Phát triển bền vững tại Việt Nam giai đoạn 2001-2020 qua một số chỉ tiêu
45
CHUYÊN MỤC
KINH TẾ HỌC
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001-2020 QUA MỘT SỐ CHỈ TIÊU
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN*
Từ số liệu trên Niên giám thống kê Việt Nam, thông qua phương pháp chuẩn
hóa Min-Max và phương pháp bình quân nhân giản đơn, bài viết trình bày giá trị
chuẩn hóa cho từng chỉ số riêng biệt tương ứng với từng chỉ tiêu đánh giá phát
triển bền vững và đánh giá về thực trạng phát triển bền vững của Việt Nam
trong giai đoạn 2001-2020.
Từ khóa: phát triển bền vững, cơ sở lý luận, chỉ số phát triển bền vững, giai đoạn
2011-2020, Việt Nam
Nhận bài ngày: 28/9/2021; đưa vào biên tập: 30/9/2021; phản biện: 10/10/2021;
duyệt đăng: 21/11/2021
1. DẪN NHẬP
nhiều khó khăn, thách thức, nhất là
quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Phát triển bền vững là định hướng
chiến lược trong phát triển kinh tế - xã
hội của Việt Nam hiện nay. Cùng với
sự phát triển “nhanh” và “nóng” của
nền kinh tế thế giới, ô nhiễm môi
trường đã trở thành vấn đề bức xúc,
nhất là ở đô thị và các khu công
nghiệp, do đó yêu cầu hiện nay là làm
thế nào vừa giữ được sự tăng trưởng
kinh tế cao, vừa bảo vệ được môi
trường để phát triển bền vững. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy vấn đề phát
triển bền vững vẫn còn đối mặt với
Thông qua các cơ sở lý luận về phát
triển bền vững và những dữ liệu,
nghiên cứu đánh giá để có cái nhìn
tổng quát hơn về quá trình phát triển
của nước ta trong thời gian qua là cần
thiết và quan trọng, đặc biệt trong vấn
đề gợi ý chính sách thúc đẩy chiến
lược phát triển bền vững hiệu quả.
2. TIÊU CHÍ VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1. Tiêu chí đánh giá phát triển bền
vững
Theo A.D. Ursul (2008: 22), phát triển
bền vững được hiểu như là “một quá
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
46
trình chỉ định một hình thức mới của này tiếp tục được khẳng định ở nhiều
sự phát triển của nền văn minh thế văn bản về Chiến lược phát triển kinh
giới, dựa trên những thay đổi căn bản
trong các mốc lịch sử trong tất cả các
thông số thực tế của con người: kinh
tế, xã hội, môi trường, văn hóa...”.
tế - xã hội ở các giai đoạn tiếp theo.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001-2010, phát triển bền vững là sự
tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường (Đại hội Đảng lần IX).
Tại Việt Nam, mặc dù xuất hiện vào
khoảng đầu thập niên 90 nhưng khái
niệm phát triển bền vững ngày càng
phổ biến và vai trò của nó được phản
ánh ở nhiều cấp độ khác nhau. Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII chủ
trương “Tăng trưởng kinh tế phải gắn
Năm 1991, 9 nguyên tắc phát triển
bền vững do IUCN, UNEF và WWF đề
xuất đã được soạn thảo thành 9
chương đầu của cuốn sách Cứu lấy
trái đất – Chiến lược cho cuộc sống
liền với tiến bộ và công bằng xã hội, bền vững, qua đó đánh dấu những cố
phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường” gắng đầu tiên của thế giới trong việc
trong đường lối phát triển kinh tế - xã tìm ra bộ nguyên tắc và tiêu chí chung
về phát triển bền vững. Tiếp theo đó,
hội giai đoạn 1991-2000. Quan điểm
Bảng 1. Xác định giá trị tối thiểu, tối đa và trung tâm cho từng chỉ tiêu phát triển bền
vững
Chỉ
tiêu
Tối
thiểu
Trung
tâm
Tiêu chí
Tăng trưởng GDP (%) (2)
GDP bình quân đầu người (PPP) (USD) (3)
Chỉ số giá tiêu dùng CPI (USD) (4)
Cơ cấu giá trị nông nghiệp trong GDP (%) (3)
Năng suất lao động xã hội (PPP) (USD) (2)
Nợ nước ngoài (USD) (4)
Giá trị
Thuận
Tối đa
5
0
-
10
10.000
125
-
-
Kinh I1
tế
Thuận
I2
I3
I4
I5
I6
Hướng tâm
Hướng tâm
Thuận
105
10
-
-
40
1.500 20.000
Hướng tâm
-
50
25
Tỷ lệ đô thị hóa (%) (4)
Tỷ lệ thất nghiệp (%) (4)
Tỷ lệ hộ nghèo (%) (2)
Hệ số GINI (0-1) (2)
Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo (%)(2) Thuận
Tỷ lệ giới tính trong trẻ em (nam/100 nữ) (4)
Thuận
20
-
70
7
-
Xã hội I7
Hướng tâm
Nghịch
3
I8
I9
0
0
0
-
100
1
-
Nghịch
-
I10
100
115
32
-
100
-
I11
I12
I13
Hướng tâm
Tỷ lệ chết của trẻ dưới 5 tuổi (trẻ dưới 5 tuổi tử
vong/1000 trẻ sinh sống) (2)
Nghịch
0
Tỷ lệ che phủ rừng (%) (2)
Tỷ lệ dân được sử dụng nước sạch (%) (2)
Tỷ lệ hộ dùng hố xí hợp vệ sinh (%) (2)
Thuận
Thuận
Thuận
0
0
0
45
-
-
-
Môi
trường
I14
I15
I16
100
100
Nguồn: Tác giả đề xuất.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
47
sự ra đời hệ thống cơ bản các chỉ tiêu (T3) được xác định dựa trên các chỉ số
liên quan đến phát triển bền vững với tương ứng với từng giá trị của chỉ tiêu
58 chỉ số tác động lên 4 trụ cột chính: riêng biệt thông qua phương pháp tính
kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế bình quân nhân. Tương tự, chỉ số
do United Nations (2001) tổng hợp và tổng hợp (Y) phát triển bền vững
xây dựng được đánh giá tích cực, và được xác định dựa trên các chỉ số
nhanh chóng trở thành khung tham tương ứng với từng giá trị của chỉ tiêu
khảo cho nhiều dự án khoa học thành phần (T).
