Công bằng về cơ hội phát triển và tiếp cận nguồn lực giữa các thành phần kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

13  
CHUYÊN MỤC  
KINH TẾ HỌC  
CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN VÀ TIẾP CẬN  
NGUỒN LỰC GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ  
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM  
HỒ TRẦN HÙNG*  
Thực hiện công bằng giữa các thành phần kinh tế là một vấn đề có ý nghĩa cấp  
bách cả về lý luận lẫn thực tiễn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Có nhiều tiêu chí khi xem xét về  
công bằng giữa các thành phần kinh tế như: cơ hội phát triển; chính sách và  
pháp luật; tiếp cận các nguồn lực; và phân phối. Bài viết phân tích, đánh giá  
những kết quả chủ yếu đạt được trong thực hiện công bằng về cơ hội phát triển  
và tiếp cận các nguồn lực, đảm bảo công bằng trên hai phương diện này là tiền  
đề thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.  
Từ khóa: thành phần kinh tế, công bằng, cơ hội, tiếp cận nguồn lực  
Nhận bài ngày: 9/1/2021; đưa vào biên tập: 10/1/2021; phản biện: 11/1/2021; duyệt  
đăng: 27/1/2021  
Nam, 2011: 73-75).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần  
thứ XI đã khẳng định: Việt Nam thực  
hiện nhất quán chính sách phát triển  
nền kinh tế nhiều thành phần; phát  
triển và nâng cao hiệu quả của các  
thành phần kinh tế trong nền kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước đóng  
vai trò chủ đạo (Đảng Cộng sản Việt  
Trong mỗi bước đi của thời kỳ đổi  
mới phát triển kinh tế - xã hội, Đảng  
Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh:  
“Thực hiện tiến bộ và công bằng xã  
hội ngay trong từng bước và từng  
chính sách phát triển: tăng trưởng  
kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y  
tế, giáo dục.., giải quyết tốt các vấn  
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con  
người” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
2006: 77-78), “Công bằng vì con  
người là động lực mạnh mẽ phát huy  
* Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
14  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
mọi năng lực sáng tạo của nhân dân kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở  
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Việt Nam  
Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
2011: 79-80). Có thể thấy, trong chủ  
trương thực hiện công bằng xã hội ở  
từng bước phát triển nói trên của  
Đảng trong các lĩnh vực, đặc biệt là  
trong kinh tế và cả thành phần kinh tế  
(TPKT). Đại hội XII (2016) của Đảng  
xác định: “Nền KTTT định hướng xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ  
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ  
phát triển của lực lượng sản xuất; có  
nhiều hình thức sở hữu, nhiều TPKT;  
các chủ thể thuộc các TPKT bình  
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo  
pháp luật... Nhà nước đóng vai trò  
định hướng, xây dựng và hoàn thiện  
thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh  
tranh bình đẳng, minh bạch và lành  
mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
2012: 102-103).  
Từ Đại hội VI của Đảng (1986), Đảng  
Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định  
chính sách kinh tế nhiều thành phần là  
chiến lược lâu dài, nhất quán trong  
phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ sở  
hữu tư liệu sản xuất là cơ sở quan  
trọng để phân định các TPKT. Về mặt  
lý luận, sở hữu tư liệu sản xuất luôn là  
nhân tố cốt lõi của quan hệ sản xuất,  
đồng thời là xuất phát điểm để xem  
xét các vấn đề kinh tế - xã hội. Bởi vì,  
quan hệ sở hữu vừa phản ánh bản  
chất kinh tế trong quan hệ giữa người  
với người, vừa gắn bó mật thiết với lợi  
ích kinh tế, với động lực phát triển  
kinh tế - xã hội.  
Mỗi TPKT dựa trên cơ sở một quan  
hệ sở hữu, là sự thống nhất biện  
chứng giữa một kiểu quan hệ sở hữu  
với một lực lượng sản xuất nhất định.  
Trong nền kinh tế thị trường (KTTT)  
định hướng XHCN ở Việt Nam hiện  
nay, Đảng xác định “Trên cơ sở ba  
chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư  
nhân), hình thành nhiều hình thức sở  
hữu và nhiều TPKT: Kinh tế nhà nước,  
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể,  
tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư  
bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư  
nước ngoài” (Đảng Cộng sản Việt  
Nam, 2010: 354).  
Đảm bảo công bằng giữa các TPKT  
được xem xét từ nhiều phương diện  
như: cơ hội phát triển; chính sách,  
pháp luật; tiếp cận các nguồn lực; và  
phân phối.  ài viết tập trung phân tích  
một số kết quả đã đạt được về công  
bằng giữa các TPKT trên hai phương  
diện: cơ hội phát triển và tiếp cận các  
nguồn lực. Đây là hai phương diện cơ  
bản, mang tính quyết định đối với các  
phương diện khác trong hơn 30 năm  
đổi mới phát triển kinh tế nhiều thành  
phần của Việt Nam.  
Kinh tế nhà nước được cấu thành từ  
hai bộ phận: một là bộ phận doanh  
nghiệp (DN), gồm các DN mà nhà  
nước sở hữu 100% vốn điều lệ và  
những DN mà nhà nước nắm phần  
vốn chi phối (bao gồm cả DN đã cho  
2. CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ  
CÔNG BẰNG GIỮA CÁC THÀNH  
PHẦN KINH TẾ  
2.1. Các thành phần kinh tế trong thời  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
15  
thuê, khoán nhưng vẫn thuộc sở hữu cấu trúc doanh nghiệp nhà nước  
nhà nước và các DN liên doanh với (DNNN).  
nước ngoài nhưng nhà nước nắm cổ  
phần chi phối); hai là bộ phận phi DN,  
gồm các tài sản thuộc sở hữu nhà  
nước, bao gồm cả đất đai, rừng, tài  
nguyên thiên nhiên, các nguồn lợi ở  
vùng trời, vùng biển, tư liệu sản xuất,  
dự trữ quốc gia, ngân sách nhà  
nước...  
