Công bằng về cơ hội phát triển và tiếp cận nguồn lực giữa các thành phần kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
13
CHUYÊN MỤC
KINH TẾ HỌC
CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN VÀ TIẾP CẬN
NGUỒN LỰC GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HỒ TRẦN HÙNG*
Thực hiện công bằng giữa các thành phần kinh tế là một vấn đề có ý nghĩa cấp
bách cả về lý luận lẫn thực tiễn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Có nhiều tiêu chí khi xem xét về
công bằng giữa các thành phần kinh tế như: cơ hội phát triển; chính sách và
pháp luật; tiếp cận các nguồn lực; và phân phối. Bài viết phân tích, đánh giá
những kết quả chủ yếu đạt được trong thực hiện công bằng về cơ hội phát triển
và tiếp cận các nguồn lực, đảm bảo công bằng trên hai phương diện này là tiền
đề thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Từ khóa: thành phần kinh tế, công bằng, cơ hội, tiếp cận nguồn lực
Nhận bài ngày: 9/1/2021; đưa vào biên tập: 10/1/2021; phản biện: 11/1/2021; duyệt
đăng: 27/1/2021
Nam, 2011: 73-75).
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI đã khẳng định: Việt Nam thực
hiện nhất quán chính sách phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần; phát
triển và nâng cao hiệu quả của các
thành phần kinh tế trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước đóng
vai trò chủ đạo (Đảng Cộng sản Việt
Trong mỗi bước đi của thời kỳ đổi
mới phát triển kinh tế - xã hội, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh:
“Thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển: tăng trưởng
kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y
tế, giáo dục.., giải quyết tốt các vấn
đề xã hội vì mục tiêu phát triển con
người” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2006: 77-78), “Công bằng vì con
người là động lực mạnh mẽ phát huy
* Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ
Chí Minh.
14
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
mọi năng lực sáng tạo của nhân dân kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Việt Nam
Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2011: 79-80). Có thể thấy, trong chủ
trương thực hiện công bằng xã hội ở
từng bước phát triển nói trên của
Đảng trong các lĩnh vực, đặc biệt là
trong kinh tế và cả thành phần kinh tế
(TPKT). Đại hội XII (2016) của Đảng
xác định: “Nền KTTT định hướng xã
hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất; có
nhiều hình thức sở hữu, nhiều TPKT;
các chủ thể thuộc các TPKT bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo
pháp luật... Nhà nước đóng vai trò
định hướng, xây dựng và hoàn thiện
thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng, minh bạch và lành
mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2012: 102-103).
Từ Đại hội VI của Đảng (1986), Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định
chính sách kinh tế nhiều thành phần là
chiến lược lâu dài, nhất quán trong
phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ sở
hữu tư liệu sản xuất là cơ sở quan
trọng để phân định các TPKT. Về mặt
lý luận, sở hữu tư liệu sản xuất luôn là
nhân tố cốt lõi của quan hệ sản xuất,
đồng thời là xuất phát điểm để xem
xét các vấn đề kinh tế - xã hội. Bởi vì,
quan hệ sở hữu vừa phản ánh bản
chất kinh tế trong quan hệ giữa người
với người, vừa gắn bó mật thiết với lợi
ích kinh tế, với động lực phát triển
kinh tế - xã hội.
Mỗi TPKT dựa trên cơ sở một quan
hệ sở hữu, là sự thống nhất biện
chứng giữa một kiểu quan hệ sở hữu
với một lực lượng sản xuất nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường (KTTT)
định hướng XHCN ở Việt Nam hiện
nay, Đảng xác định “Trên cơ sở ba
chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư
nhân), hình thành nhiều hình thức sở
hữu và nhiều TPKT: Kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể,
tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư
bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2010: 354).
Đảm bảo công bằng giữa các TPKT
được xem xét từ nhiều phương diện
như: cơ hội phát triển; chính sách,
pháp luật; tiếp cận các nguồn lực; và
phân phối. ài viết tập trung phân tích
một số kết quả đã đạt được về công
bằng giữa các TPKT trên hai phương
diện: cơ hội phát triển và tiếp cận các
nguồn lực. Đây là hai phương diện cơ
bản, mang tính quyết định đối với các
phương diện khác trong hơn 30 năm
đổi mới phát triển kinh tế nhiều thành
phần của Việt Nam.
Kinh tế nhà nước được cấu thành từ
hai bộ phận: một là bộ phận doanh
nghiệp (DN), gồm các DN mà nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ và
những DN mà nhà nước nắm phần
vốn chi phối (bao gồm cả DN đã cho
2. CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ
CÔNG BẰNG GIỮA CÁC THÀNH
PHẦN KINH TẾ
2.1. Các thành phần kinh tế trong thời
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
15
thuê, khoán nhưng vẫn thuộc sở hữu cấu trúc doanh nghiệp nhà nước
nhà nước và các DN liên doanh với (DNNN).
nước ngoài nhưng nhà nước nắm cổ
phần chi phối); hai là bộ phận phi DN,
gồm các tài sản thuộc sở hữu nhà
nước, bao gồm cả đất đai, rừng, tài
nguyên thiên nhiên, các nguồn lợi ở
vùng trời, vùng biển, tư liệu sản xuất,
dự trữ quốc gia, ngân sách nhà
nước...