Phương pháp chuẩn hóa Min - Max(5)
được lựa chọn để chuyển đổi dữ liệu
thu thập được về miền giá trị [0 - 1] và
ý nghĩa biến động từ đó cũng theo
cùng chiều hướng. Ngoài ra, các tiêu
chuẩn của các giá trị tối thiểu, tối đa
và trung tâm cho mục đích chuẩn hóa
giá trị của chỉ tiêu kinh tế, xã hội và
môi trường cũng được đề xuất.
nghiên cứu về phát triển bền vững.
Bên cạnh bộ tiêu chí của United
Nations (2001), hệ thống chỉ tiêu đánh
giá phát triển bền vững của Việt Nam
trong giai đoạn 2011-2020(1) được
tham khảo để chọn ra một số tiêu chí
khả dụng để đánh giá thực trạng phát
triển bền vững của Việt Nam trong giai
đoạn 2001-2020 (Bảng 1).
2.2. Phương pháp xử lý và phân 2.2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
tích số liệu
Việc thực hiện chuẩn hóa số liệu sẽ
2.2.1. Phương pháp xử lý số liệu
giúp quy đổi các số liệu thu thập được
về khoảng giá trị đồng nhất từ 0 đến 1.
Bài viết đề xuất thang đo để phân loại
các số liệu chuẩn hóa cho các tiêu chí
phát triển bền vững của Việt Nam
được đề cập ở Bảng 2 theo các mức
cụ thể như sau:
Phương pháp đánh giá từng chỉ tiêu
đơn lẻ và đánh giá chỉ tiêu tổng hợp
trong báo cáo của UNDP (1991) để
tính chỉ số tổng hợp phát triển con
người, và nghiên cứu Weng và Yang
(2003) để đánh giá mức độ phát triển
bền vững của vùng Guangzhou sẽ
được áp dụng trong bài viết này. Theo
phương pháp của UNDP (1991), mỗi
chỉ tiêu sẽ phản ánh ý nghĩa và chiều
hướng biến động khác nhau đòi hỏi
quá trình chuẩn hóa dữ liệu phải được
thực hiện nhằm mục đích đưa các giá
trị này về một miền giá trị nhất định.
Trong bài viết này, phương pháp
chuẩn hóa Min - Max được sử dụng
nhằm chuẩn hóa dữ liệu chỉ tiêu riêng
biệt (I). Từ đó, 3 chỉ số thành phần
kinh tế (T1), xã hội (T2) và môi trường
0 đến 0.2: mức bền vững kém
0.201 đến 0.4: mức bền vững thấp
0.401 đến 0.6: mức bền vững trung
bình
0.601 đến 0.8: mức bền vững khá
0.801 đến 1.0: mức bền vững cao
Khung chia mức độ này sẽ là cơ sở
để đánh giá kết quả tính toán giá trị
bền vững cho từng chỉ số riêng biệt,
chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp
để đánh giá phát triển bền vững của
Việt Nam trong giai đoạn 2001-2020.
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
48
2.2.3. Nguồn số liệu
(6,775.83 USD) và tiệm cận mức thu
nhập 10,000 USD/người/năm trong
năm 2020 (8,650.65 USD). Tương tự,
năng suất lao động (PPP) của Việt
Nam (I5) cũng tăng mạnh từ mức
trung bình (0.425) trong năm 2001
(4,513 USD/năm) lên mức cao (0.907)
trong năm 2020 (15,706 USD/năm).
