
[13] F. N. Tessler, W. D. Middlenton, E. G. Grant et  
al., ACR Thyroid Imaging, Reporting and Data  
System (TI-RADS): White Paper of the ACR TI-  
RADS Committee, J Am Coll Radiol., Vol. 14,  
No. 5, 2017, pp. 587-595,  
[6] C. M. Oh, S. Park, J. Y. Lee et al., Increased  
Prevalence of Chronic Lymphocytic Thyroiditis in  
Korean Patients With Papillary Thyroid Cancer,  
PLoS One, Vol. 9, No. 6, 2014, pp. 1-7,  
[14] N. T. T. Thao, N. L. Lam, V. D. Luu, Research Into  
the Value in the Diagnosis of Thyroid Cancer of the  
EU-TIRADS 2017 Classification, Vietnamese  
Journal of Radiology, No 33, 2019, pp. 12-18,  
[7] G. Grani, L. Lamartina, V. Ramundo, R. Falcone,  
et al., Taller-Than-Wide Shape: A New Definition  
Improves the Specificity of TIRADS Systems, Eur  
Thyroid J, Vol. 9, No. 2, 2020, pp. 85-91,  
[8] B. Moifo, E. O. Takoeta, J. Tambe et al., Reliability  
of Thyroid Imaging Reporting and Data System  
(TIRADS) Classification in Differentiating Benign  
hoc/nghien-cuu-gia-tri-chan-doan-ung-thu-tuyen-  
giap-cua-phan-do-eu-tirads-2017-n125.html/,  
(accessed on: Deceber 4th, 2019) (in Vietnamese).  
 
pdf 10 trang baolam 25520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị của siêu âm trong phân loại nhân giảm âm tuyến giáp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_cua_sieu_am_trong_phan_loai_nhan_giam_am_tuyen_giap.pdf