Giai cấp xã hội dựa theo thu nhập ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, 1998-2018
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 1(50)-2021
GIAI CẤP XÃ HỘI DỰA THEO THU NHẬP
Ở BẮC TRUNG BỘ VÀ DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG, 1998-2018
Bùi Thế Cường(1), Trương Sĩ Ánh(2)
(1) Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; (2) Kantar Group
Ngày nhận bài 15/08/2020; Ngày gửi phản biện 20/08/2020; Chấp nhận đăng 30/1/2021
Tóm tắt
Dựa trên số liệu khảo sát mức sống dân cư Tổng cục Thống kê, bài viết xem xét
phân tầng xã hội ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung thời kỳ 1998-2018 theo hai
hướng. Một, đánh giá sự tiến hóa của tháp phân tầng xã hội theo thu nhập, tức biến đổi
trong phân bố tỷ lệ của sáu giai cấp xã hội dựa theo thu nhập. Hướng thứ nhất chỉ ra xu
hướng biến đổi tích cực, cơ cấu tháp phân tầng biến đổi theo hướng đáng mong muốn.
Hai, đánh giá mức bất bình đẳng thu nhập giữa sáu giai cấp thông qua hệ số chênh
lệch so sánh với giai cấp có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất. Hướng thứ hai
chỉ ra xu hướng tiêu cực, mức chênh lệch thu nhập giữa các giai cấp là cao và có xu
hướng tăng mạnh, nhất là ở giai cấp trên và giai cấp trung lưu trên.
Từ khóa: phân tầng xã hội, giai cấp xã hội dựa theo thu nhập, Bắc Trung Bộ và duyên
hải miền Trung, khảo sát mức sống dân cư
Abstract
INCOME-BASED SOCIAL CLASSES IN THE NORTH CENTRAL AND
CENTRAL COASTAL AREAS OF VIET NAM, 1998-2018
Using the data sets conducted by the Vietnam National Statistical Office, the
paper analyzes the social stratification in the North Central and Central Coastal Areas
of Vietnam during the period 1998-2018 in two directions. Firstly, the evolution of
social stratification pyramid is examined, and secondly, the inequality between income-
based social classes is accounted. Accordingly, the figure of social stratification by
income changed positively in the surveyed period. However, the income inequality was
very high and remarkedly increasing.
1. Đặt vấn đề
Trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa khởi động ở miền Bắc sau 1954 và trên
cả nước sau 1975, các nhà hoạch định chính sách luôn quan tâm đến mục tiêu thiết lập
bình đẳng xã hội theo giai cấp, giới và tộc người. Trên thực tế, bình đẳng xã hội đã có
3
những kết quả rõ rệt. Với chính sách Đổi mới năm 1986 áp dụng kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đã diễn ra những khác biệt kinh tế - xã hội ngày càng rõ nét
giữa các nhóm xã hội, gây lo ngại trong giới hoạch định chính sách, học giả và công
luận. Trong 35 năm qua kể từ sau Đổi mới, khác biệt xã hội giữa các giai cấp và tầng
lớp xã hội luôn là chủ đề thời sự trong nghiên cứu xã hội và phân tích chính sách.
Trong bài viết “Giai tầng xã hội dựa trên thu nhập ở Việt Nam, 1998-2018”, Bùi Thế
Cường và Trương Sĩ Ánh (2020) đề xuất một khung phân loại sáu giai cấp xã hội theo thu
nhập, dùng nó xử lý bộ số liệu VHLSS năm 1998, 2008 và 2018 của Tổng cục Thống kê,
để mô tả động năng cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam thập niên 2000-2010. Trong bài viết
này, chúng tôi tiếp tục mạch nghiên cứu trên, sử dụng khung phân loại đã đề xuất để xem
xét cơ cấu giai cấp xã hội dựa trên thu nhập ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung. Đây là một sản phẩm của Đề tài “Cơ cấu giai tầng xã hội vùng Đông Nam Bộ giai
đoạn 2010-2020” do Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam phê duyệt và tài trợ. Bài viết
gồm bốn phần: Sau mở đầu; phần hai đề cập phương pháp, nguồn số liệu và bối cảnh vùng
kinh tế-xã hội; phần ba trình bày kết quả phân tích; phần cuối tóm tắt kết quả chính.