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư  
nước ngoài bao gồm các DN 100%  
vốn nước ngoài và các liên doanh với  
DN trong nước mà DN nước ngoài  
chiếm tỷ trọng vốn chi phối. Đại hội IX  
của Đảng (2001), kinh tế có vốn đầu  
tư nước ngoài được xem là một TPKT,  
bộ phận cấu thành quan trọng của  
nền KTTT định hướng XHCN.  
Kinh tế tập thể là TPKT bao gồm các  
tổ chức kinh tế được thành lập theo  
Luật Hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện  
góp vốn của những người sản xuất  
kinh doanh, tiêu dùng, quyền sở hữu  
vốn thuộc về tập thể các thành viên  
tham gia góp vốn.  
Nội dung các TPKT được xác định  
ngay từ Đại hội Đảng lần VI năm 1986  
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006: 737-  
743) và tiếp tục khẳng định làm rõ  
thêm tại các kỳ đại hội tiếp theo cho  
đến nay.  
Kinh tế tư nhân vốn được cấu thành  
từ hai TPKT trước đây là kinh tế cá  
thể và kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế  
cá thể, tiểu chủ gồm các cá nhân, hộ  
gia đình kinh doanh, sản xuất nhỏ  
nhưng chưa thành lập DN. Đây là loại  
hình kinh tế tồn tại như một tất yếu  
mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ  
lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp.  
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm  
những DN do các nhà đầu tư trong  
nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn  
lao động và thu hưởng lợi nhuận.  
Trong nền KTTT định hướng XHCN ở  
Việt Nam, các TPKT vận động, phát  
triển trong mối quan hệ tác động qua  
lại, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, lại  
vừa cạnh tranh với nhau trong trong  
cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất và  
bình đẳng trước pháp luật.  
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu  
tập trung phân tích, đánh giá việc thực  
hiện công bằng giữa các DNNN (loại  
hình doanh nghiệp thuộc thành phần  
kinh tế nhà nước) và doanh nghiệp  
dân doanh (thuộc thành phần kinh tế  
ngoài nhà nước) và doanh nghiệp vốn  
đầu tư nước ngoài (FDI).  
Kinh tế tư bản nhà nước là TPKT  
dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp,  
gồm các liên doanh giữa kinh tế nhà  
nước (KTNN) và tư bản tư nhân  
trong nước và liên doanh giữa KTNN  
với tư bản tư nhân nước ngoài. Kinh  
tế tư bản nhà nước ra đời là kết quả  
2.2. Công bằng giữa các thành  
phần kinh tế  
Công bằng là một phạm trù triết học -  
kinh tế. Có nhiều quan điểm khác  
của xu hướng mở cửa nền kinh tế nhau về công bằng, tuy nhiên theo  
Việt Nam ra thế giới và quá trình tái chúng tôi, nội hàm phạm trù công  
16  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
bằng đòi hỏi sự phù hợp, tương xứng Từ phân tích trên, trong bài viết này  
giữa vai trò và địa vị xã hội của các cá công bằng giữa các TPKT được hiểu  
nhân hay nhóm xã hội, giữa quyền và là sự ngang bằng nhau (bình đẳng)  
nghĩa vụ, giữa đóng góp và hưởng thụ, giữa các TPKT về phương diện phân  
giữa lao động và sự trả công, giữa phối lợi ích theo nguyên tắc phù hợp  
công lao và sự thừa nhận của xã hội. giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa  
Nội dung cơ bản của công bằng là sự nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và  
ngang bằng nhau trong mối quan hệ phạt, giữa hiệu quả kinh tế - xã hội mà  
giữa người và người về phân phối lợi TPKT đó mang lại với sự thụ hưởng  
ích theo nguyên tắc về sự phù hợp những thành quả, kết quả tương xứng  
giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa với đóng góp đó.  
nghĩa vụ và quyền lợi...  
Nội dung công bằng giữa các TPKT  
Tuy nhiên, khác với công bằng xã hội có thể tập trung vào những phương  
nói chung, công bằng giữa các TPKT diện cơ bản sau:  
là công bằng trong lĩnh vực kinh tế  
Thứ nhất, công bằng về cơ hội phát  
được thực hiện giữa các chủ thể kinh  
triển giữa các TPKT. Trong lĩnh vực  
tế cụ thể, vì thế nó vừa mang tính chất  
kinh tế, thực chất đó là quyền tiếp cận  
chung, vừa chịu sự chi phối bởi  
các cơ hội trong các hoạt động kinh tế  
những đặc tính riêng.  
(sản xuất, kinh doanh) của các chủ  
Trong các TPKT, doanh nghiệp là chủ thể kinh tế. Công bằng về cơ hội là  
thể hoạt động đại diện, nên thực chất việc các chủ thể kinh tế thuộc các  
công bằng giữa các TPKT là công  
bằng đối với các DN thuộc mọi TPKT  
trong quá trình hoạt động.  
TPKT được tạo cơ hội phù hợp để  
thực hiện các hoạt động kinh tế; bao  
gồm cả cơ hội về việc làm, cơ hội  
tham gia vào thị trường, cơ hội lựa  
chọn, quyết định lĩnh vực, hình thức  
sản xuất, kinh doanh phù hợp với khả  
năng và quy định của pháp luật mà  
không bị kìm hãm hay thậm chí bị  
tước đoạt cơ hội bởi “đặc quyền đặc  
lợi”, hay bởi các “nhóm lợi ích” trong  
xã hội.  