Bài viết sử dụng các nguồn số liệu thứ
cấp được thu thập từ Niên giám thống
kê hằng năm của Tổng cục Thống kê
Việt Nam (2005, 2010, 2015, 2020) và
một số nguồn tài liệu khác liên quan
để phục vụ cho việc phân tích, đánh
giá các chỉ số riêng biệt ở ba trụ cột
của phát triển bền vững Việt Nam.
Ngoài ra, các chỉ tiêu đánh giá khác
dù có đi xuống ở một số năm nhất
định nhưng đều có chỉ số riêng biệt
tương ứng đã được cải thiện rõ rệt.
Chẳng hạn, tỷ lệ nông nghiệp trên
3. ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2001-2020
3.1. Chỉ số riêng biệt theo từng trụ
cột phát triển bền vững
Việt Nam
Bảng 2. Chỉ số riêng biệt trong chỉ tiêu kinh tế từ 2001
đến 2020 của Việt Nam
3.1.1. Chỉ số riêng biệt
ở trụ cột kinh tế
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
I1
I2
I3
I4
I5
I6
0.239
0.264
0.380
0.507
0.509
0.396
0.426
0.132
0.080
0.285
0.248
0.049
0.084
0.197
0.336
0.242
0.362
0.416
0.404
-
0.218
0.233
0.252
0.276
0.303
0.331
0.361
0.385
0.405
0.432
0.463
0.491
0.520
0.555
0.592
0.630
0.678
0.777
0.838
0.865
0.735
0.945
0.905
0.775
0.835
0.875
0.835
0.100
0.905
0.790
0.321
0.790
0.920
0.955
0.782
0.883
0.927
0.927
0.890
0.912
0.566
0.582
0.606
0.690
0.709
0.711
0.653
0.694
0.721
0.681
0.693
0.735
0.743
0.767
0.789
0.822
0.789
0.844
0.868
0.838
0.504
0.468
0.388
0.512
0.712
0.744
0.700
0.808
0.440
0.312
0.220
0.356
0.420
0.468
0.320
0.208
0.044
0.160
0.168
0.252
0.425
0.444
0.466
0.493
0.522
0.549
0.575
0.593
0.606
0.624
0.644
0.681
0.703
0.730
0.757
0.788
0.822
0.853
0.884
0.907
Bảng 2 cho thấy mức
tăng trưởng khá ổn
định và cân đối ở các
chỉ tiêu phát triển kinh
tế trong giai đoạn 2001-
2020. Phần lớn các chỉ
tiêu đều ở mức bền
vững khá. Trong đó, xu
hướng tăng đều qua
các năm ở các chỉ tiêu
quan trọng như GDP/
đầu người (I2) và năng
suất lao động (I5) cũng
đang diễn ra trong
khoảng thời gian này.
Cụ thể, GDP/đầu người
của Việt Nam (I2) đã
tăng từ mức bền vững
thấp (0.218) trong năm
2001 (2,182.483 USD)
lên mức bền vững khá
(0.678) trong năm 2017
Nguồn: Tác giả tính toán, 2021.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
49
GDP (I4) tăng từ mức trung bình từ nước ngoài để thúc đẩy hoạt động
(0.566) lên mức cao (0.838) và chỉ số của doanh nghiệp nội địa. Đặc biệt,
CPI (I3) tăng từ mức khá (0.735) lên khi mục tiêu xuất khẩu để thúc đẩy
mức cao (0.912) trong khoảng thời cạnh tranh ở thị trường nước ngoài
gian 20 năm qua. Điều này phần nào đang là ưu tiên hàng đầu của Chính
cho thấy những nỗ lực nhằm thúc đẩy phủ thì các dòng đầu tư nước ngoài là
sức cạnh tranh và cải thiện cơ cấu vô cùng cần thiết. Điều này tạo điều
nền kinh tế của Chính phủ đã đem lại kiện cho nhu cầu nhập khẩu máy móc,
một số kết quả nhất định.
thiết bị cho các công trình, dự án,
nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất
sản phẩm, phục vụ xuất khẩu là rất
lớn ở các doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, số liệu thống kê và tính
toán cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng
GDP của Việt Nam (I1) trong 2 thập kỷ
qua có thời điểm chưa ổn định, tăng
từ mức bền vững thấp (0.239) lên
mức bền vững trung bình (0.404)
trong năm 2019 và mức bền vững
kém trong năm 2020 (chỉ tăng 2,91%)
do ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch
bệnh COVID-19. Tương tự, chỉ tiêu
nợ nước ngoài (I6) lại có dấu hiện đi
xuống, nhất là những năm gần đây.
Cụ thể, tỷ lệ nợ nước ngoài (I6) đã
giảm mạnh từ mức trung bình (0.504)
trong năm 2001 xuống mức thấp
(0.252) trong năm 2020. Nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do
quy mô vay nợ nước ngoài, tự vay tự
trả của doanh nghiệp đang có xu
hướng tăng nhanh và các khoản vay
ODA vẫn còn ở mức cao. Chẳng hạn,
các khoảng vay trung và dài hạn trong
năm 2017 đã tăng 22,56% và vay
ngắn hạn là 73% so với tốc độ tăng
dư nợ năm 2016 (Lê Thanh, 2018).