2. Phương pháp, nguồn số liệu và bối cảnh vùng kinh tế-xã hội
Bài viết này nằm trong một nhóm các bài viết nhằm mục đích chung là phân tích
các giai cấp xã hội dựa theo thu nhập với các bộ số liệu VHLSS của Tổng cục Thống kê
trong giai đoạn 1998-2008 trên cả nước và ở các vùng kinh tế-xã hội khác nhau. Những
vấn đề chính liên quan đến khái niệm và khung phân tích đã được đề cập trong bài “Giai
tầng xã hội dựa trên thu nhập ở Việt Nam, 1998-2018” (Bùi Thế Cường & Trương Sĩ
Ánh, 2020). Trong bài viết, nhóm tác giả sử dụng thuật ngữ “giai cấp xã hội dựa theo
thu nhập” như một khái niệm làm việc để phân tích thống kê. Đây là một khung phân
tích phổ biến trên thế giới. Chẳng hạn, Tan Ern Ser (2004, 2015) đã tiến hành hai khảo
sát phân tầng xã hội ở Singapore. Dựa trên phân loại 14 phạm trù thu nhập của Cục
Thống kê Singapore, Tan (2015) đưa ra khung phân loại sáu giai cấp xã hội dựa trên
tiêu chí thu nhập.
Ở Việt Nam, lối phân loại dựa trên mức sống (thu nhập hoặc chi tiêu) rất phổ biến
từ thập niên 1980 đến nay trong các cơ quan thống kê chính thức, các tổ chức quốc tế đa
phương như Ngân hàng Thế giới, và trong giới học thuật (Bùi Thế Cường, 2019; Bùi
Thế Cường & Trương Sĩ Ánh, 2020). Đầu thập niên 1990, Ngân hàng Thế giới (1995)
du nhập vào Việt Nam lối phân tích phân tầng xã hội theo thu nhập dựa trên việc phân
chia các hộ gia đình thành năm nhóm ngũ vị phân theo thu nhập hay chi tiêu [quintile].
Gần đây, Ngân hàng Thế giới sử dụng khung phân loại bốn hoặc năm giai cấp dựa trên
thu nhập. Khung bốn giai cấp theo thu nhập/chi tiêu được Ngân hàng Thế giới đề cập
trong Việt Nam 2035 Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng, và dân chủ (Ngân
hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam, 2016). Đó là: Trung lưu thế giới
[global middle class]); người tiêu dùng mới nổi [emerging consumer]; người cận nghèo
4
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 1(50)-2021
[near poor]; và người nghèo thế giới [global poor]. Khung “năm giai cấp kinh tế” được
Ngân hàng Thế giới sử dụng trong Báo cáo phát triển Việt Nam 2019. Việt Nam – Kết
nối vì phát triển và thịnh vượng chung (2020). Đó là: Người nghèo cùng cực [extremely
poor]; người nghèo vừa phải [moderately poor]; người dễ bị tổn thương kinh tế
[economically vulnerable]; nhóm an toàn về kinh tế [economically secure]; và giai cấp
trung lưu toàn cầu [global middle class].
Ly Chu phê phán tình trạng các nhà nghiên cứu ở Việt Nam chỉ tập trung vào lối
nghiên cứu phân tầng xã hội dựa theo kinh tế, khuyến nghị nên dùng những cách tiếp
cận cập nhật hơn, chẳng hạn lối phân tích giai cấp từ quan điểm văn hóa (Chu, 2018).
Theo tôi, giới nghiên cứu ở Việt Nam rất nên cân nhắc nhận xét và khuyến nghị của Ly
Chu. Tuy nhiên, trong khi một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam có thể và cần quan tâm
hơn tiếp cận văn hóa trong chủ đề phân tầng xã hội, thì không phải vì thế mà lối phân
loại dựa trên mức sống không còn cần thiết và không còn ý nghĩa nữa. Khía cạnh kinh
tế luôn là một chiều cạnh quan trọng góp phần nhận diện cơ cấu phân tầng xã hội. Mike
Savage và cộng sự vẫn chú trọng phân tích vốn kinh tế của các giai cấp, ngay cả khi họ
sử dụng tiếp cận văn hóa của Pierre Bourdieu (Savage và nnk., 2013, 2015a, 2015b;
Savage, 2016). Ở Việt Nam, bên cạnh Ngân hàng Thế giới có Oxfam (2018) vẫn lấy
kinh tế làm lát cắt phân tích chính để soi sáng chuyển dịch cơ cấu xã hội.