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài bao gồm các DN 100%
vốn nước ngoài và các liên doanh với
DN trong nước mà DN nước ngoài
chiếm tỷ trọng vốn chi phối. Đại hội IX
của Đảng (2001), kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài được xem là một TPKT,
bộ phận cấu thành quan trọng của
nền KTTT định hướng XHCN.
Kinh tế tập thể là TPKT bao gồm các
tổ chức kinh tế được thành lập theo
Luật Hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện
góp vốn của những người sản xuất
kinh doanh, tiêu dùng, quyền sở hữu
vốn thuộc về tập thể các thành viên
tham gia góp vốn.
Nội dung các TPKT được xác định
ngay từ Đại hội Đảng lần VI năm 1986
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006: 737-
743) và tiếp tục khẳng định làm rõ
thêm tại các kỳ đại hội tiếp theo cho
đến nay.
Kinh tế tư nhân vốn được cấu thành
từ hai TPKT trước đây là kinh tế cá
thể và kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế
cá thể, tiểu chủ gồm các cá nhân, hộ
gia đình kinh doanh, sản xuất nhỏ
nhưng chưa thành lập DN. Đây là loại
hình kinh tế tồn tại như một tất yếu
mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ
lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp.
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm
những DN do các nhà đầu tư trong
nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn
lao động và thu hưởng lợi nhuận.
Trong nền KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam, các TPKT vận động, phát
triển trong mối quan hệ tác động qua
lại, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau, lại
vừa cạnh tranh với nhau trong trong
cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất và
bình đẳng trước pháp luật.
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu
tập trung phân tích, đánh giá việc thực
hiện công bằng giữa các DNNN (loại
hình doanh nghiệp thuộc thành phần
kinh tế nhà nước) và doanh nghiệp
dân doanh (thuộc thành phần kinh tế
ngoài nhà nước) và doanh nghiệp vốn
đầu tư nước ngoài (FDI).
Kinh tế tư bản nhà nước là TPKT
dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp,
gồm các liên doanh giữa kinh tế nhà
nước (KTNN) và tư bản tư nhân
trong nước và liên doanh giữa KTNN
với tư bản tư nhân nước ngoài. Kinh
tế tư bản nhà nước ra đời là kết quả
2.2. Công bằng giữa các thành
phần kinh tế
Công bằng là một phạm trù triết học -
kinh tế. Có nhiều quan điểm khác
của xu hướng mở cửa nền kinh tế nhau về công bằng, tuy nhiên theo
Việt Nam ra thế giới và quá trình tái chúng tôi, nội hàm phạm trù công
16
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
bằng đòi hỏi sự phù hợp, tương xứng Từ phân tích trên, trong bài viết này
giữa vai trò và địa vị xã hội của các cá công bằng giữa các TPKT được hiểu
nhân hay nhóm xã hội, giữa quyền và là sự ngang bằng nhau (bình đẳng)
nghĩa vụ, giữa đóng góp và hưởng thụ, giữa các TPKT về phương diện phân
giữa lao động và sự trả công, giữa phối lợi ích theo nguyên tắc phù hợp
công lao và sự thừa nhận của xã hội. giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa
Nội dung cơ bản của công bằng là sự nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và
ngang bằng nhau trong mối quan hệ phạt, giữa hiệu quả kinh tế - xã hội mà
giữa người và người về phân phối lợi TPKT đó mang lại với sự thụ hưởng
ích theo nguyên tắc về sự phù hợp những thành quả, kết quả tương xứng
giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa với đóng góp đó.
nghĩa vụ và quyền lợi...
Nội dung công bằng giữa các TPKT
Tuy nhiên, khác với công bằng xã hội có thể tập trung vào những phương
nói chung, công bằng giữa các TPKT diện cơ bản sau:
là công bằng trong lĩnh vực kinh tế
Thứ nhất, công bằng về cơ hội phát
được thực hiện giữa các chủ thể kinh
triển giữa các TPKT. Trong lĩnh vực
tế cụ thể, vì thế nó vừa mang tính chất
kinh tế, thực chất đó là quyền tiếp cận
chung, vừa chịu sự chi phối bởi
các cơ hội trong các hoạt động kinh tế
những đặc tính riêng.
(sản xuất, kinh doanh) của các chủ
Trong các TPKT, doanh nghiệp là chủ thể kinh tế. Công bằng về cơ hội là
thể hoạt động đại diện, nên thực chất việc các chủ thể kinh tế thuộc các
công bằng giữa các TPKT là công
bằng đối với các DN thuộc mọi TPKT
trong quá trình hoạt động.
TPKT được tạo cơ hội phù hợp để
thực hiện các hoạt động kinh tế; bao
gồm cả cơ hội về việc làm, cơ hội
tham gia vào thị trường, cơ hội lựa
chọn, quyết định lĩnh vực, hình thức
sản xuất, kinh doanh phù hợp với khả
năng và quy định của pháp luật mà
không bị kìm hãm hay thậm chí bị
tước đoạt cơ hội bởi “đặc quyền đặc
lợi”, hay bởi các “nhóm lợi ích” trong
xã hội.