Tuy nhiên, nếu các khoản nợ nước
ngoài ngày càng lớn thì nền kinh tế
quốc gia phụ thuộc vào kinh tế nước
ngoài, gây áp lực lớn đến khả năng
điều tiết và cân đối ngân sách tài
chính của Chính phủ và tạo áp lực lớn
đến hoạt động lâu dài của doanh
nghiệp.
3.1.2. Chỉ số riêng biệt ở trụ cột xã
hội
Số liệu từ Bảng 3 cho thấy phần lớn
chỉ số bền vững của các chỉ tiêu xã
hội đang có xu hướng đi lên, từ đó
phản ánh đời sống xã hội của người
dân trong nước đang dần được cải
thiện. Trong đó, mức độ bền vững
của các chỉ tiêu như tỷ lệ đô thị hóa
(I7) đã và đang tăng liên tục trong 20
năm qua khi tăng từ mức kém (0.091)
trong năm 2001 lên mức trung bình
(0.4) trong năm 2020. Nhìn chung, tỷ
lệ đô thị hóa (I7) tăng đem lại nhiều
Việc tận dụng thêm các nguồn kinh mặt tích cực, góp phần đẩy nhanh tốc
phí khác như nợ nước ngoài là cần
thiết để đáp ứng được nhu cầu hoạt
độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu lao
động, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu
động của các dự án phát triển quốc nhập cho người lao động và điều này
gia cũng như tận dụng các nguồn lực phần nào được thể hiện qua sự đi lên
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
50
của các chỉ tiêu kinh tế đã đề cập Chính phủ đã có tác động tích cực và
trước đó.
góp phần nâng cao chất lượng sống
của người dân. Song song đó, mức
bền vững của tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo (I11) cũng tăng từ mức kém
(0.107) lên mức thấp (0.241), như vậy
cho thấy công tác đào tạo nhân lực đã
đạt được những thành công nhất định,
góp phần hình thành nguồn lao động
chất lượng cao, là động lực quan
trọng để thúc đẩy sự phát triển của
đất nước trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Tương tự, mức bền vững I13 cũng
tăng liên tục từ 0.716 năm 2001 lên
0.79 năm 2019 trước khi giảm xuống
0.777 năm 2020, cho thấy tỷ lệ trẻ
chết dưới 5 tuổi (I13) có xu hướng
giảm. Mặc dù không tăng liên tục giai
đoạn 2001-2020 nhưng mức bền
vững của tỷ lệ hộ nghèo (I9) cũng đã
tăng từ mức khá (0.735) lên mức cao
(0.952), điều này chứng tỏ các chính
sách đảm bảo an sinh xã hội của
Tuy nhiên quá trình
Bảng 3. Các chỉ số riêng biệt của chỉ tiêu xã hội từ 2001
đến 2020 của Việt Nam
phát triển vẫn còn
nhiều hạn chế, ngoài
chỉ số I13 và I8 đạt mức
bền vững khá, các chỉ
tiêu phát triển bền
vững xã hội còn lại ở
mức thấp và trung bình
là chủ yếu. Hơn nữa, tỷ
lệ thất nghiệp (I8) trong
giai đoạn 2001-2020 có
mức độ bền vững giảm
dần theo từng năm,
giảm từ mức bền vững
cao (0.94) xuống mức
bền vững khá (0.793).
Điều này kết hợp với tỷ
lệ lao động qua đào tạo
(I11) hiện còn thấp, lao
động thiếu chuyên môn
kỹ thuật, đã phản ánh
thực tế nguồn nhân lực
của đất nước. Qua đó
cho thấy, “sản phẩm
đào tạo” không đáp
ứng nhu cầu không chỉ
Năm
I7
I8
I9
I10
I11
I12
I13
2001 0.091 0.940 0.735 0.600 0.107 0.400 0.716
2002 0.100 0.780 0.711 0.420 0.111 0.533 0.727
2003 0.115 0.813 0.774 0.420 0.115 0.733 0.737
2004 0.131 0.785 0.819 0.420 0.120 0.467 0.745
2005 0.142 0.825 0.837 0.421 0.125 0.627 0.752
2006 0.153 0.862 0.845 0.424 0.131 0.333 0.757
2007 0.164 0.899 0.883 0.434 0.136 0.227 0.761
2008 0.180 0.845 0.866 0.434 0.143 0.193 0.765
2009 0.195 0.902 0.860 0.432 0.148 0.300 0.768
2010 0.210 0.910 0.858 0.433 0.146 0.253 0.771
2011 0.231 0.755 0.874 0.427 0.154 0.207 0.773
2012 0.237 0.692 0.889 0.424 0.166 0.180 0.776
2013 0.243 0.738 0.902 0.428 0.179 0.080 0.778
2014 0.262 0.718 0.916 0.430 0.182 0.187 0.781
2015 0.276 0.780 0.930 0.430 0.199 0.147 0.784
2016 0.288 0.775 0.942 0.431 0.206 0.187 0.787
2017 0.301 0.763 0.937 0.436 0.214 0.193 0.791