Phương pháp chính của bài viết là phân tích dữ liệu cấp hai [secondary analysis,
phân tích lại những bộ dữ liệu đã có], dùng nguồn số liệu từ ba cuộc điều tra mức sống
hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 1998, 2008, và 2018 của Tổng cục Thống kê.
Sử dụng kỹ thuật phân nhóm k-means, nhóm tác giả tạo nên một khung phân loại
gồm sáu giai cấp xã hội (dựa trên thu nhập), đặt tên là: Giai cấp trên, giữa trên, giữa
giữa, giữa dưới, dưới trên, và dưới dưới [upper, upper middle, middle middle, lower
middle, upper lower, lower lower class]. Khi phân tích, sáu giai cấp xã hội cũng được
gom thành ba tầng xã hội: tầng trên (gồm giai cấp trên và giữa trên), tầng giữa (gồm giai
cấp giữa giữa và giữa dưới), và tầng dưới (gồm giai cấp dưới trên và dưới dưới). Đôi
khi, chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ giai cấp trung lưu cho các giai cấp giữa (trung
lưu trên, trung lưu giữa, và trung lưu dưới).
Bảng 1 thể hiện diện tích, dân số, và thu nhập bình quân đầu người tháng theo sáu
vùng kinh tế-xã hội giai đoạn 2010-2018. Từ thu nhập bình quân đầu người, có thể thấy
mức phát triển kinh tế của Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung đứng thứ tư trong
sáu vùng. Năm 2018, thu nhập bình quân tháng đầu người ở Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung là 3.015.000 VND, bằng 77,8% so với mức bình quân cả nước. Nói cách
khác, chỉ số đó cho thấy Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là vùng nghèo của Việt
Nam, chỉ đứng trên Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc. Nhìn theo thời gian,
thu nhập bình quân tháng đầu người ở Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung năm
2018 tăng gần ba lần so với 2010, trong khi mức tăng chung cả nước là 2,8 lần. Hai chỉ
số trên giúp ta hình dung mức độ và tốc độ phát triển kinh tế ở vùng khảo sát.
5
Bảng 1. Diện tích, dân số, và thu nhập theo sáu vùng kinh tế-xã hội, 2010-2018
TT
1
Vùng kinh tế-xã hội
Diện tích,
Dân số,
1.000
người
Thu nhập bình quân tháng đầu người,
km2
1.000VND
2010
2012
2014
2016
2018
Trung du miền núi phía
Bắc
95.222,2 12.292,7
905 1.258 1.613 1.963 2.455
2
3
Đồng bằng sông Hồng
21.260,0 21.566,4 1.580 2.351 3.265 3.883 3.834
95.876,0 20.056,9 1.018 1.505 1.982 2.358 3.015
Bắc Trung Bộ và duyên
hải miền Trung
4
5
6
Tây Nguyên
54.508,3
5.871,0 1.088 1.643 2.008 2.366 2.896
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Cả nước
23.552,8 17.074,3 2.304 3.173 4.125 4.662 5.709
40.816,4 17.804,7 1.247 1.797 2.327 2.778 3.588
331.235,7 94.666,0 1.387 2.000 2.637 3.098 3.876
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018: 51-56, 410.
3. Kết quả phân tích
Phần này nhận diện cơ cấu giai cấp theo thu nhập ở Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung. Chúng tôi xem xét hai đặc điểm. Thứ nhất, sự thay đổi tỷ lệ định lượng các
giai cấp và tầng xã hội tạo nên thay đổi của hình dạng phân tầng xã hội qua thời gian.
Thứ hai, mức chênh lệch thu nhập giữa các giai cấp và tầng xã hội trong giai đoạn
nghiên cứu. Trong phân tích, chúng tôi cũng so sánh thành thị với nông thôn và ở một
số chỗ so sánh với các vùng kinh tế-xã hội khác.