Tất nhiên, công bằng giữa các TPKT
không đồng nghĩa với yêu cầu mọi
TPKT, mọi DN đều có quyền thụ
hưởng và nghĩa vụ đóng góp như
nhau trong mọi trường hợp, mà ở đây
chỉ đòi hỏi các DN được đối xử như
nhau trong những điều kiện giống
nhau. Với thực tế luôn tồn tại những
điều kiện khác nhau ở khả năng đóng
góp cũng như những tác động đến đời
sống kinh tế - xã hội, thì công bằng
giữa các TPKT chính là yêu cầu về sự
tương xứng giữa quyền lợi và nghĩa
vụ, giữa thụ hưởng và cống hiến của
các TPKT mà DN là chủ thể đại diện.
Thứ hai, công bằng trên phương diện
chính sách, pháp luật của Nhà nước
đối với các TPKT. Cụ thể, các chủ thể
kinh tế thuộc các TPKT đều phải được
bình đẳng trước pháp luật về cơ hội
tồn tại và phát triển của mình, được
pháp luật bảo vệ. Pháp luật phải tạo
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
17
ra và giúp thực thi sự bình đẳng giữa chia, phân bổ hệ thống các nguồn lực
các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận kinh tế - xã hội để các TPKT thực hiện
với các điều kiện và nguồn lực phát quá trình sản xuất kinh doanh. Trong
triển như cơ sở hạ tầng xã hội, các nội dung này, hai vấn đề cần được
dịch vụ xã hội, các loại thị trường, tài quan tâm là nội dung phân phối (phân
nguyên... Pháp luật còn phải tạo ra phối cái gì) và hình thức phân phối
“sân chơi”, “luật chơi” bình đẳng cho (các nguyên tắc phân phối). Về nội
các chủ thể, nói cách khác là tạo môi dung phân phối bao gồm toàn bộ mọi
trường kinh doanh thông thoáng, lành nguồn lực kinh tế hay còn gọi là tư
mạnh, ổn định, ở đó có sự cạnh tranh liệu sản xuất như: đất đai, tài nguyên,
công bằng, minh bạch, không thiên vị vốn, lao động, khoa học - công nghệ,
cho chủ thể kinh tế nào.
cơ sở hạ tầng… để trực tiếp hoặc
gián tiếp phục vụ quá trình sản xuất,
kinh doanh. Nhà nước với chức năng
điều tiết phải phân phối (dưới dạng
phân bổ) các nguồn lực kinh tế ấy một
cách công bằng (ngang bằng giữa
cống hiến và hưởng thụ) cho các chủ
thể thuộc mọi TPKT. Về hình thức
(nguyên tắc) phân phối, theo lý thuyết
có rất nhiều nguyên tắc phân phối,
nhưng trong nghiên cứu này, nguyên
tắc phân phối được áp dụng chủ yếu
là nguyên tắc tương xứng giữa đóng
góp và hưởng thụ. Nghĩa là các TPKT
được phân phối các nguồn lực kinh tế
tương xứng, phù hợp với mức đóng
góp.
Thứ ba, công bằng trong tiếp cận các
nguồn lực, mà thực chất là quyền bình
đẳng giữa các chủ thể kinh tế trong
việc tiếp cận các nguồn lực để phát
triển. Công bằng giữa các TPKT trong
tiếp cận các nguồn lực ở đây chính là
việc các TPKT được đối xử bình
đẳng, không có sự phân biệt về quyền
được tiếp cận các nguồn lực phát
triển. Nói cách khác, tất cả các chủ
thể kinh tế đều có quyền ngang nhau
trong việc tiếp cận tư liệu sản xuất,
điều kiện sản xuất, kinh doanh (như
quyền được phân bổ và sử dụng đất
đai, tài nguyên, quyền tiếp cận nguồn
vốn, quyền chuyển nhượng, quyền
thế chấp, quyền được bảo hộ sản
xuất…) phù hợp với nhu cầu, khả
năng phát triển sản xuất kinh doanh
của mỗi chủ thể kinh tế; không phân
biệt đối xử về nghĩa vụ và quyền lợi
3. MỘT SỐ KẾT QUẢ TRONG THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI
PHÁT TRIỂN VÀ TIẾP CẬN NGUỒN
LỰC GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH
TẾ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
giữa các TPKT trong quá trình hoạt 3.1. Công bằng về cơ hội phát triển
động kinh tế.
Những thành tựu trong việc thực hiện
công bằng về cơ hội phát triển giữa
các TPKT thời gian qua thể hiện trước
hết trong sự thay đổi về nhận thức
Thứ tư, công bằng trong phân phối,
hay phân phối các lợi ích một cách
công bằng giữa các TPKT. Thực chất
của vấn đề phân phối chính là phân của Đảng và Nhà nước đối với các
18
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
TPKT “ngoài nhà nước”, đặc biệt là điểm mới trong chủ trương cổ phần
hóa các DNNN (đã được nêu từ Đại
hội trước), Đảng đã thể hiện rõ tư duy
mới về công bằng, bình đẳng kinh tế
ở phương diện cốt yếu nhất – phương
diện sở hữu. “Đẩy mạnh cổ phần hóa,
bán vốn tại những DN mà Nhà nước
không cần nắm hoặc không cần giữ
cổ phần chi phối, kể cả những DN
đang kinh doanh có hiệu quả. Hoàn
thiện thể chế định giá đất đai, tài sản
hữu hình và tài sản vô hình (tài sản trí
tuệ, thương hiệu,...) trong cổ phần
hóa theo nguyên tắc thị trường” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2012: 106). Đến
nay, cổ phần hóa DNNN không nhất
thiết nhà nước phải nắm ít nhất 51%
cổ phần như trước đây.