2018 0.368 0.798 0.932 0.436 0.220 0.233 0.786
2019 0.400 0.793 0.944 0.436 0.228 0.213 0.790
2020 0.400 0.870 0.952 0.436 0.241 0.196 0.777
Nguồn: Tác giả tính toán, 2021.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
51
gây lãng phí về thời gian đào tạo nói 3.1.3. Chỉ số riêng biệt ở trụ cột môi
trường
chung, lãng phí về nguồn lực đầu tư
của các hộ gia đình nói riêng, mà còn
kìm hãm khả năng tăng năng suất để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bảng 4. Các chỉ số riêng biệt của chỉ tiêu
môi trường từ 2001 đến 2020 của Việt
Nam
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
I14
I15
I16
0.6
Tương tự, mức bền vững của hệ số
GINI (I10) từ 0.6 năm 2001 giảm xuống
0.436 năm 2020 đã cho thấy khoảng
cách về thu nhập giữa 2 tầng lớp giàu
nghèo đang có xu hướng tăng lên,
làm gia tăng khả năng người nghèo
không thể tiếp cận được các chương
trình giáo dục cần thiết để phát triển
kỹ năng, và kìm hãm cơ hội dịch
chuyển xã hội cũng như là nguyên
nhân dẫn đến sự gia tăng của các tệ
nạn xã hội. Nói cách khác, xu hướng
đi xuống của tỷ lệ thất nghiệp và hệ số
GINI không chỉ phản ánh tình trạng
bất ổn trong nền kinh tế mà còn làm
gia tăng nguy cơ ảnh hưởng đến sự
an toàn xã hội, tương lai của thế hệ
trẻ.
0.767
0.796
0.802
0.809
0.831
0.838
0.849
0.860
0.869
0.878
0.882
0.904
0.911
0.898
0.907
0.916
0.916
0.924
0.931
0.933
0.763
0.781
0.794
0.807
0.849
0.891
0.906
0.921
0.913
0.905
0.908
0.910
0.920
0.930
0.932
0.934
0.940
0.960
0.960
0.970
0.6
0.6
0.61
0.6
0.59
0.63
0.65
0.72
0.76
0.76
0.77
0.78
0.8
0.82
0.83
0.85
0.9
Bên cạnh đó, chỉ tiêu tỷ lệ giới tính khi
sinh (I12) cho thấy dấu hiệu thiếu bền
vững khi đã giảm từ mức thấp (0.4
năm 2001) xuống mức kém (0.196
năm 2020). Thực tế cho thấy việc mất
cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn tới
“thừa nam giới, thiếu nữ giới” trong
độ tuổi kết hôn, đồng thời dẫn đến
nhiều tiêu cực ảnh hưởng nghiêm
trọng đến cấu trúc dân số Việt Nam
trong tương lai. Ngoài ra, sự mất cân
0.93
0.94
Nguồn: Tác giả tính toán, 2021.
Số liệu Bảng 4 cho thấy sự bền vững
ở mức cao của các chỉ tiêu phát triển
môi trường. Mặc dù có giảm ở một số
năm nhất định trong giai đoạn 2001-
2020, song chỉ số riêng biệt của các
chỉ tiêu phát triển môi trường trong
năm 2020 đều đã tăng lên đáng kể so
bằng giới cũng là nguyên nhân chủ với năm 2001. Cụ thể, chỉ số riêng
yếu dẫn đến sự thiếu hụt lao động ở biệt của tỷ lệ che phủ rừng (I14) đã
tăng từ mức khá (0.767) lên mức cao
(0.933), chỉ số riêng biệt của tỷ lệ dân
sử dụng nước sạch (I15) đã tăng từ
một số ngành đòi hỏi sự khéo léo
như: dệt may, giáo viên mầm non,
công nghiệp chế biến...
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
52
khá (0.763) lên mức cao (0.970) và tỷ thực trạng đáng lo ngại này đang tồn
lệ hộ dùng hố xí hợp vệ sinh (I16) cũng tại ở Việt Nam (RFA, 2016).
tăng từ mức khá (0.61) lên mức cao
(0.94).
3.2. Chỉ số thành phần và chỉ số
tổng hợp đánh giá phát triển bền
vững Việt Nam
Tuy nhiên, thực tế cho thấy tình hình
bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn còn
nhiều bất cập. Quá trình đô thị hóa
mạnh mẽ cùng với cơ sở hạ tầng còn
yếu kém đã gây ra tình trạng ô nhiễm
môi trường đang diễn ra ngày càng
gia tăng và khó kiểm soát, đặc biệt là
ở khu vực đô thị. Theo báo cáo từ Bộ
Tài nguyên và Môi trường (2016),
nhiều loại khí độc như NO2, CO có xu
hướng tăng lên trong nhiều năm gần
đây và đã vượt mức quy chuẩn cho
phép, khiến cho tỷ lệ người dân mắc
những bệnh liên quan đến đường hô
hấp tăng mạnh. Ô nhiễm môi trường
cũng diễn ra ở khu vực nông thôn.