Bảng 2 mô tả cơ cấu sáu giai cấp và ba tầng xã hội theo thu nhập ở vùng Bắc
Trung Bộ và duyên hải miền Trung giai đoạn 1998-2018. Trong thập niên 2000, cơ cấu
ba tầng xã hội theo thu nhập vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung vẫn ở dạng
tháp, phần đáy gần 80% và giảm xuống còn 64% năm 2008. Nó đã tiến hóa sang dạng
thoi trong thập niên 2010 với phần đáy không đầy 1/3 vào năm 2018.
Trong hai mươi năm, nhìn chung bốn giai cấp xã hội theo thu nhập ở phía trên
tháp phân tầng đều tăng tỷ trọng, hai giai cấp ở phía dưới giảm tỷ trọng. Tiến bộ rõ rệt
hơn cả ở giai cấp trung lưu dưới và giai cấp dưới dưới. Năm 1998, trung lưu dưới chiếm
tỷ lệ 6,2%, hai mươi năm sau lên 41,3%, tăng 6,7 lần. Con số này ở giai cấp dưới dưới
là 44,0% và 6,5%, giảm 6,8 lần. Đáng chú ý, giai cấp trên của vùng này tuy nhỏ nhưng
giảm trong thời kỳ nghiên cứu (1,4% năm 1998 và 0,8% năm 2018), một hiện tượng
giống vùng Đông Nam Bộ.
Cơ cấu giai cấp ở khu vực thành thị của vùng này vẫn ở dạng tháp năm 1998,
phần thân gần 40% và phần đáy gần 60%. Đến 2008, cơ cấu này trở thành hình thoi với
sự đảo ngược: Phần thân lên tới 66,0% và phần đáy chỉ còn gần 1/3. Đến 2018, dạng
thoi trở thành đỉnh to đáy nhỏ: Phần thân đã chiếm gần 80%, phần đáy chỉ còn 9,0%, và
đáng chú ý là phần đỉnh đạt tới 12,4%. Tuy nhiên, câu chuyện nông thôn hơi khác, mặc
6
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 1(50)-2021
dù cũng theo khuôn mẫu tiến bộ chung. Trong mười năm đầu, cơ cấu giai cấp ở nông
thôn ở dạng tháp, có tiến hóa nhưng không thực sự đáng kể. Tỷ lệ tầng giữa chỉ tăng
khoảng mười điểm phần trăm, đồng thời tỷ lệ tầng dưới giảm tương tự. Năm 2018 đạt
được hình thoi, nhưng phần đáy vẫn còn chiếm gần 40%. Tiến bộ thấy rõ ở nông thôn
chủ yếu ở trung lưu dưới và giai cấp dưới dưới. Sau 20 năm, tỷ lệ trung lưu dưới ở nông
thôn tăng 7,6 lần và giai cấp dưới dưới giảm 5,7 lần.
Bảng 2. Tỷ lệ phần trăm sáu giai cấp và ba tầng xã hội theo thu nhập theo thành thị-
nông thôn, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 1998-2018
TT
Phân tầng
xã hội
Thành thị
Nông thôn
Chung
2008
1998
1,5
2008
2018
0,8
1998
0,0
2008
2018
0,3
1998
0,3
2018
A
1
2
3
4
5
6
Sáu giai cấp
Trên
0,6
2,4
0,0
0,4
0,2
0,8
0,4
4,8
Giữa trên
Giữa giữa
Giữa dưới
Dưới trên
Dưới dưới
Tổng
0,8
29,8
9,4
11,6
37,8
40,7
8,3
0,2
10,6
5,5
2,5
16,7
41,6
30,5
8,5
0,3
14,0
6,2
45,8
20,2
22,5
8,5
10,8
15,4
37,1
36,3
100,0
18,5
16,4
33,9
30,1
22,1
41,3
24,9
6,5
35,9
22,6
100,0
35,1
48,6
100,0
35,3
44,0
0,7
100,0
100,0
100,0
100,0 100,0 100,0
B
1
Ba tầng
Trên
(A1+2)
2,3
39,2
58,5
3,0
66,0
31,0
12,4
78,5
9,0
0,2
16,1
83,7
0,4
26,2
73,4
2,8
58,3
39,0
0,6
20,2
79,3
1,0
34,9
64,0
5,2
63,4
31,4
2
3
Giữa
(A3+4)
Dưới
(A5+6)
Tổng
100,0
360
100,0
1.548
100,0
603
100,0
1.102
100,0
540
100,0
1.389
100,0 100,0 100,0
1.462 2.088 1.992
N (hộ)
Nguồn: Nhóm tác giả xử lý từ bộ số liệu gốc: Tổng cục Thống kê. Số liệu điều tra mức sống dân cư năm
1998, 2008, và 2018. Số liệu gia trọng.