Tất nhiên, công bằng giữa các TPKT  
không đồng nghĩa với yêu cầu mọi  
TPKT, mọi DN đều có quyền thụ  
hưởng và nghĩa vụ đóng góp như  
nhau trong mọi trường hợp, mà ở đây  
chỉ đòi hỏi các DN được đối xử như  
nhau trong những điều kiện giống  
nhau. Với thực tế luôn tồn tại những  
điều kiện khác nhau ở khả năng đóng  
góp cũng như những tác động đến đời  
sống kinh tế - xã hội, thì công bằng  
giữa các TPKT chính là yêu cầu về sự  
tương xứng giữa quyền lợi và nghĩa  
vụ, giữa thụ hưởng và cống hiến của  
các TPKT mà DN là chủ thể đại diện.  
Thứ hai, công bằng trên phương diện  
chính sách, pháp luật của Nhà nước  
đối với các TPKT. Cụ thể, các chủ thể  
kinh tế thuộc các TPKT đều phải được  
bình đẳng trước pháp luật về cơ hội  
tồn tại và phát triển của mình, được  
pháp luật bảo vệ. Pháp luật phải tạo  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
17  
ra và giúp thực thi sự bình đẳng giữa chia, phân bổ hệ thống các nguồn lực  
các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận kinh tế - xã hội để các TPKT thực hiện  
với các điều kiện và nguồn lực phát quá trình sản xuất kinh doanh. Trong  
triển như cơ sở hạ tầng xã hội, các nội dung này, hai vấn đề cần được  
dịch vụ xã hội, các loại thị trường, tài quan tâm là nội dung phân phối (phân  
nguyên... Pháp luật còn phải tạo ra phối cái gì) và hình thức phân phối  
“sân chơi”, “luật chơi” bình đẳng cho (các nguyên tắc phân phối). Về nội  
các chủ thể, nói cách khác là tạo môi dung phân phối bao gồm toàn bộ mọi  
trường kinh doanh thông thoáng, lành nguồn lực kinh tế hay còn gọi là tư  
mạnh, ổn định, ở đó có sự cạnh tranh liệu sản xuất như: đất đai, tài nguyên,  
công bằng, minh bạch, không thiên vị vốn, lao động, khoa học - công nghệ,  
cho chủ thể kinh tế nào.  
cơ sở hạ tầng… để trực tiếp hoặc  
gián tiếp phục vụ quá trình sản xuất,  
kinh doanh. Nhà nước với chức năng  
điều tiết phải phân phối (dưới dạng  
phân bổ) các nguồn lực kinh tế ấy một  
cách công bằng (ngang bằng giữa  
cống hiến và hưởng thụ) cho các chủ  
thể thuộc mọi TPKT. Về hình thức  
(nguyên tắc) phân phối, theo lý thuyết  
có rất nhiều nguyên tắc phân phối,  
nhưng trong nghiên cứu này, nguyên  
tắc phân phối được áp dụng chủ yếu  
là nguyên tắc tương xứng giữa đóng  
góp và hưởng thụ. Nghĩa là các TPKT  
được phân phối các nguồn lực kinh tế  
tương xứng, phù hợp với mức đóng  
góp.  
Thứ ba, công bằng trong tiếp cận các  
nguồn lực, mà thực chất là quyền bình  
đẳng giữa các chủ thể kinh tế trong  
việc tiếp cận các nguồn lực để phát  
triển. Công bằng giữa các TPKT trong  
tiếp cận các nguồn lực ở đây chính là  
việc các TPKT được đối xử bình  
đẳng, không có sự phân biệt về quyền  
được tiếp cận các nguồn lực phát  
triển. Nói cách khác, tất cả các chủ  
thể kinh tế đều có quyền ngang nhau  
trong việc tiếp cận tư liệu sản xuất,  
điều kiện sản xuất, kinh doanh (như  
quyền được phân bổ và sử dụng đất  
đai, tài nguyên, quyền tiếp cận nguồn  
vốn, quyền chuyển nhượng, quyền  
thế chấp, quyền được bảo hộ sản  
xuất…) phù hợp với nhu cầu, khả  
năng phát triển sản xuất kinh doanh  
của mỗi chủ thể kinh tế; không phân  
biệt đối xử về nghĩa vụ và quyền lợi  
3. MỘT SỐ KẾT QUẢ TRONG THỰC  
HIỆN CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI  
PHÁT TRIỂN VÀ TIẾP CẬN NGUỒN  
LỰC GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH  
TẾ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI  
giữa các TPKT trong quá trình hoạt 3.1. Công bằng về cơ hội phát triển  
động kinh tế.  
Những thành tựu trong việc thực hiện  
công bằng về cơ hội phát triển giữa  
các TPKT thời gian qua thể hiện trước  
hết trong sự thay đổi về nhận thức  
Thứ tư, công bằng trong phân phối,  
hay phân phối các lợi ích một cách  
công bằng giữa các TPKT. Thực chất  
của vấn đề phân phối chính là phân của Đảng và Nhà nước đối với các  
18  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
TPKT “ngoài nhà nước”, đặc biệt là điểm mới trong chủ trương cổ phần  
hóa các DNNN (đã được nêu từ Đại  
hội trước), Đảng đã thể hiện rõ tư duy  
mới về công bằng, bình đẳng kinh tế  
ở phương diện cốt yếu nhất – phương  
diện sở hữu. “Đẩy mạnh cổ phần hóa,  
bán vốn tại những DN mà Nhà nước  
không cần nắm hoặc không cần giữ  
cổ phần chi phối, kể cả những DN  
đang kinh doanh có hiệu quả. Hoàn  
thiện thể chế định giá đất đai, tài sản  
hữu hình và tài sản vô hình (tài sản trí  
tuệ, thương hiệu,...) trong cổ phần  
hóa theo nguyên tắc thị trường” (Đảng  
Cộng sản Việt Nam, 2012: 106). Đến  
nay, cổ phần hóa DNNN không nhất  
thiết nhà nước phải nắm ít nhất 51%  
cổ phần như trước đây.  