TPKT tư nhân. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI (1986), đặc biệt là Hội
nghị Trung ương 6, khóa VI đã nhấn
mạnh chính sách nhất quán của Đảng
là phát triển kinh tế nhiều thành phần,
đồng thời khẳng định kinh tế tư nhân
(KTTN) được phát triển không hạn
chế về địa bàn, quy mô trong các
ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Từ Đại hội VII (1991), KTTN bắt đầu
được coi trọng và khuyến khích, tạo
điều kiện để phát triển. Đặc biệt, đến
Đại hội XII (2016), Đảng ta đã chính
thức khẳng định vai trò “động lực
quan trọng” của KTTN trong nền kinh
tế: “Nền KTTT định hướng XHCN Việt
Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù
hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở
hữu, nhiều TPKT, trong đó KTNN giữ
vai trò chủ đạo, KTTN là một động lực
quan trọng của nền kinh tế; các chủ
thể thuộc các TPKT bình đẳng, hợp
tác và cạnh tranh theo pháp luật”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 20).
Trên phương diện thực tiễn, những
chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, đặc
biệt là sự ra đời các Nghị quyết số
19/NQ-CP về cải thiện môi trường
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia được ban hành hàng
năm (kể từ năm 2014 đến nay); Nghị
quyết 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện
những nhiệm vụ, giải pháp, chủ yếu
cải thiện mội trường kinh doanh, năng
lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và
định hướng đến năm 2021; Nghị
quyết số 35/NQ-CP năm 2016 về hỗ
trợ phát triển DN đến năm 2020, cùng
nỗ lực mạnh mẽ của chính quyền các
địa phương đã tạo ra sự chuyển biến
tích cực trong việc tạo lập môi trường
kinh doanh công bằng giữa các TPKT,
thể hiện rõ qua kết quả đánh giá của
cộng đồng DN. Điều tra chỉ số năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) những
Thành tựu công bằng về cơ hội giữa
các TPKT còn thể hiện trong nhận
thức về sự bình đẳng cần phải có
giữa các TPKT, mà trước hết và quan
trọng nhất là việc xác lập quyền bình
đẳng trong sở hữu và quyền được
định đoạt tài sản của mình đối với các
TPKT. Khẳng định quyền bình đẳng,
tự do giữa các TPKT, tại Đại hội XII,
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ, chức năng, vai
trò cũng như phạm vi và phương thức
hoạt động của khu vực doanh nghiệp
nhà nước (DNNN), trong đó với nhiều
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
19
năm qua ghi nhận các doanh nghiệp tình với với nhận định đó. Tương tự,
dân doanh đã có những đánh giá tích có 80% doanh nghiệp đồng ý với nhận
cực hơn về mức độ bình đẳng của định “Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố
môi trường kinh doanh so với những linh hoạt trong khuôn khổ pháp luật
năm trước. Điều này thể hiện khá rõ nhằm tạo môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các doanh nghiệp tư
nhân” và 65,8% DN nhận thấy “Ủy
ban nhân dân tỉnh/thành phố năng
động và sáng tạo trong việc giải quyết
các vấn đề mới phát sinh”, đây là mức
cao nhất trong vòng 15 năm qua. Liên
tiếp các năm 2017, 2018, 2019 có
tương ứng 67%, 68% và 74,1% DN
cho biết các khó khăn, vướng mắc
được tháo gỡ kịp thời qua các cuộc
đối thoại, tiếp xúc DN tại tỉnh. Báo cáo
PCI cũng cho thấy các dịch vụ hỗ trợ
DN như tìm kiếm thông tin thị trường,
tư vấn pháp luật và tìm kiếm đối tác
đang dần được cải thiện về chất
lượng lẫn số lượng. Cải thiện môi
trường kinh doanh hướng đến công
bằng cho các DN còn phải kể đến
những cải cách trong chính sách thuế
theo hướng hỗ trợ DN và hiện đại hóa
quản lý thu thuế. Thuế thu nhập DN
đã được điều chỉnh giảm dần qua các
năm, với mức từ 32% năm 1999
xuống 25% năm 2009, năm 2019 là
20%. Các thủ tục hành chính thuế
cũng dần được chuẩn hóa và đơn
giản hóa. Tính đến cuối năm 2019, hệ
thống khai thuế điện tử đã triển khai
tại tất cả tỉnh, thành phố trên cả nước
và 100% chi cục thuế trực thuộc (Ban
Mai, 2021).