Bảng 3 thể hiện thu nhập bình quân đầu người tháng của sáu giai cấp xã hội dựa
trên thu nhập và hệ số chênh lệch giữa sáu giai cấp đó xét theo thành thị và nông thôn
trong giai đoạn 1998-2018. Năm 1998, hệ số chênh lệch giữa giai cấp trên so với giai
cấp dưới dưới là 31,0. Hệ số này là 29,9 năm 2008 và 39,1 năm 2018. Mức bất bình
đẳng thu nhập vào cuối thập niên 1990 đã rất cao, không thay đổi trong thập niên 2000,
và đạt mức tăng mới trong thập niên 2010. Vào năm 2018, nhìn chung mỗi giai cấp bậc
trên có hệ số chênh lệch thu nhập gấp đôi so với giai cấp bậc dưới mình, nhưng mức thu
nhập bình quân của giai cấp trên gấp 2,8 lần so với giai cấp giữa trên ngay dưới nó.
So sánh thành thị và nông thôn, điều không ngạc nhiên là thu nhập bình quân đầu
người tháng nói chung cũng như giữa các giai cấp cùng bậc ở thành thị thường cao hơn
ở nông thôn và duy trì mức chênh lệch suốt thời gian được khảo sát, tuy có giảm đôi
7
chút vào cuối thập niên 2010. Năm 1998 và 2008, thu nhập bình quân đầu người tháng
ở thành thị cao gấp 1,9 lần ở nông thôn. Con số này là 1,7 lần năm 2018.
Bảng 3. Thu nhập trung bình và hệ số chênh lệch của sáu giai cấp xã hội dựa trên thu
nhập theo thành thị-nông thôn, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, 1998-2018
TT
Giai cấp
xã hội
Thành thị
Thu nhập Hệ số
trung bình chênh lệch trung bình chênh lệch trung bình chênh lệch
Nông thôn
Chung
Thu nhập Hệ số
Thu nhập
Hệ số
A
1
2
3
4
5
6
VLSS 1998
Trên
2970
1337
564
307
211
106
352
360
28.1
12.6
5.3
-
1426
471
308
206
95
-
15.1
5.0
2970
1385
505
307
207
96
31.0
14.5
5.3
Giữa trên
Giữa giữa
Giữa dưới
Dưới trên
Dưới dưới
Chung
2.9
3.2
3.2
2.0
2.2
2.2
1,0
1,0
1,0
188
1102
217
1462
Mẫu (Hộ)
VHLSS 2008
Trên
B
1
2
3
4
5
6
8005
3734
1670
922
27.5
12.8
5.7
13532
4318
1503
906
44.4
14.2
4.9
9090
3954
1594
911
29.9
13.0
5.3
Giữa trên
Giữa giữa
Giữa dưới
Dưới trên
Dưới dưới
Chung
3.2
3.0
3.0
562
1.9
583
1.9
580
1.9
292
1,0
305
1,0
304
1,0
1240
540
652
782
Mẫu (Hộ)
VHLSS 2018
Trên
1548
2088
C
1
2
3
4
5
6
27411
8641
4840
2772
1455
742
36.9
11.6
6.5
22127
8939
4576
2647
1367
632
35.0
14.1
7.2
24826
8756
4691
2678
1375
635
39.1
13.8
7.4
Giữa trên
Giữa giữa
Giữa dưới
Dưới trên
Dưới dưới
Chung
3.7
4.2
4.2
2.0
2.2
2.2
1,0
1,0
1,0
4309
603
2616
1,389
3047
1,992
Mẫu (Hộ)
Nguồn: Nhóm tác giả xử lý từ bộ số liệu gốc: Tổng cục Thống kê. Số liệu điều tra mức sống dân cư năm
1998, 2008, và 2018. Chú thích: Thu nhập trung bình: bình quân đầu người/ tháng (1.000 VND). Hệ số
chênh lệch: So với nhóm thấp nhất =1. Gia trọng số liệu.