TPKT tư nhân. Đại hội đại biểu toàn  
quốc lần thứ VI (1986), đặc biệt là Hội  
nghị Trung ương 6, khóa VI đã nhấn  
mạnh chính sách nhất quán của Đảng  
là phát triển kinh tế nhiều thành phần,  
đồng thời khẳng định kinh tế tư nhân  
(KTTN) được phát triển không hạn  
chế về địa bàn, quy mô trong các  
ngành nghề mà pháp luật không cấm.  
Từ Đại hội VII (1991), KTTN bắt đầu  
được coi trọng và khuyến khích, tạo  
điều kiện để phát triển. Đặc biệt, đến  
Đại hội XII (2016), Đảng ta đã chính  
thức khẳng định vai trò “động lực  
quan trọng” của KTTN trong nền kinh  
tế: “Nền KTTT định hướng XHCN Việt  
Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù  
hợp với trình độ phát triển của lực  
lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở  
hữu, nhiều TPKT, trong đó KTNN giữ  
vai trò chủ đạo, KTTN là một động lực  
quan trọng của nền kinh tế; các chủ  
thể thuộc các TPKT bình đẳng, hợp  
tác và cạnh tranh theo pháp luật”  
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 20).  
Trên phương diện thực tiễn, những  
chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, đặc  
biệt là sự ra đời các Nghị quyết số  
19/NQ-CP về cải thiện môi trường  
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh  
tranh quốc gia được ban hành hàng  
năm (kể từ năm 2014 đến nay); Nghị  
quyết 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện  
những nhiệm vụ, giải pháp, chủ yếu  
cải thiện mội trường kinh doanh, năng  
lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và  
định hướng đến năm 2021; Nghị  
quyết số 35/NQ-CP năm 2016 về hỗ  
trợ phát triển DN đến năm 2020, cùng  
nỗ lực mạnh mẽ của chính quyền các  
địa phương đã tạo ra sự chuyển biến  
tích cực trong việc tạo lập môi trường  
kinh doanh công bằng giữa các TPKT,  
thể hiện rõ qua kết quả đánh giá của  
cộng đồng DN. Điều tra chỉ số năng  
lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) những  
Thành tựu công bằng về cơ hội giữa  
các TPKT còn thể hiện trong nhận  
thức về sự bình đẳng cần phải có  
giữa các TPKT, mà trước hết và quan  
trọng nhất là việc xác lập quyền bình  
đẳng trong sở hữu và quyền được  
định đoạt tài sản của mình đối với các  
TPKT. Khẳng định quyền bình đẳng,  
tự do giữa các TPKT, tại Đại hội XII,  
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ, chức năng, vai  
trò cũng như phạm vi và phương thức  
hoạt động của khu vực doanh nghiệp  
nhà nước (DNNN), trong đó với nhiều  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
19  
năm qua ghi nhận các doanh nghiệp tình với với nhận định đó. Tương tự,  
dân doanh đã có những đánh giá tích có 80% doanh nghiệp đồng ý với nhận  
cực hơn về mức độ bình đẳng của định “Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố  
môi trường kinh doanh so với những linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật  
năm trước. Điều này thể hiện khá rõ nhằm tạo môi trường kinh doanh  
thuận lợi cho các doanh nghiệp tư  
nhân” và 65,8% DN nhận thấy “Ủy  
ban nhân dân tỉnh/thành phố năng  
động và sáng tạo trong việc giải quyết  
các vấn đề mới phát sinh”, đây là mức  
cao nhất trong vòng 15 năm qua. Liên  
tiếp các năm 2017, 2018, 2019 có  
tương ứng 67%, 68% và 74,1% DN  
cho biết các khó khăn, vướng mắc  
được tháo gỡ kịp thời qua các cuộc  
đối thoại, tiếp xúc DN tại tỉnh. Báo cáo  
PCI cũng cho thấy các dịch vụ hỗ trợ  
DN như tìm kiếm thông tin thị trường,  
tư vấn pháp luật và tìm kiếm đối tác  
đang dần được cải thiện về chất  
lượng lẫn số lượng. Cải thiện môi  
trường kinh doanh hướng đến công  
bằng cho các DN còn phải kể đến  
những cải cách trong chính sách thuế  
theo hướng hỗ trợ DN và hiện đại hóa  
quản lý thu thuế. Thuế thu nhập DN  
đã được điều chỉnh giảm dần qua các  
năm, với mức từ 32% năm 1999  
xuống 25% năm 2009, năm 2019 là  
20%. Các thủ tục hành chính thuế  
cũng dần được chuẩn hóa và đơn  
giản hóa. Tính đến cuối năm 2019, hệ  
thống khai thuế điện tử đã triển khai  
tại tất cả tỉnh, thành phố trên cả nước  
và 100% chi cục thuế trực thuộc (Ban  
Mai, 2021).  