trong những đánh giá về mức độ ưu ái
của chính quyền địa phương đối với
các doanh nghiệp có vốn nhà nước và
doanh nghiệp FDI. Thực tế cho thấy,
với tiêu chí “các doanh nghiệp có
phần vốn nhà nước thường dễ dàng
hơn trong việc có được hợp đồng từ
cơ quan nhà nước”, tỷ lệ DN đồng ý
với nhận định này năm 2019 là 21%,
giảm đáng kể so với con số 27% của
năm 2015. Năm 2015, có 23% doanh
nghiệp dân doanh đồng ý với nhận
định các doanh nghiệp có phần vốn
nhà nước được thực hiện “thủ tục
hành chính nhanh chóng và đơn giản
hơn” thì năm 2019 chỉ còn 19,1% DN
đồng tình với nhận định này (Malesky,
2019: 53-54). Trong nhiều nỗ lực
nhằm cắt giảm chi phí cho DN, nhiều
địa phương trong cả nước đã xây
dựng trung tâm hành chính công tập
trung, nhờ đó các thủ tục hành chính
được thực hiện nhanh gọn và được
giám sát chặt chẽ, minh bạch, hiệu
quả. Kết quả điều tra PCI cũng cho
thấy các DN đã có cảm nhận tích cực
hơn về sự năng động, sáng tạo của
chính quyền các tỉnh, thành phố trong
việc tạo thuận lợi cho sự phát triển
của khu vực KTTN. Nếu như năm
2015, chỉ có 35,1% cho biết thái độ
của chính quyền địa phương đối với
khu vực KTTN là tích cực thì năm
2019 có 54,1% doanh nghiệp đồng
Thành tựu về tạo cơ hội bình đẳng
giữa các TPKT còn phải nhắc đến quá
trình tái cơ cấu nền kinh tế của Việt
20
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
Nam đã diễn ra trong suốt những năm tâm lớn của các nhà đầu tư trong và
đổi mới vừa qua, đặc biệt trong ngoài nước (Tạp chí Tài chính, 2018).
khoảng 20 năm trở lại đây. Trên thực
tế, tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam liên
quan đến việc đảm bảo sự bình đẳng
giữa các TPKT tập trung vào việc
giảm bớt các DNNN, đa dạng hóa các
loại hình DN thông qua cổ phần hóa
mạnh mẽ các DNNN. Sau khoảng 20
năm sắp xếp, đổi mới, DNNN đã giảm
mạnh về số lượng, đặc biệt là những
DN có quy mô nhỏ, DN kém hiệu quả,
DN ở các lĩnh vực nhà nước không
Những giải pháp cải cách cụ thể của
Chính phủ nhằm cải thiện chất lượng
môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo cơ
hội phát triển bình đẳng cho DN thuộc
mọi TPKT đã đạt được nhiều kết quả
tích cực. Môi trường đầu tư và kinh
doanh của nước ta đang được cải
thiện rõ rệt từng ngày, tinh thần sáng
tạo khởi nghiệp trong nước lên cao,
thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư
nước ngoài. Năm 2019, tổng vốn đầu
cần nắm giữ. Nếu như năm 1986, cả tư nước ngoài đăng ký đạt hơn 38 tỷ
USD, vốn giải ngân của các dự án FDI
đạt 20,4 tỷ USD, cao nhất từ trước
đến nay. Đáng chú ý, theo xếp hạng
của Ngân hàng Thế giới, năm 2018,
môi trường kinh doanh của Việt Nam
được xếp thứ 69/190 nền kinh tế, tăng
21 bậc so với ba năm trước (2015)
(Chí Hiếu, 2020).
nước có khoảng 12.000 DNNN; năm
2001, còn khoảng 6.000 DNNN; năm
2011 còn 1.369 DNNN (Thông tấn xã
Việt Nam, 2018) thì đến cuối năm
2018 cả nước chỉ còn 490 doanh
nghiệp nhà nước sở hữu 100% vốn
(Bạch Huệ, 2019). Nếu thời điểm năm
2001, DNNN dàn trải trên 60 ngành,
lĩnh vực thì đến nay chỉ còn tập trung
Bên cạnh những thành quả đạt được,
vào một số ít ngành, lĩnh vực trọng cơ hội phát triển cho các TPKT vẫn
yếu; đại đa số có quy mô vừa và lớn. cần tiếp tục được cải thiện và tạo điều
kiện đảm bảo sự bình đẳng. Dù quyền
tự do kinh doanh của doanh nhân, DN,
cũng như sự bình đẳng giữa các loại
hình DN đã được quy định trong Hiến
pháp và pháp luật, nhưng theo phản
ánh của cộng đồng DN, trên thực tế
sự phân biệt đối xử vẫn còn khá lớn;
một bộ phận lớn các doanh nghiệp
dân doanh là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) chưa thực sự được
đối xử bình đẳng với khối DNNN,
doanh nghiệp FDI.
Diễn đàn Thúc đẩy quá trình đổi mới
và nâng cao hiệu quả DNNN tổ chức
ngày 6/11/2018 tại Hà Nội đã thông tin
“từ năm 2016 đến hết tháng 10/2018,
cả nước đã phê duyệt phương án cổ
phần hóa 136 DNNN, trong đó, đã tiến
hành cổ phần hóa nhiều DN quy mô
rất lớn như: Tập đoàn Cao su Việt
Nam, các Tổng công ty Phát điện 3,
Điện lực Dầu khí, Lọc Hóa dầu Bình
Sơn…”. Sau khi cổ phần hóa, số
lượng cổ phiếu IPO (phát hành ra
công chúng lần đầu) của các DN này
Kết quả điều tra PCI giai đoạn 2006-
đều bán hết và nhận được sự quan 2019 cho thấy vẫn tồn tại một “sân
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
21
chơi” chưa thật sự bình đẳng giữa hợp với năng lực phát triển của từng
các loại hình DN, mà thiệt thòi nhất
vẫn là nhóm doanh nghiệp dân doanh
nhỏ và vừa dù nhóm này đang chiếm
số lượng không nhỏ trong nền kinh tế.