Việc sử dụng hóa chất và chất bảo vệ
thực vật trong quá trình sản xuất
nông nghiệp chưa thật sự hiệu quả,
khoa học đã ảnh hưởng tiêu cực đến
chất lượng nước và đất. Số lượng bãi
rác đạt tiêu chuẩn xử lý chất thải rắn
không đủ để đáp ứng nhu cầu cấp
thiết hiện nay. Việc đầu tư cho xây
dựng hệ thống xử lý rác thải cho hộ
gia đình, vệ sinh chuồng trại ở khu
vực nông thôn chưa được quan tâm
đúng mức.
Bảng 5 thể hiện xu hướng thay đổi
của các chỉ số thành phần và chỉ số
tổng hợp phát triển bền vững giai
đoạn 2001-2020.
Bảng 5. Giá trị thành phần kinh tế, xã hội,
môi trường và giá trị tổng hợp của Việt
Nam từ 2001 đến 2020
Chỉ số thành phần
Chỉ số
Khía
cạnh
Khía
Khía
Năm
tổng
hợp
cạnh xã cạnh môi
kinh tế
hội
trường
0.705
0.720
0.726
0.736
0.751
0.761
0.785
0.801
0.830
0.845
0.847
0.859
0.868
0.874
0.885
0.892
0.901
0.928
0.940
0.948
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018
2019
2020
0.256
0.309
0.350
0.420
0.496
0.497
0.509
0.322
0.402
0.469
0.388
0.386
0.454
0.548
0.555
0.511
0.431
0.570
0.581
0.231
0.381
0.373
0.408
0.394
0.423
0.397
0.388
0.383
0.418
0.412
0.399
0.392
0.359
0.411
0.411
0.431
0.300
0.467
0.469
0.473
0.409
0.436
0.470
0.495
0.540
0.532
0.537
0.462
0.518
0.547
0.508
0.507
0.521
0.581
0.587
0.581
0.488
0.627
0.635
0.469
Bên cạnh đó, quá trình sản xuất của
các khu công nghiệp đã thải ra một
lượng khí thải, chất thải lớn và gây
ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường
và đời sống người dân. Sự cố môi
trường Formosa ở huyện Kỳ Anh, tỉnh
Hà Tĩnh, là một ví dụ điển hình cho
Nguồn: Tác giả tính toán, 2021.
Theo đó, một số điểm đáng chú ý có
thể được đúc kết như sau:
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
53
Thứ nhất, quá trình phát triển bền vững mức bền vững cao trong thời
gian qua sau khi đạt được mức bền
vững này trong năm 2008 (đạt 0.801).
Tuy nhiên, chỉ số thành phần của môi
trường chỉ mang giá trị tương đối khi
chỉ sử dụng 3 chỉ số riêng biệt làm cơ
sở để tính toán do sự thiếu hụt trong
số liệu có thể thu thập được cho các
chỉ tiêu khác liên quan đến khía cạnh
môi trường như đã đề cập.
vững của Việt Nam đã được cải thiện.
Chỉ số tổng hợp phát triển bền vững
đã tăng từ mức 0.409 năm 2001 lên
mức 0.469 năm 2020 để đạt mức chỉ
số tổng hợp 0.455 cho toàn bộ giai
đoạn (2001-2020). Xu hướng tương
tự cũng diễn ra ở các khoảng giai
đoạn ngắn hơn khi chỉ số tổng hợp
của giai đoạn 2001-2005 là 0.417 đã
tăng lên mức 0.459 trong giai đoạn
2006-2010 và 0.473 trong giai đoạn
2010-2020. Tương tự, các chỉ số
thành phần, gồm kinh tế, xã hội và
môi trường, cũng được cải thiện nhiều
trong khoảng thời gian này. Cụ thể,
chỉ số thành phần về xã hội và môi
Thứ ba, quá trình phát triển bền vững
của Việt Nam nhìn chung vẫn còn
nhiều điểm bất cập. Sự thiếu ổn định
trong quá trình phát triển bền vững
được thể hiện qua các chỉ số thành
phần và chỉ số tổng hợp đánh giá phát
triển bền vững. Theo đó, sau khi tăng
trường đã tăng từ mức 0.381, 0.705 liên tục từ năm 2001 (0.409) đến năm
trong năm 2001 lên mức 0.473, 0.948 2005 (0.54), chỉ số tổng hợp đã tăng
giảm xen kẽ ở những năm tiếp theo.
trong năm 2020 (riêng chỉ số thành
phần về kinh tế cũng đã tăng từ 0.256
năm 2001 lên 0.581 năm 2019 trước
khi giảm xuống mức 0.231 do ảnh
hưởng từ sự sụt giảm mạnh của tăng
trưởng GDP). Nói cách khác, mặc dù
có mức phát triển bền vững không
cao nhưng quá trình phát triển của
Việt Nam giai đoạn 2001-2020 đã đạt
được thành tựu nhất định khi đã tăng
từ mức bền vững trung bình lên mức
bền vững khá.