trong những đánh giá về mức độ ưu ái  
của chính quyền địa phương đối với  
các doanh nghiệp có vốn nhà nước và  
doanh nghiệp FDI. Thực tế cho thấy,  
với tiêu chí “các doanh nghiệp có  
phần vốn nhà nước thường dễ dàng  
hơn trong việc có được hợp đồng từ  
cơ quan nhà nước”, tỷ lệ DN đồng ý  
với nhận định này năm 2019 là 21%,  
giảm đáng kể so với con số 27% của  
năm 2015. Năm 2015, có 23% doanh  
nghiệp dân doanh đồng ý với nhận  
định các doanh nghiệp có phần vốn  
nhà nước được thực hiện “thủ tục  
hành chính nhanh chóng và đơn giản  
hơn” thì năm 2019 chỉ còn 19,1% DN  
đồng tình với nhận định này (Malesky,  
2019: 53-54). Trong nhiều nỗ lực  
nhằm cắt giảm chi phí cho DN, nhiều  
địa phương trong cả nước đã xây  
dựng trung tâm hành chính công tập  
trung, nhờ đó các thủ tục hành chính  
được thực hiện nhanh gọn và được  
giám sát chặt chẽ, minh bạch, hiệu  
quả. Kết quả điều tra PCI cũng cho  
thấy các DN đã có cảm nhận tích cực  
hơn về sự năng động, sáng tạo của  
chính quyền các tỉnh, thành phố trong  
việc tạo thuận lợi cho sự phát triển  
của khu vực KTTN. Nếu như năm  
2015, chỉ có 35,1% cho biết thái độ  
của chính quyền địa phương đối với  
khu vực KTTN là tích cực thì năm  
2019 có 54,1% doanh nghiệp đồng  
Thành tựu về tạo cơ hội bình đẳng  
giữa các TPKT còn phải nhắc đến quá  
trình tái cơ cấu nền kinh tế của Việt  
20  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
Nam đã diễn ra trong suốt những năm tâm lớn của các nhà đầu tư trong và  
đổi mới vừa qua, đặc biệt trong ngoài nước (Tạp chí Tài chính, 2018).  
khoảng 20 năm trở lại đây. Trên thực  
tế, tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam liên  
quan đến việc đảm bảo sự bình đẳng  
giữa các TPKT tập trung vào việc  
giảm bớt các DNNN, đa dạng hóa các  
loại hình DN thông qua cổ phần hóa  
mạnh mẽ các DNNN. Sau khoảng 20  
năm sắp xếp, đổi mới, DNNN đã giảm  
mạnh về số lượng, đặc biệt là những  
DN có quy mô nhỏ, DN kém hiệu quả,  
DN ở các lĩnh vực nhà nước không  
Những giải pháp cải cách cụ thể của  
Chính phủ nhằm cải thiện chất lượng  
môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo cơ  
hội phát triển bình đẳng cho DN thuộc  
mọi TPKT đã đạt được nhiều kết quả  
tích cực. Môi trường đầu tư và kinh  
doanh của nước ta đang được cải  
thiện rõ rệt từng ngày, tinh thần sáng  
tạo khởi nghiệp trong nước lên cao,  
thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư  
nước ngoài. Năm 2019, tổng vốn đầu  
cần nắm giữ. Nếu như năm 1986, cả tư nước ngoài đăng ký đạt hơn 38 tỷ  
USD, vốn giải ngân của các dự án FDI  
đạt 20,4 tỷ USD, cao nhất từ trước  
đến nay. Đáng chú ý, theo xếp hạng  
của Ngân hàng Thế giới, năm 2018,  
môi trường kinh doanh của Việt Nam  
được xếp thứ 69/190 nền kinh tế, tăng  
21 bậc so với ba năm trước (2015)  
(Chí Hiếu, 2020).  
nước có khoảng 12.000 DNNN; năm  
2001, còn khoảng 6.000 DNNN; năm  
2011 còn 1.369 DNNN (Thông tấn xã  
Việt Nam, 2018) thì đến cuối năm  
2018 cả nước chỉ còn 490 doanh  
nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn  
(Bạch Huệ, 2019). Nếu thời điểm năm  
2001, DNNN dàn trải trên 60 ngành,  
lĩnh vực thì đến nay chỉ còn tập trung  
Bên cạnh những thành quả đạt được,  
vào một số ít ngành, lĩnh vực trọng cơ hội phát triển cho các TPKT vẫn  
yếu; đại đa số có quy mô vừa và lớn. cần tiếp tục được cải thiện và tạo điều  
kiện đảm bảo sự bình đẳng. Dù quyền  
tự do kinh doanh của doanh nhân, DN,  
cũng như sự bình đẳng giữa các loại  
hình DN đã được quy định trong Hiến  
pháp và pháp luật, nhưng theo phản  
ánh của cộng đồng DN, trên thực tế  
sự phân biệt đối xử vẫn còn khá lớn;  
một bộ phận lớn các doanh nghiệp  
dân doanh là các doanh nghiệp nhỏ  
và vừa (DNNVV) chưa thực sự được  
đối xử bình đẳng với khối DNNN,  
doanh nghiệp FDI.  
Diễn đàn Thúc đẩy quá trình đổi mới  
và nâng cao hiệu quả DNNN tổ chức  
ngày 6/11/2018 tại Hà Nội đã thông tin  
“từ năm 2016 đến hết tháng 10/2018,  
cả nước đã phê duyệt phương án cổ  
phần hóa 136 DNNN, trong đó, đã tiến  
hành cổ phần hóa nhiều DN quy mô  
rất lớn như: Tập đoàn Cao su Việt  
Nam, các Tổng công ty Phát điện 3,  
Điện lực Dầu khí, Lọc Hóa dầu Bình  
Sơn…”. Sau khi cổ phần hóa, số  
lượng cổ phiếu IPO (phát hành ra  
công chúng lần đầu) của các DN này  
Kết quả điều tra PCI giai đoạn 2006-  
đều bán hết và nhận được sự quan 2019 cho thấy vẫn tồn tại một “sân  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
21  
chơi” chưa thật sự bình đẳng giữa hợp với năng lực phát triển của từng  
các loại hình DN, mà thiệt thòi nhất  
vẫn là nhóm doanh nghiệp dân doanh  
nhỏ và vừa dù nhóm này đang chiếm  
số lượng không nhỏ trong nền kinh tế.  