Dù đã giảm so với các năm trước,
nhưng vẫn còn 21% DN cho rằng
“các doanh nghiệp có phần vốn nhà
nước thường dễ dàng hơn trong việc
có được hợp đồng từ cơ quan nhà
nước”.
chủ thể kinh tế. Có thể kể đến một số
quyền quan trọng như: quyền vay vốn,
quyền chuyển nhượng, thế chấp tài
sản, quyền sử dụng đất, quyền được
bảo hộ sản xuất... Để thực hiện mục
tiêu đó, Nhà nước đã xây dựng và
thực hiện chính sách phát triển các
loại thị trường, từng bước đồng bộ
hóa các loại thị trường này. Nhà nước
cũng chú ý đến sự thống nhất hữu cơ
và mối quan hệ lẫn nhau của các loại
thị trường, đặc biệt là các thị trường
cung ứng tư liệu sản xuất đầu vào cho
Nghị quyết 02/NQCP ngày 1/1/2019,
Chính phủ đã đánh giá rất thẳng thắn
về tình hình thực hiện các nhiệm vụ,
giải pháp cải thiện môi trường kinh nền kinh tế, như: thị trường lao động,
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thị trường vốn, thị trường khoa học và
quốc gia, khi cho rằng “một số hành
động cải cách chưa thực chất, còn
hình thức” và “không ít nơi, ít lúc
doanh nghiệp, người dân vẫn bị gây
khó khăn, nhũng nhiễu bởi những quy
định còn nặng tính cục bộ của một số
cơ quan công quyền và một bộ phận
công chức, viên chức” (Nghị quyết,
1/1/2019). Điều tra PCI những năm
qua cho thấy một số lĩnh vực thủ tục
hành chính được DN đánh giá là “còn
nhiều phiền hà”, như đất đai (35%),
thuế, phí (25%), bảo hiểm xã hội (23%)
(Malesky, 2019: 63).
công nghệ-thông tin, thị trường bất
động sản… Trong đó, các thị trường
quan trọng: sức lao động, tiền tệ, bất
động sản đã được nhà nước đặc biệt
quan tâm, ban hành nhiều chính sách
điều chỉnh, định hướng phát triển theo
hướng lành mạnh hóa, chống độc
quyền và theo quy luật của KTTT.
Nghiên cứu của Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm
2011 về 16 luật và khoảng 200 văn
bản hướng dẫn của Chính phủ đang
có hiệu lực, liên quan nhiều nhất và có
nhiều vướng mắc đến thời điểm đó,
trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên
cứu, rà soát từng nội dung, quy định
cụ thể, các chuyên gia đã chỉ ra 8 “cái
được” của các luật này, trong đó quan
trọng nhất là các quy định hiện hành
3.2. Công bằng trong tiếp cận các
nguồn lực
Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tất cả các chủ thể kinh tế trong nền
KTTT đều có quyền ngang nhau trong đã tạo điều kiện cho các DN được tiếp
cận thị trường, tiếp cận các nguồn lực:
đất đai, vốn, nhân lực… (Nguyễn Thị
Lan Hương, 2016: 102-103).
việc tiếp cận với tư liệu sản xuất và
những điều kiện sản xuất, kinh doanh
dưới nhiều hình thức khác nhau, phù
22
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
Thứ nhất, nguồn lực đất đai. Các nước ngoài; quy định cụ thể điều kiện
TPKT từng bước được xác định
quyền bình đẳng, quyền tiếp cận,
quyền được nhà nước giao đất, cho
thuê đất để thực hiện dự án đầu tư,
làm mặt bằng sản xuất kinh doanh và
nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Luật Đất đai qua nhiều lần được sửa
đổi đã quy định quyền sử dụng đất lâu
dài của cá nhân, các TPKT, đồng thời
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình
hình thực tiễn. DN thuộc các TPKT
khác nhau được bình đẳng trong
quyền sở hữu, sử dụng đất lâu dài.
Không những thế, các DNNVV, phần
lớn thuộc TPKT tư nhân, không
những không bị phân biệt đối xử mà
còn được trợ giúp phát triển.
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
để thực hiện dự án đầu tư nhằm lựa
chọn được nhà đầu tư có năng lực
thực hiện dự án…
Thứ hai, là nguồn lực vốn, một nguồn
lực đặc biệt quan trọng mang tính
sống còn của DN. Trong khoảng hơn
10 năm trở lại đây, Nhà nước đã ban
hành rất nhiều chính sách hỗ trợ cho
các DN, đặc biệt là các DNNVV (chủ
yếu thuộc khu vực dân doanh). Để hỗ
trợ các DNNVV, Chính phủ đã nỗ lực
thực hiện nhiều giải pháp, trong đó tập
trung vào giải pháp về nguồn vốn.