Nhưng điều có thể gây ngạc nhiên là mức bất bình đẳng ở nông thôn nhìn chung
cao hơn ở thành thị. Năm 1998, hệ số chênh lệch thu nhập của trung lưu trên (giai cấp
giữa trên) so với giai cấp dưới dưới ở thành thị là 12,6 còn ở nông thôn là 15,1 (Thời
điểm này không có số liệu của giai cấp trên ở nông thôn). Năm 2008, hệ số chênh lệch
giữa giai cấp trên và giai cấp dưới dưới ở thành thị là 27,5 nhưng ở nông thôn rất cao:
44,4. Năm 2018, hai con số này là 36,9 và 35,0. Nhìn vào 2018, hệ số chênh lệch của
8
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một
Số 1(50)-2021
mọi giai cấp khác ở nông thôn so với giai cấp dưới dưới đều cao hơn một chút so với ở
thành thị. Số liệu chỉ ra thực tế khác với cảm nhận thông thường cho rằng mức bất bình
đẳng thu nhập ở thành thị cao hơn ở nông thôn.
4. Kết luận
Bài viết xem xét phân tầng xã hội ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung theo
hai hướng. Một, đánh giá sự tiến hóa của tháp phân tầng xã hội, tức biến đổi trong phân
bố tỷ lệ của sáu giai cấp xã hội dựa theo thu nhập. Hai, đánh giá mức bất bình đẳng thu
nhập giữa sáu giai cấp thông qua hệ số chênh lệch so sánh với giai cấp có thu nhập bình
quân đầu người thấp nhất. Hướng thứ nhất chỉ ra xu hướng biến đổi tích cực, cơ cấu
tháp phân tầng biến đổi theo hướng đáng mong muốn. Nhưng hướng thứ hai chỉ ra xu
hướng tiêu cực, mức chênh lệch thu nhập giữa các giai cấp là cao và có xu hướng tăng
mạnh, nhất là ở giai cấp trên và giai cấp trung lưu trên.
Trong thập niên 2000, cơ cấu ba tầng xã hội theo thu nhập vùng Bắc Trung bộ và
Duyên hải miền Trung ở dạng tháp, nhưng đã thay đổi rõ rệt. Năm 1998, phần đáy gần
80%, song năm 2008 giảm còn 64%. Nó đã tiến hóa sang dạng thoi trong thập niên
2010 với phần đáy không đầy 1/3 vào năm 2018. Trong hai mươi năm, bốn giai cấp xã
hội theo thu nhập ở phía trên tháp phân tầng tăng tỷ trọng, hai giai cấp ở phía dưới giảm
tỷ trọng. Tiến bộ rõ rệt hơn cả là ở trung lưu dưới và giai cấp dưới dưới. Trong giai
đoạn 1998-2018, tỷ lệ giai cấp trung lưu dưới tăng 6,7 lần, tỷ lệ giai cấp dưới dưới giảm
6,8 lần. Tiến hóa của tháp phân tầng xã hội ở nông thôn chậm hơn ở thành thị khoảng
mười năm. Trong thập niên 2000 nó còn ở dạng tháp, đến 2018 đạt được hình thoi,
nhưng phần đáy vẫn còn lớn, gần 40%. Tiến bộ thấy rõ ở nông thôn chủ yếu ở trung lưu
dưới và giai cấp dưới dưới. Sau 20 năm, tỷ lệ trung lưu dưới ở nông thôn tăng 7,6 lần và
giai cấp dưới dưới giảm 5,7 lần.
Mức bất bình đẳng thu nhập ở vùng này cuối thập niên 1990 đã rất cao (31 lần
giữa giai cấp cao nhất và thấp nhất), mức này không thay đổi trong thập niên 2000, và
đạt mức cao mới cuối thập niên 2010 (39 lần). Năm 2018, nhìn chung thu nhập bình
quân của một giai cấp có hệ số gấp đôi so với giai cấp bậc dưới mình, nhưng mức thu
nhập bình quân của giai cấp trên gấp 2,8 lần so với giai cấp giữa trên ngay dưới nó.