Dù đã giảm so với các năm trước,  
nhưng vẫn còn 21% DN cho rằng  
“các doanh nghiệp có phần vốn nhà  
nước thường dễ dàng hơn trong việc  
có được hợp đồng từ cơ quan nhà  
nước”.  
chủ thể kinh tế. Có thể kể đến một số  
quyền quan trọng như: quyền vay vốn,  
quyền chuyển nhượng, thế chấp tài  
sản, quyền sử dụng đất, quyền được  
bảo hộ sản xuất... Để thực hiện mục  
tiêu đó, Nhà nước đã xây dựng và  
thực hiện chính sách phát triển các  
loại thị trường, từng bước đồng bộ  
hóa các loại thị trường này. Nhà nước  
cũng chú ý đến sự thống nhất hữu cơ  
và mối quan hệ lẫn nhau của các loại  
thị trường, đặc biệt là các thị trường  
cung ứng tư liệu sản xuất đầu vào cho  
Nghị quyết 02/NQCP ngày 1/1/2019,  
Chính phủ đã đánh giá rất thẳng thắn  
về tình hình thực hiện các nhiệm vụ,  
giải pháp cải thiện môi trường kinh nền kinh tế, như: thị trường lao động,  
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thị trường vốn, thị trường khoa học và  
quốc gia, khi cho rằng “một số hành  
động cải cách chưa thực chất, còn  
hình thức” và “không ít nơi, ít lúc  
doanh nghiệp, người dân vẫn bị gây  
khó khăn, nhũng nhiễu bởi những quy  
định còn nặng tính cục bộ của một số  
cơ quan công quyền và một bộ phận  
công chức, viên chức” (Nghị quyết,  
1/1/2019). Điều tra PCI những năm  
qua cho thấy một số lĩnh vực thủ tục  
hành chính được DN đánh giá là “còn  
nhiều phiền hà”, như đất đai (35%),  
thuế, phí (25%), bảo hiểm xã hội (23%)  
(Malesky, 2019: 63).  
công nghệ-thông tin, thị trường bất  
động sản… Trong đó, các thị trường  
quan trọng: sức lao động, tiền tệ, bất  
động sản đã được nhà nước đặc biệt  
quan tâm, ban hành nhiều chính sách  
điều chỉnh, định hướng phát triển theo  
hướng lành mạnh hóa, chống độc  
quyền và theo quy luật của KTTT.  
Nghiên cứu của Phòng Thương mại  
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm  
2011 về 16 luật và khoảng 200 văn  
bản hướng dẫn của Chính phủ đang  
có hiệu lực, liên quan nhiều nhất và có  
nhiều vướng mắc đến thời điểm đó,  
trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên  
cứu, rà soát từng nội dung, quy định  
cụ thể, các chuyên gia đã chỉ ra 8 “cái  
được” của các luật này, trong đó quan  
trọng nhất là các quy định hiện hành  
3.2. Công bằng trong tiếp cận các  
nguồn lực  
Trong những năm qua, Đảng và Nhà  
nước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi  
để tất cả các chủ thể kinh tế trong nền  
KTTT đều có quyền ngang nhau trong đã tạo điều kiện cho các DN được tiếp  
cận thị trường, tiếp cận các nguồn lực:  
đất đai, vốn, nhân lực… (Nguyễn Thị  
Lan Hương, 2016: 102-103).  
việc tiếp cận với tư liệu sản xuất và  
những điều kiện sản xuất, kinh doanh  
dưới nhiều hình thức khác nhau, phù  
22  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
Thứ nhất, nguồn lực đất đai. Các nước ngoài; quy định cụ thể điều kiện  
TPKT từng bước được xác định  
quyền bình đẳng, quyền tiếp cận,  
quyền được nhà nước giao đất, cho  
thuê đất để thực hiện dự án đầu tư,  
làm mặt bằng sản xuất kinh doanh và  
nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.  
Luật Đất đai qua nhiều lần được sửa  
đổi đã quy định quyền sử dụng đất lâu  
dài của cá nhân, các TPKT, đồng thời  
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình  
hình thực tiễn. DN thuộc các TPKT  
khác nhau được bình đẳng trong  
quyền sở hữu, sử dụng đất lâu dài.  
Không những thế, các DNNVV, phần  
lớn thuộc TPKT tư nhân, không  
những không bị phân biệt đối xử mà  
còn được trợ giúp phát triển.  
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất  
để thực hiện dự án đầu tư nhằm lựa  
chọn được nhà đầu tư có năng lực  
thực hiện dự án…  
Thứ hai, là nguồn lực vốn, một nguồn  
lực đặc biệt quan trọng mang tính  
sống còn của DN. Trong khoảng hơn  
10 năm trở lại đây, Nhà nước đã ban  
hành rất nhiều chính sách hỗ trợ cho  
các DN, đặc biệt là các DNNVV (chủ  
yếu thuộc khu vực dân doanh). Để hỗ  
trợ các DNNVV, Chính phủ đã nỗ lực  
thực hiện nhiều giải pháp, trong đó tập  
trung vào giải pháp về nguồn vốn.  