Quỹ phát triển DNNVV được đưa vào
hoạt động (từ năm 2014), là một trong
những biện pháp quan trọng giúp
DNNVV tiếp cận nguồn vốn phục vụ
sản xuất, kinh doanh. Đối tượng được
hỗ trợ là các DN có tiềm năng phát
triển tốt, có dự án, phương án kinh
doanh khả thi và những DN nằm trong
diện ưu tiên, như DN phụ trợ, DN chế
biến nông sản, DN xuất khẩu... Thông
tư số 39/2016/NHNN của Ngân hàng
Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các
DNNVV có dự án, phương án sản
xuất - kinh doanh khả thi thuộc lĩnh
vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà
nước, nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, góp phần làm
tăng thu nhập, tạo việc làm cho người
lao động. Theo đánh giá của cộng
Luật Đất đai bổ sung (2013) quy định
cụ thể, rõ ràng từ nguyên tắc đến nội
dung việc mở rộng dân chủ, công khai
trong quá trình lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất. Luật đã dành một
chương để quy định về việc xây dựng
hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ
liệu đất đai, hệ thống giám sát, theo
dõi, đánh giá đối với quản lý và sử
dụng đất đai được công khai, minh
bạch và đảm bảo dân chủ trong điều
kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân và
đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất
đai của mọi người dân. Công dân có
quyền tự mình hoặc thông qua các tổ
chức đại diện thực hiện quyền giám
sát và phản ánh các sai phạm trong đồng DN, các chính sách này bước
quản lý và sử dụng đất đai. Ngoài ra, đầu đã phát huy hiệu quả nhất định
Luật Đất đai mới đã thiết lập sự bình trong việc giải bài toán khó về thiếu
vốn cho các doanh nghiệp dân doanh,
đặc biệt là DNNVV.
đẳng hơn trong quyền được tiếp cận
đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
23
Thứ ba, là việc phân bổ nguồn nhân đều được cải thiện nhiều so với thời
lực. Có thể nói, việc chuyển dịch cơ điểm bắt đầu (năm 2009) khảo sát. Đó
là những tín hiệu đáng mừng trong nỗ
lực của Chính phủ và các địa phương
nhằm từng bước tạo lập quyền bình
đẳng trong tiếp cận các nguồn lực
phục vụ sản xuất, kinh doanh của các
DN khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
cấu hợp lý của nền kinh tế trong thời
gian qua đã tác động tích cực đến sự
hình thành một cơ chế phân bổ nguồn
nhân lực có hiệu quả, theo hướng
hình thành các quan hệ thị trường lao
động. Sự chuyển dịch cơ cấu lao
động theo khu vực kinh tế là chuyển
biến quan trọng trong phân bố nguồn
lực lao động để khai thác tốt tiềm
năng của các khu vực kinh tế trong
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
tích cực ấy, vẫn còn những bất cập
trong thực hiện công bằng, bình đẳng
trong tiếp cận nguồn lực đối với các
nền KTTT hiện nay. Kết quả của sự TPKT. Các DN khu vực ngoài nhà
chuyển dịch đó là tỷ trọng lao động nước khi được khảo sát vẫn đánh giá
họ chưa thực sự được đối xử công
bằng (so với DNNN). Trong khi doanh
nghiệp dân doanh phải “gồng mình”
đấu tranh để sinh tồn: tự bỏ vốn, tự tổ
chức, tự chủ trong kinh doanh và tự
bù lỗ, thì DNNN thường là những DN
lớn được ưu tiên về đất đai, tín dụng,
thuế, tiếp cận khoa học kỹ thuật, hợp
đồng mua sắm, tiêu thụ sản phẩm…
thậm chí không sợ phá sản cho dù
thua lỗ kéo dài, luôn tận dụng được
“cơ chế xin - cho” trong phân phối và
tiếp cận các nguồn lực …
của khu vực ngoài nhà nước (doanh
nghiệp dân doanh và doanh nghiệp
FDI) tăng mạnh trong thời gian qua, từ
56,4% giai đoạn 2001-2005 lên 76,8%
giai đoạn 2006-2010 và đến hết năm
2018, là 92,4%, trong đó khu vực
doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm
60,6%; khu vực doanh nghiệp FDI
chiếm 31,8% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
2020: 43). Nếu thời điểm 2006, số
lượng lao động làm việc cho các DN
khu vực ngoài nhà nước chỉ khoảng
hơn 3 triệu, năm 2014 tăng hơn 10,5
triệu, đến cuối 2018 là 13,7 triệu, ngay
cả trong những giai đoạn lạm phát và
suy thoái kinh tế, số lượng lao động ở
khu vực này thực tế vẫn không giảm.
Mặt khác, so sánh tương quan về hiệu
quả đầu tư của hai khu vực này cũng
cho thấy sự chưa phù hợp nhất định
giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống
hiến và hưởng thụ nếu xét trên tiêu
chí của “công bằng”. Số liệu nghiên
cứu về tác động của đầu tư đối với
tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2012-2017 cho thấy, nếu tăng
Ở tiêu chí “Dịch vụ hỗ trợ DN”, khảo
sát PCI 5 nhóm dịch vụ gồm: (i) Cung
cấp thông tin thị trường, (ii) Tư vấn
thông tin pháp luật, (iii) Hỗ trợ tìm
kiếm đối tác kinh doanh, (iv) Xúc tiến
thương mại và hội chợ/triển lãm, (v) 1% tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ
Công nghệ và các dịch vụ liên quan
thì chất lượng cung cấp ở cả 5 dịch vụ
khu vực DNNN làm tăng 0,37% GDP;
từ khu vực DN ngoài nhà nước, hộ cá
24
HỒ TRẦN HÙNG – CÔNG BẰNG VỀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN…
thể và hộ dân cư làm tăng 0,80%... góp của người sử dụng lao động;
(Đinh Trọng Thắng, 2019). Như vậy, giảm giá thuê đất, giảm mức thu phí,
xét trên hiệu quả đầu tư (riêng góc độ một số loại phí, lệ phí; đồng thời được
kinh tế), thì khu vực ngoài nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong
vẫn đang phát huy hiệu quả tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài
khu vực KTNN. Phó Chủ nhiệm Ủy ra, chính sách thuế; chính sách ưu đãi
ban Tài chính - Ngân sách của Quốc đầu tư; giải quyết các vấn đề của sau
hội cho rằng: a trụ cột của nền kinh cổ phẩn hóa… cũng cần được tiếp tục
tế, gồm DNNN, DN tư nhân và DN điều chỉnh, bổ sung và cụ thể hóa
FDI đang phát triển tương đối đồng trong các luật như Luật Đầu tư, Luật
đều, xét ở quy mô đóng góp vào GDP.
Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh trong
Nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực thời gian tới… (Đức Dũng, 2020).
của xã hội và hiệu quả hoạt động thì
4. KẾT LUẬN
khác nhau. Cụ thể, hiện nay, DNNN
Với quyết tâm cải cách mạnh mẽ nền
đóng góp gần 40% vào GDP, 60%
kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc
còn lại của GDP là đóng góp từ DN tư
tế sâu rộng, Đảng và Nhà nước ta đã
nhân và DN FDI, mỗi bên gần 30%.
chú trọng việc thực hiện công bằng
Nhưng về sử dụng nguồn lực xã hội,
đối với các TPKT trên cả phương diện
khoảng 60% nguồn lực đang tập trung
lý luận lẫn thực tiễn, từ những thay đổi
cho DNNN. Tức là trong 100 đồng tín
trong nhận thức của Đảng, đến những
dụng cho vay, DNNN vay 60 đồng
hoạch định, thực thi chính sách, điều
song chỉ làm ra 40% GDP, các thành
hành của Nhà nước đã thu được
phần còn lại vay 40 đồng, làm ra 60%
nhiều kết quả tích cực. Kinh tế nhà
GDP. Con số này cho thấy khu vực
nước ngày càng thể hiện tốt hơn vai
DNNN sử dụng vốn chưa hiệu quả
trò đầu tàu, “chủ đạo”, dẫn dắt nền
(Báo Nhân dân, ngày 29/6/2019). Bên
cạnh đó, còn gặp khó khăn về mặt
bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục
hành chính liên quan đến đất đai hay
rủi ro bị thu hồi đất kinh doanh. Đây
cũng là một nguyên nhân khiến DN
không tự tin mở rộng đầu tư và xây
dựng chiến lược kinh doanh dài hạn,
đặc biệt là các DN FDI. Cả DN trong
nước mà các DN FDI đều bày tỏ
mong muốn được giảm thiểu thủ tục
kinh theo định hướng XHCN; kinh tế
ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài có những phát triển vượt
bậc, để lại dấu ấn quan trọng trong
những năm qua, góp phần nâng cao
năng lực và sức cạnh tranh của nền
kinh tế. Bên cạnh những thành tựu đã
đạt được, quá trình thực hiện công
bằng giữa các TPKT ở nước ta còn
tồn tại bất cập, hạn chế cần khắc phục
để phát triển bền vững. Bởi thực hiện
hành chính và chi phí kinh doanh cho tốt công bằng trong kinh tế không chỉ
là động lực thúc đẩy tăng trưởng, phát
triển kinh tế mà còn là cơ sở cho việc
doanh nghiệp, đảm bảo mặt bằng lãi
suất phù hợp; giảm bớt các mức đóng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021
25
thực hiện công bằng xã hội nói chung, thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
góp phần sớm đưa đất nước hoàn công bằng, dân chủ, văn minh.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
2. an Mai. 2021. “Ngành thuế không để tình trạng “trên nóng, dưới
dan.com.vn/tin-tuc-kinh-te/tim-lai-suc-manh-cho-doanh-nghiep-nha-nuoc-362749, truy cập
ngày 19/01/2021.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 2020. Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020. Hà Nội:
Nxb. Thống kê.
nien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/can-cong-bang-minh-bach-trong-tiep-can-nguon-luc-
1170635.html, truy cập ngày 18/1/2021.
6. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019
về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội:
Nxb. Chính trị Quốc gia.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2006. Văn kiện Đảng toàn tập - tập 47. Hà Nội: Nxb. Chính
trị Quốc gia.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2012. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội:
Nxb. Chính trị Quốc gia.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn
phòng Trung ương Đảng. Hà Nội.
11. Đinh Trọng Thắng. 2019. “Quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong phát
12. Đức Dũng. 2020. “Doanh nghiệp kỳ vọng bình đẳng tiếp cận các nguồn lực”.
13. Malesky, E.J. 2019. Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
14. Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên). 2016. Thực hiện công bằng xã hội đối với các
thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.
15. Tạp chí Tài chính. 2018. “Đến năm 2020, cả nước chỉ còn khoảng hơn 100 doanh
16. Thông tấn xã Việt Nam. 2018. “Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh”.
d76783.html, truy cập ngày 19/1/2021.
Bạn đang xem tài liệu "Công bằng về cơ hội phát triển và tiếp cận nguồn lực giữa các thành phần kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cong_bang_ve_co_hoi_phat_trien_va_tiep_can_nguon_luc_giua_ca.pdf