Hơn thế nữa, giai đoạn 2011-2020
chứng kiến thực trạng trì trệ đáng lo
ngại khi có đến 5 năm chỉ số tổng hợp
giảm so với cùng kỳ năm trước, cùng
với 2 đợt có chỉ số này giảm mạnh là
2011-2013, 2016-2017. Một trong những
yếu tố dẫn đến xu hướng trì trệ là do
sự biến động thất thường ở các chỉ số
thành phần. Kết quả tính toán cho
thấy, ngoại trừ chỉ số thành phần về
môi trường ở mức cao và tăng liên
tục thì chỉ số thành phần về kinh tế và
xã hội đều có xu hướng biến động
thất thường và sự thiếu cân bằng giữa
các chỉ số thành phần cũng có mức
độ phát triển bền vững vẫn còn tồn tại
trong giai đoạn 2001-2020. Cụ thể, chỉ
số thành phần về kinh tế có tốc độ
tăng giảm diễn ra xen kẽ trong giai
Thứ hai, phát triển môi trường là điểm
sáng trong quá trình phát triển bền
vững. Chỉ số thành phần đánh giá
phát triển bền vững về môi trường của
Việt Nam đã liên tục tăng từ mức
0.705 trong năm 2001 lên mức 0.948
trong năm 2020. Ngoài ra, chỉ số
thành phần về môi trường cũng đã giữ
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
54
đoạn 2008-2020. Trong khi đó, giai hội, môi trường thuận lợi không chỉ
đoạn từ 2004 đến 2012 chỉ số thành cho chính quyền mà cả doanh nghiệp
tiến hành số hóa tài nguyên, dữ liệu,
xây dựng cơ chế hỗ trợ cho doanh
nghiệp nội địa được vay vốn để ổn
định hoạt động kinh doanh sau dịch
bệnh và an tâm trong quá trình số hóa
doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ
cũng cần có những giải pháp phù hợp
để giảm thiểu mức nợ nước ngoài
ngày càng có xu hướng tăng nhanh.
phần về xã hội giảm liên tục, bao gồm
giai đoạn 2006-2008 và 2010-2013,
trước khi tăng trở lại từ năm 2014 đến
nay.
4. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Kết quả đánh giá phát triển bền vững
tổng hợp của Việt Nam đang ở mức
bền vững trung bình ở giai đoạn 2001-
2020. Mức độ phát triển bền vững
nhìn chung thiếu sự cân đối giữa các
thành phần kinh tế, xã hội và môi
trường, và giữa các mục tiêu bền
vững riêng biệt. Khía cạnh kinh tế, xã
hội có cùng mức độ bền vững trung
bình và xu hướng tăng không ổn định.
Khía cạnh môi trường qua ba chỉ tiêu
xem xét ở trên có mức độ bền vững
cao nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều
bất cập cần phải được giải quyết.
Tương tự, sự thiếu cân bằng cũng
xuất hiện giữa các chỉ tiêu riêng biệt ở
các mức độ bền vững khác nhau
trong giai đoạn 2001-2020.
Đối với trụ cột xã hội, cần đẩy mạnh
hơn nữa việc đào tạo lao động thông
qua các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy
cơ chế phát triển song hành giữa đào
tạo nghề với cộng đồng doanh nghiệp,
đặc biệt khi cuộc cách mạng công
nghiệp mới sẽ dẫn đến quá trình
chuyển đổi nhu cầu việc làm và việc
nâng cao kỹ năng cho người lao động
là hết sức cần thiết. Thông qua việc
song hành cùng doanh nghiệp trong
quá trình đào tạo sẽ không chỉ giúp cơ
sở đào tạo nghề kịp thời nắm bắt nhu
cầu về kỹ năng nghề nghiệp mới, tiết
kiệm được chi phí đầu tư cơ sở vật
chất và nâng cao tính thực tiễn cho
đội ngũ giáo viên, học viên mà còn
giúp doanh nghiệp tận dụng nguồn
nhân lực sinh viên thực tập để thao
tác sản xuất một cách khoa học.
Ngoài ra, sự bùng phát của dịch bệnh
trong thời gian qua cũng cho thấy nhu
cầu cấp thiết trong việc cải thiện và
nâng cấp cơ sở hạ tầng y tế, ứng
dụng các tiến bộ khoa học công nghệ,
công nghệ thông tin, thực hiện tuyên
truyền nâng cao ý thức phòng dịch,
giữ gìn sức khỏe nhằm đáp ứng được
Để cải thiện các chỉ số phát triển bền
vững của Việt Nam trong thời gian tới,
một số giải pháp cơ bản có thể được
xem xét như:
Đối với trụ cột kinh tế, cần tập trung
phát triển các mô hình kinh tế mới phù
hợp với bối cảnh hiện nay. Trong đó,
xem chuyển đổi số là giải pháp quan
trọng để phát triển nhanh và bền vững
hơn trong giai đoạn nền kinh tế thế
giới đang phục hồi sau đại dịch. Điều
này có thể thực hiện bằng việc tạo cơ
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (279) 2021
55
nhu cầu an sinh sức khỏe và đời sống thức của người dân về bảo vệ môi
cho người dân cả nước.
trường. Đối với các khu cụm công
nghiệp, cần tăng cường công tác
quản lý môi trường tại các khu vực
này thông qua kiểm tra, giám sát việc
vận hành các công trình xử lý nước
thải theo đúng quy định để giảm thiểu
những tác động xấu tới môi trường
xung quanh.