Nhìn chung, thu nhập bình quân của các giai cấp xã hội ở thành thị cao hơn ở nông
thôn. Nhưng hệ số chênh lệch thu nhập giữa các giai cấp ở nông thôn lại có xu hướng
cao hơn ở thành thị.
Kết quả phân tích ở bài này trùng với kết quả nghiên cứu ở một số công trình
chúng tôi mới công bố (Bùi Thế Cường, 2020; Bùi Thế Cường & Trương Sĩ Ánh,
2020), gợi ý trong thời gian tới cần một cam kết chính sách mạnh hơn để kiểm soát mức
bất bình đẳng giữa các giai cấp xã hội.
9
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Thế Cường (2019). Nghiên cứu cơ cấu giai tầng xã hội Việt Nam thập niên 1980. Tạp
chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 12(256), 26-36. Viện Khoa học xã hội vùng
Nam Bộ.
[2] Bùi Thế Cường (2020). Giai cấp trung lưu và công nhân lao động Vùng Kinh tế trọng điểm
phía Nam thập niên 2000. Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 8(264), 24-41.
Thành phố Hồ Chí Minh: Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
[3] Bùi Thế Cường & Trương Sĩ Ánh (2020). Giai tầng xã hội dựa trên thu nhập ở Việt Nam,
1998-2018. Tạp chí Xã hội học, 2(150), 20-30. Viện Xã hội học Hà Nội.
[4] Chu, Ly (2018). The Quest for Research on Social Class in Contemporary Vietnam:
Overview of Current Approaches and Suggestions for Considering Pierre Bourdieu’s
Theoretical Framework. Journal of Vietnamese Studies, 13(1), 42-79, Winter.
[5] Ngân hàng Thế giới (1995). Việt Nam: Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược. Ngân hàng thế
giới, Hà Nội.
[6] Ngân hàng Thế giới (2020). Báo cáo phát triển Việt Nam 2019. Việt Nam – Kết nối vì phát
triển và thịnh vượng chung. Ngân hàng thế giới, Hà Nội.
[7] Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam (2016). Việt Nam 2035: Hướng tới
thịnh vượng, sáng tạo, công bằng, và dân chủ. Ngân hàng Thế giới, Washington DC.
[8] Oxfam (2018). Dịch chuyển xã hội và bình đẳng cơ hội tại Việt Nam: Xu hướng và các yếu
tố tác động. Nxb. Hồng Đức.
[9] Savage, Mike (2016). The fall and rise of class analysis in British sociology, 1950-2016.
Tempo social, revista de sociologia da USP, 28(2), 57-72.
[10]Savage, Mike, Fiona Devine, Niall Cunningham, Mark Taylor, Yaojun Li, Johs
Hjellbrekke, Brigitte Le Roux, Sam Friedman, & Andrew Miles (2013). A New Model of
Class Analysis? Findings from the BBC’s Great British Class Survey Experiment.
Sociology, 47(2), 219-250. SAGE.
[11]Savage, Mike, Fiona Devine, Niall Cunningham, Sam Friedman, Daniel Laurison, Andrew
Miles, Helene Snee, & Mark Taylor (2015a). On Social Class, Ano 2014. Sociology, 49(6),
1011-1030. SAGE.
[12]Savage, Mike, Niall Cunningham, Fiona Devine, Sam Friedman, Daniel Laurison, Lisa
McKenzie, Andrew Miles, Helene Snee, & Paul Wakeling (2015b). Social Class in the 21st
Century: A Pelican Introduction. Pelican an imprint of Penguin Books.
[13]Tan, Ern Ser (2004). Does Class Matter? Social Stratification and Orientations in
Singapore. World Scientific Publishing Co. Pte. Ltd.
[14]Tan, Ern Ser (July, 2015). Class and Social Orientations: Key Findings from the Social
Stratification Survey 2011. IPS Exchange, Number 4, National University of Singapore.
10
Bạn đang xem tài liệu "Giai cấp xã hội dựa theo thu nhập ở Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, 1998-2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_cap_xa_hoi_dua_theo_thu_nhap_o_bac_trung_bo_va_duyen_ha.pdf