Quỹ phát triển DNNVV được đưa vào  
hoạt động (từ năm 2014), là một trong  
những biện pháp quan trọng giúp  
DNNVV tiếp cận nguồn vốn phục vụ  
sản xuất, kinh doanh. Đối tượng được  
hỗ trợ là các DN có tiềm năng phát  
triển tốt, có dự án, phương án kinh  
doanh khả thi và những DN nằm trong  
diện ưu tiên, như DN phụ trợ, DN chế  
biến nông sản, DN xuất khẩu... Thông  
tư số 39/2016/NHNN của Ngân hàng  
Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các  
DNNVV có dự án, phương án sản  
xuất - kinh doanh khả thi thuộc lĩnh  
vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà  
nước, nhằm nâng cao khả năng cạnh  
tranh của doanh nghiệp, góp phần làm  
tăng thu nhập, tạo việc làm cho người  
lao động. Theo đánh giá của cộng  
Luật Đất đai bổ sung (2013) quy định  
cụ thể, rõ ràng từ nguyên tắc đến nội  
dung việc mở rộng dân chủ, công khai  
trong quá trình lập quy hoạch, kế  
hoạch sử dụng đất. Luật đã dành một  
chương để quy định về việc xây dựng  
hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ  
liệu đất đai, hệ thống giám sát, theo  
dõi, đánh giá đối với quản lý và sử  
dụng đất đai được công khai, minh  
bạch và đảm bảo dân chủ trong điều  
kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân và  
đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất  
đai của mọi người dân. Công dân có  
quyền tự mình hoặc thông qua các tổ  
chức đại diện thực hiện quyền giám  
sát và phản ánh các sai phạm trong đồng DN, các chính sách này bước  
quản lý và sử dụng đất đai. Ngoài ra, đầu đã phát huy hiệu quả nhất định  
Luật Đất đai mới đã thiết lập sự bình trong việc giải bài toán khó về thiếu  
vốn cho các doanh nghiệp dân doanh,  
đặc biệt là DNNVV.  
đẳng hơn trong quyền được tiếp cận  
đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
23  
Thứ ba, là việc phân bổ nguồn nhân đều được cải thiện nhiều so với thời  
lực. Có thể nói, việc chuyển dịch cơ điểm bắt đầu (năm 2009) khảo sát. Đó  
là những tín hiệu đáng mừng trong nỗ  
lực của Chính phủ và các địa phương  
nhằm từng bước tạo lập quyền bình  
đẳng trong tiếp cận các nguồn lực  
phục vụ sản xuất, kinh doanh của các  
DN khu vực kinh tế ngoài nhà nước.  
cấu hợp lý của nền kinh tế trong thời  
gian qua đã tác động tích cực đến sự  
hình thành một cơ chế phân bổ nguồn  
nhân lực có hiệu quả, theo hướng  
hình thành các quan hệ thị trường lao  
động. Sự chuyển dịch cơ cấu lao  
động theo khu vực kinh tế là chuyển  
biến quan trọng trong phân bố nguồn  
lực lao động để khai thác tốt tiềm  
năng của các khu vực kinh tế trong  
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả  
tích cực ấy, vẫn còn những bất cập  
trong thực hiện công bằng, bình đẳng  
trong tiếp cận nguồn lực đối với các  
nền KTTT hiện nay. Kết quả của sự TPKT. Các DN khu vực ngoài nhà  
chuyển dịch đó là tỷ trọng lao động nước khi được khảo sát vẫn đánh giá  
họ chưa thực sự được đối xử công  
bằng (so với DNNN). Trong khi doanh  
nghiệp dân doanh phải “gồng mình”  
đấu tranh để sinh tồn: tự bỏ vốn, tự tổ  
chức, tự chủ trong kinh doanh và tự  
bù lỗ, thì DNNN thường là những DN  
lớn được ưu tiên về đất đai, tín dụng,  
thuế, tiếp cận khoa học kỹ thuật, hợp  
đồng mua sắm, tiêu thụ sản phẩm…  
thậm chí không sợ phá sản cho dù  
thua lỗ kéo dài, luôn tận dụng được  
“cơ chế xin - cho” trong phân phối và  
tiếp cận các nguồn lực …  
của khu vực ngoài nhà nước (doanh  
nghiệp dân doanh và doanh nghiệp  
FDI) tăng mạnh trong thời gian qua, từ  
56,4% giai đoạn 2001-2005 lên 76,8%  
giai đoạn 2006-2010 và đến hết năm  
2018, là 92,4%, trong đó khu vực  
doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm  
60,6%; khu vực doanh nghiệp FDI  
chiếm 31,8% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,  
2020: 43). Nếu thời điểm 2006, số  
lượng lao động làm việc cho các DN  
khu vực ngoài nhà nước chỉ khoảng  
hơn 3 triệu, năm 2014 tăng hơn 10,5  
triệu, đến cuối 2018 là 13,7 triệu, ngay  
cả trong những giai đoạn lạm phát và  
suy thoái kinh tế, số lượng lao động ở  
khu vực này thực tế vẫn không giảm.  
Mặt khác, so sánh tương quan về hiệu  
quả đầu tư của hai khu vực này cũng  
cho thấy sự chưa phù hợp nhất định  
giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống  
hiến và hưởng thụ nếu xét trên tiêu  
chí của “công bằng”. Số liệu nghiên  
cứu về tác động của đầu tư đối với  
tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai  
đoạn 2012-2017 cho thấy, nếu tăng  
Ở tiêu chí “Dịch vụ hỗ trợ DN”, khảo  
sát PCI 5 nhóm dịch vụ gồm: (i) Cung  
cấp thông tin thị trường, (ii) Tư vấn  
thông tin pháp luật, (iii) Hỗ trợ tìm  
kiếm đối tác kinh doanh, (iv) Xúc tiến  
thương mại và hội chợ/triển lãm, (v) 1% tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ  
Công nghệ và các dịch vụ liên quan  
thì chất lượng cung cấp ở cả 5 dịch vụ  
khu vực DNNN làm tăng 0,37% GDP;  
từ khu vực DN ngoài nhà nước, hộ cá  
24  
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…  
thể và hộ dân cư làm tăng 0,80%... góp của người sử dụng lao động;  
(Đinh Trọng Thắng, 2019). Như vậy, giảm giá thuê đất, giảm mức thu phí,  
xét trên hiệu quả đầu tư (riêng góc độ một số loại phí, lệ phí; đồng thời được  
kinh tế), thì khu vực ngoài nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong  
vẫn đang phát huy hiệu quả tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài  
khu vực KTNN. Phó Chủ nhiệm Ủy ra, chính sách thuế; chính sách ưu đãi  
ban Tài chính - Ngân sách của Quốc đầu tư; giải quyết các vấn đề của sau  
hội cho rằng:  a trụ cột của nền kinh cổ phẩn hóa… cũng cần được tiếp tục  
tế, gồm DNNN, DN tư nhân và DN điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hóa  
FDI đang phát triển tương đối đồng trong các luật như Luật Đầu tư, Luật  
đều, xét ở quy mô đóng góp vào GDP.  
Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh trong  
Nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực thời gian tới… (Đức Dũng, 2020).  
của xã hội và hiệu quả hoạt động thì  
4. KẾT LUẬN  
khác nhau. Cụ thể, hiện nay, DNNN  
Với quyết tâm cải cách mạnh mẽ nền  
đóng góp gần 40% vào GDP, 60%  
kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc  
còn lại của GDP là đóng góp từ DN tư  
tế sâu rộng, Đảng và Nhà nước ta đã  
nhân và DN FDI, mỗi bên gần 30%.  
chú trọng việc thực hiện công bằng  
Nhưng về sử dụng nguồn lực xã hội,  
đối với các TPKT trên cả phương diện  
khoảng 60% nguồn lực đang tập trung  
lý luận lẫn thực tiễn, từ những thay đổi  
cho DNNN. Tức là trong 100 đồng tín  
trong nhận thức của Đảng, đến những  
dụng cho vay, DNNN vay 60 đồng  
hoạch định, thực thi chính sách, điều  
song chỉ làm ra 40% GDP, các thành  
hành của Nhà nước đã thu được  
phần còn lại vay 40 đồng, làm ra 60%  
nhiều kết quả tích cực. Kinh tế nhà  
GDP. Con số này cho thấy khu vực  
nước ngày càng thể hiện tốt hơn vai  
DNNN sử dụng vốn chưa hiệu quả  
trò đầu tàu, “chủ đạo”, dẫn dắt nền  
(Báo Nhân dân, ngày 29/6/2019). Bên  
cạnh đó, còn gặp khó khăn về mặt  
bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục  
hành chính liên quan đến đất đai hay  
rủi ro bị thu hồi đất kinh doanh. Đây  
cũng là một nguyên nhân khiến DN  
không tự tin mở rộng đầu tư và xây  
dựng chiến lược kinh doanh dài hạn,  
đặc biệt là các DN FDI. Cả DN trong  
nước mà các DN FDI đều bày tỏ  
mong muốn được giảm thiểu thủ tục  
kinh theo định hướng XHCN; kinh tế  
ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư  
nước ngoài có những phát triển vượt  
bậc, để lại dấu ấn quan trọng trong  
những năm qua, góp phần nâng cao  
năng lực và sức cạnh tranh của nền  
kinh tế. Bên cạnh những thành tựu đã  
đạt được, quá trình thực hiện công  
bằng giữa các TPKT ở nước ta còn  
tồn tại bất cập, hạn chế cần khắc phục  
để phát triển bền vững. Bởi thực hiện  
hành chính và chi phí kinh doanh cho tốt công bằng trong kinh tế không chỉ  
là động lực thúc đẩy tăng trưởng, phát  
triển kinh tế mà còn là cơ sở cho việc  
doanh nghiệp, đảm bảo mặt bằng lãi  
suất phù hợp; giảm bớt các mức đóng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
25  
thực hiện công bằng xã hội nói chung, thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh,  
góp phần sớm đưa đất nước hoàn công bằng, dân chủ, văn minh.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bạch Huệ. 2019. “ ức tranh doanh nghiệp nhà nước 2018”. http://vneconomy.vn/buc-  
20190417110733606.htm, truy cập ngày 18/01/2021.  
2.  an Mai. 2021. “Ngành thuế không để tình trạng “trên nóng, dưới  
duoi-lanh-176521.html, truy cập ngày 25/1/2021.  
3. Báo Nhân dân. 2019. “Tìm lại sức mạnh cho doanh nghiệp nhà nước”. https://nhan  
dan.com.vn/tin-tuc-kinh-te/tim-lai-suc-manh-cho-doanh-nghiep-nha-nuoc-362749, truy cập  
ngày 19/01/2021.  
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 2020. Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020. Hà Nội:  
Nxb. Thống kê.  
5. Chí Hiếu. 2020. “Cần công bằng, minh bạch trong tiếp cận nguồn lực”. https://thanh  
nien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/can-cong-bang-minh-bach-trong-tiep-can-nguon-luc-  
1170635.html, truy cập ngày 18/1/2021.  
6. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019  
về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,  
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021.  
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội:  
Nxb. Chính trị Quốc gia.  
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. Văn kiện Đảng toàn tập - tập 47. Hà Nội: Nxb. Chính  
trị Quốc gia.  
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2012. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội:  
Nxb. Chính trị Quốc gia.  
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn  
phòng Trung ương Đảng. Hà Nội.  
11. Đinh Trọng Thắng. 2019. “Quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong phát  
12. Đức Dũng. 2020. “Doanh nghiệp kỳ vọng bình đẳng tiếp cận các nguồn lực”.  
nguon-luc-318395.html, truy cập ngày 18/1/2021.  
13. Malesky, E.J. 2019. Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019.  
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).  
14. Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên). 2016. Thực hiện công bằng xã hội đối với các  
thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
15. Tạp chí Tài chính. 2018. “Đến năm 2020, cả nước chỉ còn khoảng hơn 100 doanh  
16. Thông tấn xã Việt Nam. 2018. “Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh”.  
d76783.html, truy cập ngày 19/1/2021.  
pdf 13 trang baolam 26720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công bằng về cơ hội phát triển và tiếp cận nguồn lực giữa các thành phần kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_bang_ve_co_hoi_phat_trien_va_tiep_can_nguon_luc_giua_ca.pdf