Đối với trụ cột môi trường, để giảm
thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường,
Chính phủ và chính quyền các địa
phương cần phải có chính sách nhằm
kiểm soát khí thải, giao thông bền
vững đối với các loại phương tiện lưu
thông trên đường, nâng cao nhận
CHÚ THÍCH
(1) Ban hành kèm theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng
Chính phủ.
(2) Đề xuất dựa theo 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SGD-Goal 17) của Liên hợp quốc (UN,
2017).
(3)
Đề xuất dựa theo bộ tiêu chí về một nước công nghiệp cho Việt Nam của Nguyễn Hồng
Sơn, Trần Quang Tuyến (2014).
(4)
Đề xuất dựa theo các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai
đoạn 2011-2020.
(5) Công thức chuẩn hóa Min-max nhằm đưa các số liệu về miền giá trị [0-1]:
giá trị thực tế − giá trị tối thiểu
i =
đối với chỉ tiêu thuận, giá trị của các chỉ số này sau chuẩn
giá trị tối đa − giá trị tối thiểu
hóa càng lớn hay càng gần với 1 thì mức độ bền vững của chỉ tiêu đó càng cao và ngược lại.
giá trị thực tế − giá trị tối thiểu
giá trị tối đa − giá trị tối thiểu
giá trị tối đa − giá trị thực tế
giá trị tối đa − giá trị tối thiểu
i = 1-
=
đối với chỉ tiêu nghịch,
giá trị của các chỉ số này sau chuẩn hóa càng lớn hay càng gần với 1 thì mức độ bền vững
của chỉ tiêu đó càng thấp và ngược lại.
|giá trị thực tế − giá trị trung tâm|
Thông thường, i =
được sử dụng với chỉ tiêu hướng tâm.
|giá trị tối đa − giá trị trung tâm|
Tuy nhiên, do chỉ số riêng biệt tính ra càng lớn, khoảng cách giữa giá trị thực tế và giá trị
trung tâm càng lớn, từ đó phát triển sẽ kém bền vững. Do đó, để giá trị càng gần với giá trị
trung tâm thì mức độ bền vững của chỉ tiêu đó càng cao và ngược lại thì công thức đối với
|giá trị thực tế − giá trị trung tâm|
chỉ tiêu hướng tâm sẽ là i = 1-
|giá trị tối đa − giá trị trung tâm|
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bộ Tài Nguyên và Môi trường. 2016. “Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia giai
ĐỖ LÝ HOÀI TÂN – PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM…
56
2. IUCN, UNEP, World Wildlife Foundation. 1991. Caring for the Earth: A Strategy for
Sustainable Living. World Conservation Union. London: Earthscan.
3. Lê Thanh. 2018. “Nợ nước ngoài sắp chạm trần”. https://tuoitre.vn/no-nuoc-ngoai-
sap-cham-tran-20181029080510216.htm, truy cập ngày 14/3/2021.
4. Nguyễn Hồng Sơn, Trần Quang Tuyến. 2014. “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam: Tiêu chí và mức độ hoàn thành”. Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, số
5(217), tr. 30-44
5. RFA. 2016. “Chất thải của Formosa ở Hà Tĩnh ảnh hưởng hơn 200 ngàn người”.
affected-200000-people-07292016090943.html, truy cập ngày 13/9/2021.
6. Thủ tướng Chính phủ. 2004. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của
Việt Nam). Hà Nội, Việt Nam.
7. Tổng cục Thống kê Việt Nam. 2005, 2010, 2015, 2020. Niên giám thống kê Việt Nam
(các năm 2005, 2010, 2015, 2020). Hà Nội: Nxb. Thống kê.
8. UNDP. 1991. Human Development Report 1991. Oxford University Press. USA.
9. United Nations. 2001. “Indicators of Sustainable Development: Guidelines and
10. United Nations. 2017. “Work of the Statistical Commission pertaining to the 2030
10/3/2021.
11. Ursul, A.D. 2008. “Globalization, Safety and Sustainable Development”. Vek
Globalizatsii 1, pp. 17-22.
12. Weng, Q., Yang, S. 2003. “An Approach to Evaluation of Sustainability for
Guangzhou’s Urban Ecosystem”. International Journal of Sustainable Development.
World Ecol. 10, pp. 69-81.
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển bền vững tại Việt Nam giai đoạn 2001-2020 qua một số chỉ tiêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_trien_ben_vung_tai_viet_nam_giai_doan_2001_2020_qua_mot.pdf

